Sự sáng tạo của đảng cộng sản đông dương trong lãnh đạo phong trào dân chủ, dân sinh (1936 1939) - Pdf 28


ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ HUYỀN

SỰ SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
ĐÔNG DƢƠNG TRONG LÃNH ĐẠO
PHONG TRÀO DÂN CHỦ, DÂN SINH
( 1936 – 1939)

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: Cô Khuất Thị Hoa

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN

TÁC GIẢ KHÓA LUẬN

Nguyễn Thị Huyền

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

QTCS: Quốc tế Cộng sản
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
XHCN: Xã hội chủ nghĩa

1.2.ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO DÂN CHỦ, DÂN SINH 13
1.2.1 Chủ trƣơng mới của Đảng Cộng sản Đông Dƣơng 13
1.2.2. Đảng lãnh đạo phong trào dân chủ, dân sinh 15
1.2.2.1. Lãnh đạo phong trào Đông Dƣơng đại hội 15
1.2.2.2. Lãnh đạo đấu tranh báo chí công khai 17
1.2.2.3. Lãnh đạo đấu tranh nghị trƣờng 19
1.2.2.4. Lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân 20
1.2.2.5. Lãnh đạo đấu tranh chống tờrốtkít 23

1.2.2.6. Công tác xây dựng Đảng 24
Chƣơng 2: SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƢƠNG TRONG
LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO DÂN CHỦ, DÂN SINH (1936 – 1939) 29
2.1.NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA ĐẢNG
TRONG QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO 29
2.1.1. Nguyên nhân thắng lợi 29
2.1.2 Một số hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo phong trào 31
2.2. SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG TRONG LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO
DÂN CHỦ, DÂN SINH (1936 – 1939) 33
2.2.1. Sáng tạo trong vạch ra đƣờng lối đấu tranh giành độc lập dân tộc,
mềm dẻo về sách lƣợc đấu tranh vì dân chủ, dân sinh 33
2.2.2. Sáng tạo trong lãnh đạo tập hợp, mở rộng lực lƣợng cách mạng 38
2.2.3. Sáng tạo trong sử dụng đa dạng các phƣơng pháp và hình thức đấu
tranh cách mạng trong hoàn cảnh mới 45
2.2.4. Sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo phối hợp hành động với Chính phủ
Pháp 54
2.2.5. Sáng tạo của Đảng trong công tác xây dựng Đảng 55
Chƣơng 3: Ý NGHĨA VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ 59

sản Đông Dƣơng đã đề ra 2 nhiệm vụ chiến lƣợc: Giải phóng dân tộc và dân
chủ, tiến lên thực hiện CMXHCN. Tuy vậy, tùy theo hoàn cảnh lịch sử, Đảng
có những điều chỉnh sáng tạo nhằm từng bƣớc thực hiện chiến lƣợc trên. Sự
điều chỉnh ở giai đoạn 1936-1939 là một ví dụ.
Tác động của cuộc đại khủng hoảng kinh tế (1929 – 1933) làm tình
hình chính trị thế giới có biến động sâu sắc mà việc ra đời của chủ nghĩa phát
xít và nguy cơ chiến tranh đe dọa hòa bình và an ninh toàn thế giới là nguy
hiểm nhất. Trong hoàn cảnh đó, chủ trƣơng trọng tâm của Đại hội VII Quốc tế
Cộng sản (7/1935) là giữ gìn hòa bình, thành lập Mặt trận nhân dân chĩa mũi
nhọn đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh. Cuộc Tổng tuyển
cử ở Pháp (4/1936) với thắng lợi của Mặt trận bình dân đã đƣa các lực lƣợng
cánh tả lên cầm quyền, tạo ra một chính phủ tiến bộ hiếm có trong lịch sử
nƣớc Pháp.
Theo sát tình hình, các Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng
Cộng sản Đông Dƣơng (7/1936), Hội nghị mở rộng Ban chấp hành Trung
ƣơng năm 1937 và Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng tháng 3 năm 1938 đã
tiếp tục kịp thời điều chỉnh chỉ đạo chiến lƣợc. Đảng khẳng định mục tiêu
chống đế quốc, phong kiến nhƣng đoàn kết với tất cả các lực lƣợng dân chủ,
tiến bộ đấu tranh nhằm mục tiêu trƣớc mắt là chống bọn phản động thuộc địa
và tay sai, đấu tranh đòi “tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình”, chống chiến
tranh, chống phát xít.
Dƣới sự lãnh đạo của Đảng, từ năm 1936 đến năm 1939 phong trào
đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ diễn ra sôi nổi đến trình độ cao trào
2
trong cả nƣớc và thắng lợi của nó đã ghi dấu ấn vẻ vang trong lịch sử cách
mạng Việt Nam và nhƣ Tổng Bí thƣ Lê Duẩn từng đánh giá “thật là hiếm có
ở một nước thuộc địa”. Qua lãnh đạo cao trào , Đảng đã tổng kết đƣợc nhiều

Việt Nam (1936 – 1939) của Phạm Hồng Tung (xuất bản ở Hà Nội, năm
2008). Báo chí cách mạng Việt Nam 1925 – 1945 (xuất bản ở Hà Nội, năm
1984) và Cuộc vận động Đại hội Đông Dương năm 1936 (xuất bản ở TP. Hồ
Chí Minh, năm 1985) của Nguyễn Thành. Giai cấp công nhân Việt Nam thời
kì 1936 – 1939 của Cao Văn Biền (xuất bản ở Hà Nội, năm 1979). Giai cấp
công nhân Việt Nam (tập 2) của tác giả Trần Văn Giàu (xuất bản ở Hà Nội,
năm 1962).
Về luận án Phó tiến sĩ có Một số vấn đề nông dân qua báo chí tiếng
Việt trong những năm 1936 – 1939 của Đoàn Tế Hanh.
Trên các tạp chí có các bài: Phong trào đấu tranh đòi tự do nghiệp
đoàn và ái hữu của công nhân những năm 1936 – 1939 của Nguyễn Thị
Chinh ở Tạp chí Lịch sử Đảng số 9 – 2005; Về quyết định chuyển hướng chỉ
đạo chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương trong quá trình lãnh đạo
cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939 ở Việt Nam của Phạm Hồng Tung trên
Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2 – 2006; Về thời điểm bắt đầu và kết thúc
thời kì vận động dân chủ và Mặt trận dân chủ Đông Dương của Nguyễn
Thành, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2 – 2006; Quá trình hình thành và hoàn
chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng Cộng sản
Việt Nam của Lê Thế Lạng, Tạp chí Lịch sử Đảng, 2006, số 1,2,3.
Nhƣ vậy chƣa có một công trình chuyên khảo nào về vai trò lãnh đạo
và những sáng tạo trong lãnh đạo của Đảng trong phong trào đấu tranh thời kì
1936 – 1939. Các tài liệu nêu trên là một nguồn tham khảo quan trọng mà tác
giả của khóa luận đã sử dụng để hoàn thành khóa luận.
4
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
a. Mục đích
Mục đích của khóa luận là làm rõ và phân tích hoàn cảnh lịch sử dẫn

a. Nguồn tƣ liệu
Khóa luận sử dụng các nguồn tài liệu liên quan tới đề tài gồm: các
văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các chỉ thị, Nghị quyết của
Đảng và Nhà nƣớc.
Khóa luận còn kế thừa các nguồn tƣ liệu, các kết quả nghiên cứu
khoa học đăng trên các sách chuyên khảo, bài viết, bài nghiên cứu về Đảng
lãnh đạo phong trào dân chủ, dân sinh đăng trên báo và tạp chí.
b. Phƣơng pháp nghiên cứu
Là đề tài lịch sử Đảng, tác giả đã sử dụng và kết hợp chặt chẽ
phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp logic; đồng thời sử dụng các phƣơng
pháp khác nhƣ: phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh để làm rõ sự sáng tạo
của Đảng.
5. Những đóng góp mới của khóa luận
Cái mới của đề tại là thông qua lịch sử hoạt động của Đảng thời kì
1936 – 1939 mà chỉ rõ về sự sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo các phong trào
đấu tranh dân chủ, dân sinh. Thông qua kết quả các hình thức và phƣơng pháp
đấu tranh khóa luận bƣớc đầu nêu ra các kinh nghiệm lịch sử quý giá về sự
lãnh đạo của Đảng trong phong trào 1936 – 1939. Đề tài nghiên cứu sẽ góp
phần cung cấp luận cứ khoa học cho nhận định của đồng chí Lê Duẩn về sự
lãnh đạo của Đảng ta thời kì này là “hiếm có ở một nước thuộc địa”. Đây là sự
đóng góp chung làm phong phú thêm kho tàng khoa học lịch sử Đảng.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, tài liệu tham khảo, khóa luận
đƣợc cấu trúc làm 3 chƣơng với 6 tiết.
Chƣơng 1: Quá trình Đảng lãnh đạo phong trào dân chủ, dân sinh ( 1936 –
1939).
Chƣơng 2: Sáng tạo của Đảng Cộng sản Đông Dƣơng trong lãnh đạo phong
trào dân chủ, dân sinh (1936 – 1939)
6



1.1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
1.1.1. Tình hình thế giới
Sự hình thành chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh thế giới
Tác động của cuộc đại khủng hoảng kinh tế ( 1929 – 1933) làm tình
hình chính trị thế giới có biến động sâu sắc về mọi mặt- kinh tế, chính trị, văn
hóa xã hội, trong đó sự ra đời của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh
đe dọa hòa bình và an ninh toàn thế giới là nguy hiểm nhất.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Italia, Đức, Áo, Ba Lan đã xuất
hiện nhiều trào lƣu cực hữu phản động có ảnh hƣởng ngày càng mạnh mẽ
trong một bộ phận thanh niên. Ở Đức, sự kiện Anđô Hitle – thủ lĩnh đảng
Quốc xã lên nắm quyền vào ngày 30 – 1 – 1933 mở đầu cho sự hình thành
của đế chế phát xít, lò lửa chiến tranh lớn nhất hình thành ở trung tâm Châu
Âu. Xu hƣớng cực hữu và phong trào phát xít có thể phát triển đƣợc một phần
là do các chính phủ tƣ sản ở Tây Âu muốn lợi dụng, dung dƣỡng các lực
lƣợng này, sử dụng chúng làm công cụ đắc lực để tấn công Liên Xô, đàn áp
phong trào công nhân và làn sóng cách mạng phát triển mạnh mẽ dƣới sự lãnh
đạo của Quốc tế Cộng sản. Đây chính là một chiến lƣợc chính trị nguy hiểm
mà cuối cùng sẽ đẩy toàn nhân loại đến thảm họa chiến tranh thế giới lần thứ
hai.
Một trong những cách mà các chính phủ phƣơng Tây đặt hy vọng
thoát khỏi khủng hoảng kinh tế là tăng cƣờng chạy đua vũ trang, quân phiệt
hóa nền kinh tế và toàn bộ thể chế chính trị - xã hội. Với khẩu hiệu mở rộng “
không gian sinh tồn” cho dân tộc Đức siêu việt, ngay sau khi lên nắm quyền
8
năm 1933, A.Hít – le và chính phủ Quốc xã đã dồn sức chuẩn bị cho một cuộc
“chiến tranh tổng lực” và sử dụng vũ lực tối đa tiêu diệt bất cứ lực lƣợng đối

Dƣới ảnh hƣởng của Liên Xô, Quốc tế Cộng sản đã có chủ trƣơng chuyển
hƣớng chỉ đaọ chiến lƣợc cách mạng thế giới. Theo đó, Đại hội VII của
QTCS đã diễn ra tại Mát – xcơ – va từ ngày 25 – 7 đến 28 – 8 – 1935. Đại hội
nhận định:
+ Bản chất của chủ nghĩa phát xít chính là sự tấn công tàn bạo nhất của
tƣ bản chống lại quần chúng nhân dân lao động, là chủ nghĩa sô – vanh đến
cực điểm và là chiến tranh xâm lƣợc. Vì vậy, kẻ thù trƣớc mắt của nhân dân
thế giới lúc này không phải là chủ nghĩa tƣ bản hay chủ nghĩa đế quốc nói
chung mà là chủ nghĩa phát xít.
+ Mục tiêu trƣớc mắt của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là
đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ hòa bình thế giới, ngăn ngừa nguy
cơ chiến tranh thế giới mới.
+ Đại hội VII cũng nhận định: phần lớn ở các nƣớc thuộc địa và nửa
thuộc địa, bƣớc đi đầu tiên phải là cách mạng giải phóng dân tộc, chống ách
đế quốc chủ nghĩa. Do đó cần thành lập Mặt trận thống nhất chống chủ nghĩa
đế quốc, trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân với nông dân là bộ phận
chiếm đa số trong nhân dân các nƣớc.
+ Các đảng Cộng sản ở tất cả các nƣớc phải thiết lập cho đƣợc một
liên minh dân chủ rộng rãi, cùng với mọi giai tầng tiến bộ trong xã hội đấu
tranh chống chủ nghĩa phát xít, vì tự do dân chủ cơm áo hòa bình.
Nhƣ vậy, sau 17 năm ra đời, đây là lần đầu tiên Quốc tế Cộng sản
nhận thức lại học thuyết đấu tranh giai cấp, vận dụng linh hoạt mềm dẻo hơn
cho phù hợp với yêu cầu khách quan của tình hình. Sự chuyển hƣớng chiến
lƣợc của Quốc tế Cộng sản tại Đại hội VII vừa trực tiếp tạo ra một bƣớc phát
triển mới trong phong trào cách mạng thế giới, vừa có ảnh hƣởng lớn đối với
tƣ duy của nhiều đảng Cộng sản nhƣ: đảng Cộng sản Pháp, Tây Ban Nha,
Trung Quốc, Đảng Cộng sản Đông Dƣơng…
10

Là thuộc địa của Pháp, lại bị chính quyền thuộc địa tiếp tục kéo dài
chính sách kinh tế áp dụng cho thời khủng hoảng, cho nên mặc dù từ cuối
năm 1935 nền kinh tế Đông Dƣơng có dấu hiệu hồi phục nhƣng vẫn kiệt quệ
do hậu quả của khủng hoảng kinh tế chính quốc. Đời sống của tất cả các giai
tầng trong xã đều rất khó khăn, đặc biệt là tình trạng mất đất của nông dân, kể
cả địa chủ vừa và nhỏ cũng tiếp tục bị khuynh gia bại sản. Tại vùng châu thổ
Bắc Kỳ, trong tổng số 1.933.000 suất đinh thì có tới 968.000 suất đinh không
có ruộng đất. Ở Năm Kỳ, 930 địa chủ sở hữu hơn 480.000 ha ruộng, trung
bình mỗi địa chủ sở hữu tới 530 ha ruộng. Trong khi đó 2/3 nông dân Nam
Kỳ hoàn toàn không có hoặc sở hữu rất ít ruộng đất. Ở Trung Kỳ hơn một nửa
số hộ dân hoàn toàn không sở hữu ruộng đất hoặc chỉ dƣới 0,5 ha [1, tr321].
Chính quyền thuộc địa lại liên tiếp sử dụng chính sách tài chính và
thuế để tiếp tục bóc lột tàn bạo nhân dân Đông Dƣơng. Tiêu biểu là chính
sách phá giá đồng franc của Pháp, do mệnh giá đồng bạc Đông Dƣơng gắn
chặt với mệnh giá của đồng franc. Do đó, đồng franc bị phá giá cũng có nghĩa
đồng bạc Đông Dƣơng cũng bị mất giá. Chỉ riêng với cách điều chỉnh tiền tệ
này giới tƣ bản Pháp đã có thể kiếm thêm hàng chục triệu đồng Đông Dƣơng.
Trong khi đó thì giá cả các mặt hàng sinh hoạt thiết yếu bị đẩy lên từ 20% đến
50%, thậm chí 70% đến 100%. Công chức, giáo chức cũng phải hƣởng đồng
lƣơng đã bị cắt giảm từ 30% đến 70% từ thời kỳ khủng hoảng. Mâu thuẫn
quyền lợi của một bộ phận tƣ sản và địa chủ với thực dân Pháp đã gay gắt hơn
trƣớc [2,tr.51].
Sau khủng hoảng kinh tế những giai cấp và tầng lớp kể trên đều có
nguyện vọng bức thiết chung là cần cải thiện đời sống. Yếu tố này là động lực
mạnh để phát động đông đảo quần chúng nhân dân vùng dậy đấu tranh.
Chính sách cai trị của chính quyền thuộc địa ở Đông Dương
Sau khi Chính phủ L.Blum lên cầm quyền ở Pháp, chính quyền thuộc
địa ở Đông Dƣơng cũng có một số thay đổi về nhân sự và chính sách nhƣ : ân
12

13
bố trắng của kẻ thù, Đảng chứng tỏ bản lĩnh cách mạng kiên cƣờng, chuẩn bị
điều kiện bƣớc vào cuộc đấu tranh mới.
Nhìn tổng quát, nguyên nhân dẫn đến phong trào dân chủ, dân sinh
gồm cả hai yếu tố: khách quan và chủ quan.
+ Khách quan: Dƣới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản phong trào đấu
tranh vì hòa bình, chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh lan rộng trên
toàn thế giới. Thắng lợi của Mặt trận nhân dân Pháp và sự chuyển biến trong
chích sách thuộc địa của chính phủ Pháp tạo thuận lợi cho cách mạng Đông
Dƣơng.
+ Chủ quan: Sự phục hồi của Đảng và năng lực lãnh đạo của Đảng
những năm 1936 - 1939 là nhân tố quyết định thúc đẩy phong trào. Yêu cầu
mới cho phong trào cách mạng ở Đông Dƣơng là đòi hỏi Đảng phải điều
chỉnh chủ trƣơng, đƣờng lối cho phù hợp với những diễn biến của tình hình.
1.2.ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO DÂN CHỦ, DÂN SINH
1.2.1 Chủ trƣơng mới của Đảng Cộng sản Đông Dƣơng
Trƣớc yêu cầu mới của lịch sử, nhận thức đúng đắn chủ trƣơng của
Quốc tế cộng sản và sự chuyển biến đúng trong nhận thức của Đảng về đƣờng
lối cách mạng giải phóng dân tộc, tháng 7 – 1936 Hội nghị Ban chấp hành
Trung ƣơng Đảng lần thứ II đƣợc triệu tâp tại Thƣợng Hải, dƣới sự chủ trì của
đồng chí Lê Hồng Phong, ngƣời trực tiếp tham dự Đại hội VII QTCS. Hội
nghị quyết định điều chỉnh chỉ đạo chiến lƣợc cách mạng giải phóng dân tộc
thể hiện trong tài liệu Chung quanh vấn đề chính sách mới, ban hành ngày 30
– 10 – 1936.
+ Đảng xác định cách mạng ở Đông Dƣơng vẫn là “cách mạng tƣ sản
dân quyền – phản đế và điền địa – lập chính quyền của công nông bằng hình
thức Xô viết, để dự bị điều kiện đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa ” [

Những quan điểm đó tiếp tục đƣợc khẳng định tại Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ƣơng Đảng tháng 3 và tháng 9 năm 1937; tiếp tục khẳng định
15
trong hoàn cảnh mới cần phải có các tổ chức mới để lợi dụng khả năng hoạt
động công khai và hợp pháp bằng các khẩu hiệu và hình thức thích hợp.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng tháng 3 – 1938 tiếp tục kêu
gọi các tầng lớp nhân dân thống nhất hành động đòi quyền tự do dân chủ,
chống chiến tranh đế quốc. Thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dƣơng và coi
đó là nhiệm vụ trung tâm của Đảng.
Đƣờng lối của Đảng ở thời kỳ 1936 – 1939 là kết quả của sự vận dụng
sáng tạo chủ trƣơng của Quốc tế Cộng sản vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Đƣờng lối của Đảng giải quyết đúng đắn các mối quan hệ : giữa mục tiêu
chiến lƣợc với mục tiêu cụ thể trƣớc mắt của cách mạng, giữa mục tiêu đấu
tranh với hình thức tổ chức và hình thức đấu tranh, giữa liên minh công –
nông với tập hợp lực lƣợng quần chúng rộng rãi, giữa cách mạng Đông
Dƣơng với cách mạng ở Pháp và trên thế giới. Sự chỉ đạo kịp thời và sáng tạo
của Đảng đã góp phần đƣa cách mạng Đông Dƣơng tiến những bƣớc dài trong
thời kỳ cách mạng 1936 – 1939.
1.2.2. Đảng lãnh đạo phong trào dân chủ, dân sinh
1.2.2.1. Lãnh đạo phong trào Đông Dương đại hội
Có thể khẳng định, dƣới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng
của nhân dân Việt Nam thời kỳ này diễn ra hết sức sôi động với nhiều hình
thái khác nhau. Mở đầu là phong trào “Đông Dƣơng đại hội”.
Phong trào “Đông Dƣơng đại hội” là phong trào đấu tranh tiêu biểu
cho quá trình đấu tranh trong suốt thời kỳ 1936 – 1939. Khi Quốc hội Pháp
tuyên bố cử phái đoàn điều tra sang Đông Dƣơng, Đảng Cộng sản Đông
Dƣơng chủ trƣơng phát động và tổ chức nhân dân ở tất cả các nhà máy, hầm

dân trong viện dân biểu Trung Kỳ cho rằng họ là những ngƣời duy nhất có
quyền phát biểu về “dân nguyện ”, các đảng viên đã quyết định hành động để
ngăn ngừa âm mƣu đó và bảo vệ quyền lợi của nhân dân. Ngày 20 – 9 – 1936,
các đảng viên cộng sản tổ chức một cuộc họp khác với sự tham gia của đông
đảo quần chúng lao động ở Huế và đại biểu từ 16 tỉnh Trung Kỳ, tuyên bố tẩy
17
chay Lâm thời của bọn tay sai và lập ra một Lâm ủy Trung Kỳ mới. Một số
Ủy ban hành động cũng đƣợc lập ra ở Nghệ An và một số nơi khác [7,tr.83].
Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào Đông Dƣơng đại hội đã làm cho
chính quyền thực dân ở Đông Dƣơng cũng nhƣ các thành phần bảo thủ trong
chính phủ bình dân Pháp ở Pari run sợ. Khoảng giữa tháng 9 – 1936, thực dân
Pháp quyết định dùng các biện pháp cứng rắn, kết hợp với các âm mƣu thâm
độc sử dụng tay sai bản xứ để dập tắt phong trào.
Đến tháng 9 – 1936, phong trào Đông Dƣơng đại hội bị đàn áp nhƣng
đã đạt đƣợc những kết quả to lớn. Nó đã phá tan không khí nặng nề trong thời
kỳ khủng bố sau cao trào 1930 – 1931; đã động viên đƣợc hàng triệu quần
chúng đấu tranh sôi nổi rộng khắp và chuẩn bị cho thời kỳ sau. Phong trào
này cho thấy khi chủ trƣơng, chính sách và những khẩu hiệu đấu tranh của
Đảng phù hợp với nguyện vọng bức thiết của nhân dân thì nhân dân hƣởng
ứng mạnh mẽ và nhanh chóng trở thành phong trào quần chúng rộng lớn.
Phong trào đã tạo động lực và khí thế mạnh mẽ, tạo điều kiện để Đảng ta tiếp
tục mở rộng đấu tranh hợp pháp, vì dân chủ, dân sinh.
1.2.2.2. Lãnh đạo đấu tranh báo chí công khai
Nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của báo chí trong đấu tranh cách
mạng, cùng với lãnh đạo phong trào Đông Dƣơng đại hội, Đảng đã chiếm lĩnh
mặt trận báo chí. Trong thƣ ngỏ gửi tất cả các đảng phái và các dân tộc ở
Đông Dƣơng (26 – 7 – 1936), Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản

nhà văn tiến bộ viết nhiều tác phẩm có giá trị có tính hiện thực phê phán, vạch
trần chế độ phong kiến thối nát, phản động. Rõ rệt nhƣ Tắt đèn và Việc làng
của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan…
Những cuộc đấu tranh của giới báo chí đã góp phần tích cực vào việc
hình thành mặt trận, tổ chức giáo dục nhà báo về ý thức chính trị và đấu tranh
chính trị. Nó đã góp phần vào thắng lợi căn bản trong chính sách Mặt trận của
Đảng trên lĩnh vực báo chí cũng nhƣ thức tỉnh và tập hợp đƣợc nhiều nhà báo

Trích đoạn Sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo phối hợp hành động với Chính phủ Sáng tạo của Đảng trong công tác xây dựng Đảng Đánh dấu sự trƣởng thành vƣợt bậc về mọi mặt của Đảng Cộng sản Xây dựng đƣợc một lực lƣợng cách mạng rộng lớn MỘT SỐ KINH NGHIỆM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status