MỤC LỤC
I. HIỂU BIẾT VỀ ĐỊNH KIẾN GIỚI
1. Khái niệm định kiến giới
Có thể nói, định kiến xã hội tạo nên một sự phân biệt xã hội. Đó là
sự thay đổi hình ảnh của chính mình hoặc làm méo mó, biến dạng về bản
thân khiến chủ thể mang định kiến có sự đánh giá lạc hướng về mình, tạo
nên một sự phân biệt ứng xử với người khác; hoặc đánh giá những phẩm
chất hay ứng xử của người khác tùy theo những mong đợi của chúng ta và
tạo ra sự biện minh xã hội (tạo cho chủ thể mang định kiến sự yên tâm và
giúp họ tự bảo toàn, cũng như nâng cao được giá trị của mình).
Định kiến giới cũng vậy, nó có thể làm phụ nữ hay nam giới đánh
giá không đúng hình ảnh bản thân mình cũng như đánh giá sai người khác.
Định kiến giới làm đơn giản hóa quá trình nhận thức của con người về giới
khác, ngăn cản hiểu biết chính xác những người không cùng giới tính với
mình. Có thể hiểu một cách nôm na, định kiến giới là định kiến xã hội dựa
trên cơ sở giới tính (định kiến của xã hội đối với nam giới hoặc nữ giới).
Trong một xã hội vẫn còn tồn tại bất bình đẳng đối với phụ nữ thì định kiến
giới được hiểu ngầm ẩn là định kiến đối với phụ nữ. Sau đây là một số
khái niệm về định kiến giới được đưa ra trong các tài liệu về giới.
- Định kiến giới là suy nghĩ mà mọi người có về những gì phụ nữ và
nam giới có khả năng và hoạt động mà họ có thể làm.
- Định kiến giới là tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, cộng
đồng cụ thể coi là thuộc tính của phụ nữ hoặc nam giới (ví dụ: nội trợ
không phải việc của đàn ông). Các định kiến giới thường không phản ánh
đúng khả năng thực tế của từng giới mà thường giới hạn những gì mà xã
hội cho phép hoặc mong đợi các cá nhân thực hiện.
- Định kiến giới là các giả định hay lòng tin được thể hiện mà không
có nguyên nhân hay công lý hay nói chung là không có lợi và có thể dẫn
đến gây hại có thể chất lẫn tâm lý cho phụ nữ và nam giới.
- Định kiến giới là việc nhìn nhận không đúng về khả năng của nam
giới hoặc nữ giới; về tính cách mà nam hoặc nữ nên có; về loại hình hoạt
trường hợp này họ không hè kém khả năng so với ứng viên nam. Kết quả là
người phỏng vấn đã khiến ứng viên nữ hành động theo cách phù hợp với
những định kiến của người phỏng vấn rằng phụ nữ có trình độ kém hơn
nam trong quản lý một công ty tin học.
Thứ tư, vì định kiến giới là một kiểu thái độ nên không phải định
kiến lúc nào cũng được phản ánh công khai trong hành động. Trong rất
nhiều trường hợp cá nhân mang định kiến nhận ra rằng mình không thể
biểu lộ nó một cách trực tiếp, do có rất nhiều lý do ngăn cản họ thực hiện
điều này một cách rộng rãi. Ví dụ như các luật lệ, áp lực xã hội, nỗi sợ hãi
bị trả thù hoặc sợ bị người khác đánh giá về nhân cách. Những “rào cản”
này làm cho không ít cá nhân mang định kiến chỉ dám bày tỏ thái độ của
mình mà không thể hiện hành vi định kiến đối với đối tượng họ muốn
chống đối – dù là có ý thức hay vô thức. Nhưng khi không còn những rào
cản và sự kiềm tỏa như vậy thì những niềm tin, cảm giác tiêu cực thắng thế
và nó được thể hiện một cách công khai và trở thành sự phân biệt đối xử.
Có thể thấy, về nội dung, định kiến giới được xem là một trong
những biểu hiện của bất bình đẳng giới. Mặt khác, về chức năng, định kiến
giới có chức năng xác lập và duy trì những bất bình đẳng giới trong thực tế.
Định kiến giới ban đầu có thể xuất phát từ một nhận xét hoặc quan niệm về
một sự việc, hiện tượng thực tế nào đó. Định kiến giới trở thành sâu sắc
3
hơn khi hiện tượng thực tế đã biến đổi nhưng những niềm tin, những khuôn
mẫu về giới vẫn giữ nguyên – trở thành những quan niệm hay chuẩn mực
cứng nhắc, không phản ánh đúng thực tế đang diễn ra.
3. Những hình thức biểu hiện của định kiến giới
3.1. Văn học dân gian: phía sau giá trị văn hóa là những định kiến
giới
Những giá trị văn hóa dân tộc tốt đẹp thường được lưu truyền lại
trong văn học dân gian, dưới các hình thức như ca dao, tục ngữ, truyện ngụ
ngôn, truyện cổ tích, những tích tuồng, những câu hát ví… Đằng sau những
đó, người phụ nữ được nhắc đến với những “tính xấu” đa dạng hơn nhiều:
“nỏ” mồm, lẳng lơ, hay ăn vụng, không chồng mà chửa, lười nhác, không
biết đẻ còn, không biết dạy con, không biết lo việc nhà, không hiếu thuận
với cha mẹ chồng… Tất nhiên vấn đề cần bàn không chỉ là sự tồn tại của
một số câu ca dao mang những khuôn mẫu giới mà là khi người ta sử dụng
nó để "chỉ trích” một ai đó theo những khuôn mẫu giới này. Trong thực tế,
các câu dao luôn là lời “trích dẫn” có ‘trọng lượng” để nhận xét về hành
động của một người nam giới hay phụ nữ.
Những hình mẫu giới bắt gặp trong các câu hát ru, các câu ca dao đã
phản ánh thực tế của những thế kỷ trước. Giờ đây, trước những biến
chuyển xã hội, những hình mẫu này đã không còn phù hợp và ít nhiều gây
bất lợi trong việc hình thành các vai trò giới nhất là với trẻ nữ. Ảnh hưởng
của những khuôn mẫu giới tiêu cực là không thể tránh khỏi. Những khuôn
mẫu giới trong quá khứ không chỉ ảnh hưởng đến trẻ nhỏ mà chắc chắn còn
góp phần duy trì, củng cố niềm tin dập khuôn của người lớn.
3.2. Báo in: Một sự duy trì định kiến giới hợp pháp
Một trong những nhóm người tiếp cận đầu tiên với vấn đề giới ở
Việt Nam phải kể đến là các nhà báo. Vì vậy, về mặt lí thuyết họ là và cần
là những người nắm bắt tốt các trào lưu phát triển vấn đề giới ở Việt Nam.
Tuy nhiên, trong những thực tế còn rất nhiều những định kiến giới được
duy trì trong nội dung các bài báo. Có hai lý do chính cho tình trạng này.
Thứ nhất, nhiều người vẫn còn những niềm tin sai lầm khi tách biệt
vai trò của phụ nữ, đâu là vai trò của nam giới. Đây là thực tế không tránh
5
khỏi, khi các khuôn mẫu giới hầu như là “vô hình” bởi chúng ta đã quá
quen với nó.
Thứ hai, quá nhiều bài viết về vai trò của phụ nữ và nam giới đăng
trong những số báo là của những tác giả không chuyên về lĩnh vực giới và
thực tế việc tiếp cận với vấn đề giới còn nhiều hạn chế. Dù vì lí do gì, vấn
đề giới và phát triển vẫn cần được quan tâm hơn nữa trong lĩnh vực báo