BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHAN XUÂN BÁCH
QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG TỪ NGUỒN VỐN
NGÂN SÁCH TỈNH ĐẮK LẮK Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã ngành: 60.31.05
TÓM TẮT LUẬN VĂNTHẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng - Năm 2015
Công trình đã được hoàn thành tại
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đắk Lắk là một trong 5 tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, nằm ở khu vực
trung tâm của vùng. Phía Bắc giáp với tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm
Đồng, phía Tây Nam giáp tỉnh Đắk Nông, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và
Khánh Hòa, phía Tây giáp với Vương quốc Cămpuchia.
Tỉnh Đắk Lắk có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng nối liền với
các tỉnh trong vùng Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Có quốc lộ 14 chạy
xuyên dọc tỉnh, nối Đắk Lắk với Gia Lai (phía Bắc) và với Đắk Nông (phía
Nam); quốc lộ 26 nối tỉnh với thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và quốc lộ
27 đi thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng là hai trung tâm du lịch lớn của cả nước.
Mạng giao thông liên vùng đó là điều kiện cho Đắk Lắk mở rộng giao lưu với
các tỉnh trong vùng Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung, miền Đông Nam bộ
và cả nước, tăng cường khả năng liên kết, hợp tác giữa Đắk Lắk với các tỉnh về
mở rộng thị trường và hợp tác kinh tế.
Việc sử dụng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho đầu tư cơ sở
hạ tầng giao thông chiếm tỷ trọng đầu tư lớn so với các ngành lĩnh vực khác,
nhưng lại còn nhiều tồn cần phải khắc phục. Ngay từ khâu lập quy hoạch, thiết
kế, đấu thầu, thi công và quản lý đầu tư xây dựng… hiệu quả của việc đầu tư
mang lại chưa cao, thất thoát, lãng phí nguồn vốn ngân sách nhà nước vẫn còn
tiếp diễn. Làm thế nào để quản lý đầu tư xây dựng đem lại hiệu quả kinh tế -xã
hội cao hơn trong tình hình nguồn vốn ngân sách nhà nước rất hạn chế, đặc biệt
đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, sử dụng đúng mục
tiêu đối với các khoản đóng góp từ nguồn thu của nhân dân cho mục đích phát
triển kinh tế - xã hội là vấn đề cần giải quyết của tỉnh Đắk Lắk trong thời gian
tới. Đề tài “ Quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông từ nguồn vốn
ngân sách tỉnh Đắk Lắk ” được giải quyết sẽ góp phần nâng cao hiệu quả
nguồn đầu tư này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Khái quát lý luận về quản lý đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách
đầu tư đối với phát triển kinh tế, đưa ra các giải pháp cần thiết trong quản lý đầu
tư, quản lý vốn ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển kinh
tế - xã hội. Tuy nhiên, đối với công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
giao thông chưa được đi sâu vào nghiên cứu riêng đối với một chuyên ngành cụ
3
thể. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa hết sức cần thiết về cả mặt lý
luận và thực tiễn.
6. Điểm mới của luận văn
Chỉ ra các vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý đầu tư hiện hành để
làm cơ sở cho các nhà kinh tế có những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
quản lý đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Về mặt thực tiễn công tác quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông từ
nguồn vốn ngân sách tỉnh sẽ giúp chúng ta khắc phục những tồn tại, nhằm đạt
được hiệu quả cao hơn.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
được cấu trúc thành ba chương như sau:
Chương 1 – Lý luận về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông và quản
lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông từ nguồn vốn vốn ngân sách
nhà nước.
Chương 2 – Thực trạng quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông từ nguồn
vốn ngân sách của tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3 – Các giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng giao
thông từ nguồn vốn ngân sách của tỉnh Đắk Lắk.
4
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CSHTGT VÀ QUẢN LÝ
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CSHTGT TỪ NGUỒN VỐN
NSNN, nên giải pháp xã hội hóa luôn được quan tâm. Nhưng để thu hút và kêu
gọi các nhà đầu tư khác thì nguồn đầu tư từ NSNN là một khoản đầu tư đối ứng,
nhằm kích thích các nhà đầu tư khác.
(3) Đầu tư của ngân sách nhà nước góp phần tăng tích lũy
Đầu tư từ nguồn vốn NSNN sẽ làm gia tăng số lượng và chất lượng tài
sản cố định, gia tăng giá trị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Sự tăng
lên về số lượng và chất lượng của hàng hoá công này là cơ sở và nền tảng cho
sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế quốc dân trên các mặt: Nhằm phát
triển các ngành, các lãnh vực, các vùng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia; nâng
cao chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; thúc đẩy sự phát
triển của các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài và
tạo động lực, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CSHTGT TỪ NGUỒN VỐN NSNN
1.2.1 Khái niệm quản lý đầu tư CSHTGT từ nguồn vốn NSNN
- Quản lý đầu tư xây dựng CSHTGT là các hoạt động chấp hành và điều
hành công tác đầu tư xây dựng CSHTGT có tính tổ chức; được thực hiện trên
cơ sở và để thi hành các quy định của pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ
yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.
- Nguồn vốn NSNN đầu tư xây dựng CSHTGT: Ngân sách nhà nước gồm
ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương được sử
dụng nguồn thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương để cân đối thu,
chi ngân sách cấp mình, bảo đảm các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh.
* Công tác lập kế hoạch đầu tư: Sở kế hoạch đầu tư phải xác định cụ thể
danh mục đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư của các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách
nhà nước. Nhà nước quản lý chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch đầu tư phù hợp với quy
hoạch, kế hoạch, cơ cấu ngành vùng. Với các công trình, dự án quan trọng quốc gia
trong kế hoạch hàng năm và từng thời kỳ phát triển thi do Quốc hội quyết định: Thủ
tướng Chính phủ duyệt mục tiêu,tổng mức vốn đầu tư để bố trí kế hoạch cho các bộ,
địa phương thực hiện.
ngày 12/02/2009 của Chính phủ.
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công theo quy định tại Điều 20,
21, Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2012 của Chính phủ.
7
(3) Quản lý công tác đấu thầu
Việc lập, thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu (hoặc
hồ sơ yêu cầu), đánh giá hồ sơ dự thầu (hoặc hồ sơ đề xuất) và kết quả đấu thầu
(hoặc kết quả chỉ định thầu) tuân thủ theo quy định của pháp luật về đấu thầu
như: Luật Đấu thầu, Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính
phủ, …và các mẫu hướng dẫn do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành.
1.2.4. Lập và thực hiện kế hoạch vốn NS đầu tư xây dựng CSHTGT
Kế hoạch vốn ngân sách cho CSHTGT là kế hoạch giao vốn để thực hiện
cho từng dự án đầu tư được cấp thẩm quyền phê duyệt theo từng thời kỳ như: kế
hoạch ngắn hạn (một năm), kế hoạch trung hạn (ba năm), kế hoạch dài hạn (năm
năm). Kế hoạch vốn ngân sách cho CSHTGT thể hiện đầy đủ nội dung để làm
công cụ quản lý hoạt động đầu tư và quản lý giải ngân. Kế hoạch vốn ngân sách
cho CSHTGT tỉnh phản ánh khả năng huy động, bố trí sử dụng từ nguồn vốn ngân
sách tỉnh, theo tiến độ thời gian và từng dự án hoặc hạng mục công trình cụ thể.
1.2.5. Quản lý chất lượng đầu tư CSHTGT từ nguồn vốn NSNN
Việc tổ chức quản lý chất lượng thi công xây dựng theo Nghị định số
15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ, theo đó quá trình này bao gồm:
(1) Quản lý khảo sát và thiết kế xây dựng công trình
Chủ đầu tư tự thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân có chuyên môn phù
hợp với loại hình khảo sát để thực hiện giám sát công tác khảo sát xây dựng, Vì đối
với các dự án đầu tư CSHTGT có vị trí xây dựng trãi dài theo tuyến, trên địa hình
thay đổi, nếu không giám sát kỹ ở khâu khảo sát, dẫn đến số liệu tự nhiên khác thực
tế, làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng ở bước thiết kế và thi công.
(2) Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình
Chủ dầu tư xây dựng công trình phải tổ chức giám sát thi công xây
phải bố trí người hướng dẫn, cảnh báo đề phòng tai nạn có thể xảy ra.
(7) Quản lý môi trường xây dựng công trình
Nhà thầu thi công xây dựng phải thực hiện các biện pháp đảm bảo về môi
trường cho người lao động trên công trường và bảo vệ môi trường xung quanh
công trường xây dựng, bao gồm có biện pháp chống bụi, chống ồn, xử lý phế
thải và thu dọn hiện trường. Đối với những công trình xây dựng trong khu vực
đô thị còn phải thực hiện các biện pháp bao che, thu dọn phế thải để đưa đến nới
9
quy định. Trong quá trình vận chuyển vật liệu và phế thải phải có biện pháp che
chắn đảm bảo an toàn, vệ sinh môi trường.
1.2.6. Thực hiện công tác giám sát và đánh giá đầu tư
Giám sát, đánh giá đầu tư là hoạt động theo dõi, kiểm tra và đánh giá mức
độ đạt được của quá trình đầu tư so với yêu cầu và mục tiêu đầu tư. Giám sát,
đánh giá đầu tư gồm giám sát, đánh giá dự án đầu tư và giám sát, đánh giá tổng
thể đầu tư, được quy định tại Nghị định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009
của Chính phủ.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CSHTGT TỪ NGUỒN VỐN NSNN.
1.3.1. Đặc điểm tự nhiên của địa phương
Tỉnh Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở Cao nguyên phía tây miền Trung của
Việt Nam, có diện tích tự nhiên là 13.125 km2 và dân số gần 1,8 triệu người. Là
một cao nguyên thấp, độ cao trung bình khoảng 500 mét so với mặt nước biển,
là vùng đất tương đối bằng phẳng, đôi chỗ hơi lượn sóng và bị chia cắt bởi
những thung lũng, sông suối. Vì vậy nhu cầu đầu tư xây dựng CSHTGT nhiều
hơn và chi phí đầu tư cũng rất lớn.
1.3.2. Tình hình phát triển kinh tế -xã hội của địa phương
Sự phát triển kinh tế - xã hội sẽ tăng nhu cầu đầu tư xây dựng SCHTGT
đồng bộ và có chất lượng, để cung cấp dịch vụ đáp ứng yêu cầu vận chuyển
hàng hóa, đi lại an toàn của cộng đồng doanh nghiệp và của nhân dân. Mặt khác,
2.1.1. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Đắk Lắk ảnh hưởng tới đầu tư
CSHTGT từ nguồn vốn NSNN
a. Vị trí địa lý
Tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên là 1.306.201 ha, phía Bắc giáp tỉnh
Gia Lai, phía Đông giáp Phú Yên và Khánh Hoà, phía Nam giáp Lâm Đồng và
Bình Phước; phía Tây giáp Campuchia với đường biên giới dài 193 km. Độ cao
trung bình 400 – 800 m so với mặt nước biển.
b. Đặc điểm địa hình
Với địa hình của tỉnh Đắk Lắk có sự xen kẽ giữa các địa hình thung lũng,
cao nguyên xen giữa núi cao và núi cao trung bình, có hướng thấp dần từ Đông
Nam sang Tây Bắc, địa hình núi cao phân bố ở phía Đông Nam, có độ cao từ
1000 - 1500 m, chiếm 25% diện tích toàn tỉnh. Dãy núi cao nhất là dãy Chư
11
Yang Sin với ngọn cao nhất tới 2.445 m. Vùng núi thấp, trung bình Chư Dơ Jiu:
nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh, độ cao trung bình 600 - 700 m (đỉnh Chư Dơ Jiu
cao 1.103m), chiếm 10% diện tích toàn tỉnh.
c. Khí hậu
Khí hậu tỉnh Đắk Lắk vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm,
vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng. Khí hậu có 2 mùa rõ rệt:
mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung
90% lượng mưa hàng năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng
mưa không đáng kể. Lượng mưa bình quân toàn vùng 1.600 - 2.000 mm, tổng
lượng nước đến lãnh thổ Đắk Lắk 20,5 tỷ m
3
nước, chuyển vào dòng chảy thuộc
lưu vực sông Sêrêpôk, sông Ba.
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk ảnh hưởng
tới đầu tư CSHTGT từ nguồn vốn NSNN
Từ năm 1995 đến năm 2004, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh thường
các lĩnh vực xây dựng, sở sở hạ tầng giao thông (tỉnh lộ, một số đường chuyên dùng),
quản lý quy hoạch giao thông; phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư thẩm định thiết kế
cơ sở đối với các dự án giao thông thuộc thẩm quyền quyết định phê duyệt của chủ
tịch UBND tỉnh Đắk Lắk; thực hiện công tác thẩm tra hồ sơ thiết kế xây dựng và kiểm
tra công tác nghiệm thu trước khi đưa công trình vào sử dụng đối với các công trình
xây dựng giao thông có quy mô tiêu chuẩn từ cấp III đến cấp II.
(4) Sở Tài chính là cơ quan chuyên môn tham mưu và giúp Ủy ban nhân dân tỉnh
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngân sách nhà nước; phối hợp với Sở kế hoạch
và Đầu tư thẩm định nguồn vốn đầu tư; tổ chức phê duyệt quyết toán dự án đầu tư.
(5) Kho Bạc nhà nước tỉnh là cơ quan chuyên môn tham mưu và giúp
Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kiểm soát chi
vốn NSNN; phối hợp với Tài Chính, Sở kế hoạch và Đầu tư triển khai kế hoạch
vốn NSNN hàng năm, thực hiện công tác tạm ứng vốn NSNN
(6) Ủy Ban nhân dân cấp huyện phối hợp với các Sở ngành liên quan tổ
chức thẩm định và phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công, đăng lý kế hoạch đầu tư,
tổ chức lựa chọn nhà thầu, kiểm tra tiến độ thi công, quản lý chất lượng công
trình, tổ chức nghiệm thu, trình phê duyệt quyết toán, đề xuất bố trí vốn…
* Cơ chế quản lý đầu tư CSHTGT:
Về quy chế Quản lý đầu tư của Chính phủ ban hành các Nghị định: số
52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999, số 12/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000, số
13
07/2003/NĐ-CP ngày 30/01/2003, số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 về quản
lý dự án đầu tư xây dựng công trình; số 83/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 về sửa
đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư
xây dựng công trình; số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 về quản lý chi phí
đầu tư xây dựng công trình, số 48/2010/NĐ-CP ngày 07/5/2010 về hợp đồng
trong hoạt động xây dựng.
2.2. TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ CSHTGT TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
TỈNH ĐẮK LẮK
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP; Chỉ thị 2178/CT-
TTg ngày 02/12/2010 về việc tăng cường công tác quy hoạch
b. Công tác quản lý quy hoạch.
Nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch như: Tất cả các công trình xây
dựng phải tuân thủ chỉ giới đường đỏ và chỉ giới xây dựng; Việc sử dụng vỉa hè và
lòng đường ngắn hạn và dài hạn phải được cấp có thẩm quyền cho phép; Tất cả các
công trình kỹ thật hạ tầng trước khi thi công phải có phương án thiết kế được duyệt
và được cơ quan quản lý chuyên ngành nhất trí. Cấm mọi hành vi xâm phạm các
tuyến kỹ thuật; các dự án đầu tư CSHTGT đảm bảo đúng với quy hoạch…
c. Những hạn chế trong công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch.
(1) Việc lồng ghép các quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch xây dựng, quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ chưa gắn kết
được với nhau và quy hoạch vùng chưa gắn kết với quy hoạch chung của tỉnh.
(2) Chất lượng một số dự án quy hoạch chưa cao, chưa có tầm nhìn xa, còn
mang tính xử lý tình thế, nhu cầu đến đâu phát triển đến đó, quy hoạch chưa gắn kết
với khả năng huy động vốn để nâng cao hiệu quả sử dụng và tiết kiệm vốn đầu tư.
(3) Quy hoạch chưa được thường xuyên cập nhật, bổ sung và điều chỉnh kịp
thời, do đó, một số quy hoạch bị lạc hậu với tình hình thực tiễn, không đáp ứng
yêu cầu, không có căn cứ để xây dựng kế hoạch. Một số quy hoạch lập trên cơ
sở kế thừa tài liệu của các quy hoạch đã được phê duyệt. Đầu tư cho công tác
điều tra cơ bản còn hạn chế, công tác dự báo yếu kém, thông tin phục vụ nghiên
cứu và xây dựng quy hoạch thiếu, chất lượng chưa bảo đảm.
(4) Trình độ cán bộ tư vấn và quản lý quy hoạch còn thấp, chưa đáp ứng
được yêu cầu đổi mới. Số doanh nghiệp tư vấn trong lĩnh vực này phần lớn năng
lực tư vấn không cao, dẫn đến tình trạng chất lượng dự án quy hoạch thấp.
15
(5) Bộ máy quản lý quy hoạch chưa đảm bảo, công tác quản lý quy hoạch
xây dựng CSHTGT còn kém, nên công tác đền bù, giải phóng mặt bằng nhiều
nơi rất phức tạp. Chưa đảm bảo tiến độ thời gian theo yêu cầu so với nhiệm vụ
Đối với công tác đấu thầu: Từ năm 2004-2009, công tác đấu thầu tuân thủ
theo các quy định của pháp luật như các Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày
01/09/1999, số 14/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000, số 66/2003/NĐ-CP ngày
12/6/2003, số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006, số 58/2008/NĐ-CP ngày
05/5/2008 của Chính phủ về công tác đấu thầu.
d. Những hạn chế trong công tác quản lý chuẩn bị đầu tư
(1) Việc phân cấp quản lý, công tác lập hồ sơ dự án, khảo sát, lựa chọn tư
vấn lập dự án hiệu quả chưa cao: Lập hồ sơ dự án, nhiều dự án đầu tư có vị trí
xây dựng chưa phù hợp với quy hoạch tổng được phê duyệt, phương án thiết kế
cơ sở chưa phù hợp với nhu cầu sử dụng thực tế, có phương án thiết kế vượt quá
nhu cầu thực tế, gây lãng phí; hiện có nhiều dự án đơn vị tư vấn khảo sát không
đầy đủ, chưa phản ánh đúng địa hình, địa chất của công trình, nên thiết kế không
phù hợp…; nhiều đơn vị tư vấn được thành lập nhưng không đủ năng lực thiết
kế, chất lượng đội ngũ kỹ sư còn yếu và thiếu kinh nghiệm…;
(2) Về quản lý việc lập, thẩm định dự án đầu tư, báo cáo kinh tế kỹ thuật,
thiết kế-dự toán chưa tốt ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư: Hồ sơ dự án đầu tư, báo
cáo kinh tế kỹ thuật đầu tư xây dựng công trình còn chưa thực hiện tốt các nội
dung chính như: mục tiêu đầu tư, sự cần thiết đầu tư, phương án thiết kế, kết
cấu ; hồ sơ thiếu chuẩn xác, hay tính thừa khối lượng, sai định mức làm tăng
chi phí, nhiều công trình có sai sót phải sửa đi sửa lại.
(3) Những hạn chế trong công tác quản lý đấu thầu dự án tác động không
nhỏ tới chất lượng thực hiện dự án: Một số chủ đầu tư thực hiện không đúng thủ
tục như ký hợp đồng tư vấn lập dự án nhưng không có quyết định chỉ định thầu;
thành viên Tổ chuyên gia xét thầu chưa có đầy đủ giấy chứng nhận bồi dưỡng
nghiệp vụ đấu thầu; năng lực chuyên môn của tổ chuyên gia xét thầu còn yếu;
còn sử dụng chung một tổ chuyên gia cho tất cả các gói thầu có tính chất kỹ
thuật khác nhau …
2.3.3. Thực trạng lập và thực hiện kế hoạch vốn NS cho xây dựng
CSHTGT
Tình hình quản lý , huy động nguồn vốn trong những năm qua cũng đã đạt
vốn từ công trình dự án không giải ngân hết sang các dự án còn thiếu vốn có
điều kiện để giải ngân chưa được chú trọng, các dự án chậm làm thủ thục giải
ngân, hoặc vướng mắc giải phóng đền bù
18
2.3.4. Thực trạng quản lý chất lượng đầu tư xây dựng CSHTGT từ
nguồn vốn NSNN
Công tác quản lý chất lượng đầu tư CSHTGT từ nguồn vốn NSNN vẫn
còn những hạn chế như:
(1) Vẫn còn tình trạng việc giám sát trong quá trình thi công sơ sài, công
tác nghiệm thu khối lượng thiếu chặt chẽ tạo điều kiện cho đơn vị thi công lập
khống khối lượng thanh toán chạy theo tiến độ giải ngân, việc thi công khối
lượng xây lắp công trình có những nội dung sai khác nhưng không được phát
hiện, điều chỉnh kịp thời.
(2) Về đánh giá chất lượng: Hoạt động kiểm tra, kiểm định, chứng nhận
an toàn chịu lực, chứng nhận sự phù hợp chất lượng công trình chưa thực hiện
đầy đủ các nội dung theo quy định.
(3) Về công tác quản lý khối lượng, thanh quyết toán một số hạng mục
công trình chưa chặt chẽ như: Một số khối lượng, nội dung công việc trong
quyết toán còn tính trùng lắp, tính dư không phù hợp với bản vẽ thiết kế và bản
vẽ hoàn công; một số đơn giá, định mức, chế độ áp dụng phù hợp theo quy
định.
2.3.5. Thực trạng về công tác giám sát và đánh giá đầu tư
Triển khai thực hiện Nghị định số 113/2009/NĐ-CP của Chính phủ về
giám sát, đánh giá đầu tư và Thông tư số 13/2010/TT-BKH ngày 02/6/2010 của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư Quy định về mẫu báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư.
Nhìn chung, công tác giám sát đánh giá được xây dựng cơ bản đi sâu vào các
nội dung cụ thể như thẩm định, phê duyệt dự án, thiết kế, đấu thầu… nên việc
đánh giá tổng thể về đầu tư cho cả địa bàn tỉnh cơ bản đầy đủ nội dung yêu cầu.
Bên cạnh những mặt tích cực trong công tác giám sát, đánh giá đầu tư thì
xã hội.
b. Mục tiêu cụ thể
- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2011 – 2015 đạt
khoảng 12% - 12,5% và giai đoạn 2016 – 2020 đạt khoảng 12,5% - 13%;
3.1.2. Định hướng và mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng giao thông của
tỉnh đến năm 2020
a. Định hướng
20
Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông một cách đồng bộ, có trọng tâm
trọng điểm, vừa có bước đi phù hợp vừa có bước đột phá theo hướng hiện đại
tạo nên mạng lưới hoàn chỉnh, liên hoàn, liên kết giữa các phương thức vận tải,
giữa các vùng lãnh thổ, giữa đô thị và nông thôn trên phạm vi toàn tỉnh.
b. Mục tiêu
Phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông, đảm bảo tính kế thừa, khả
thi, linh hoạt, đáp ứng nhu cầu vận tải ở từng thời kỳ, trên khắp địa bàn tỉnh
mang lại hiệu quả kinh tế xã hội và bảo vệ quốc phòng an ninh. Từ nay đến năm
2020 tiếp tục củng cố, khôi phục, nâng cấp các công trình giao thông đường bộ
hiện có, hoàn chỉnh mạng lưới, xây dựng một số công trình có yêu cầu cấp thiết,
đảm bảo mật độ mạng lưới đường trên 1,0 km/km2.
3.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ
TẦNG GIAO THÔNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH CỦA TỈNH
3.2.1. Hoàn thiện công tác quy hoạch đầu tư CSHTGT
Công tác quy hoạch đầu tư CSHTGT phải tuân theo những chiến lược
mang tính lâu dài, tránh chệnh hướng về định hướng phát triển không gian, định
hướng phát triển hệ thống giao thông, định hướng các cơ cấu tổ chức không
gian , gắn kết được với các quy hoạch ngành, lĩnh vực.
3.2.2. Hoàn thiện công tác quản lý chuẩn bị đầu tư CSHTGT
a. Đối phân cấp quản lý; việc lập hồ sơ dự án, khảo sát, lựa chọn tư
vấn lập dự án:
CSHTGT nhằm huy động nguồn lực
Công tác lập và thực hiện kế hoạch là yếu tố quan trọng hàng đầu là sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội ở địa
phương, trong đó vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước là rất quan trọng.
Việc tập trung cho công tác kế hoạch hoá là yếu tố hàng đầu nhằm thực hiện
phương hướng, nhiệm vụ, cơ cấu, mục tiêu, kế hoạch đề ra tạo điều kiện thuận
lợi cho việc thực hiện các dự án đầu tư.
3.2.4. Cải thiện quản lý chất lượng đầu tư xây dựng CSHTGT từ
nguồn vốn NSNN không có khả năng giải ngân trước 30/10 hàng
năm…đồng
UBND tỉnh có văn bản chấn chỉnh ngay đối với Công tác giám sát thi công,
trong đó yêu cầu Chủ đầu tư phải thuê tư vấn giám sát công trình, hoặc tự thực
22
hiện khi có đủ điều kiện năng lực hoạt động giám sát thi công. Người giám sát
phải có chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng phù hợp với công việc,
loại và cấp công trình.
3.2.5. Tăng cường công tác giám sát, đánh giá đầu tư.
Tăng cường quản lý công tác giám sát, đánh giá đầu tư đối với UBND cấp
huyện, các Chủ đầu tư triển khai thực hiện như: lập kế hoạch giám sát, kiểm tra
thực tế công trình, phân tích đánh giá, các biện pháp thực hiện, kết quản thực
hiện …theo đúng nội dung, chất lượng quy định tại Nghị định số 113/2009/NĐ-
CP ngày 15/12/2009 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư.
3.2.6. Một số giải pháp khác
UBND tỉnh chỉ đạo các Sở, Ban, ngành thực hiện tốt cơ chế phối hợp giữa
các cơ quan quản lý thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Giao cho Sở Nội vụ chủ trì tổ chức triển khai thực hiện công tác cải cách
hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước và thực thi pháp luật. Cải cách
hành chính với trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính công, đổi mới tổ chức
định. Chỉ có như vậy mới bảo đảm nâng cao hiệu quả đầu tư từ nguồn này.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Đầu tư CSHTGT từ ngân sách trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên nguồn đầu tư này có giới hạn và yêu cầu
phải quản lý một cách chặt chẽ để bảo đảm nâng cao hiệu quả đầu tư. Yêu cầu
hình thành khung lý thuyết về quản lý đầu tư từ ngân sách từ đó có cơ sở để
phân tích tình hình quản lý và kiến nghị các giải pháp một cách có hiệu quả. Các
nội dung quản lý đầu tư CSHTGT từ nguồn vốn ngân sách bao gồm: (i) quy
hoạch đầu tư; (ii) quản lý chuẩn bị đầu tư; (iii) lập và thực hiện kế hoạch; (iv)
quản lý chất lượng đầu tư; (v) giám sát và đánh giá đầu tư.
Những năm qua đầu tư CSHTGT từ ngân sách NN của tỉnh Đắk Lắk là rất
lớn, đầu tư tăng liên tục qua các năm và đóng góp lớn cho sự đổi thay của tỉnh
Đắk Lắk. Hiệu quả đầu tư vào CSHTGT trong những năm qua của tỉnh được
đánh giá khá cao nhưng việc quản lý hoạt động này còn nhiền vấn đề như: (1)
Công tác quy hoạch đầu tư chưa gắn kết, chất lượng một số dự án quy hoạch
chưa cao, chưa có tầm nhìn xa… (2) Công tác quản lý chuẩn bị đầu tư hiệu quả