TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN - CHI NHÁNH AN KHÊ
GIA LAI
Sinh viên thực hiện : Hoàng Văn Thụ
Mã sinh viên : 3454050350
Lớp : NH&KDTT 34B
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Hoàng Phong
Quy Nhơn, 3/2015
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ ( cụm từ) viết tắt Ý nghĩa
1
Agribank - Chi nhánh
An Khê Gia Lai
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Chi nhánh Thị xã An Khê Gia Lai.
2
Agribank Việt Nam
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam.
3
DC Dân cư
4 DNNN Doanh nghiệp nhà nước.
5 DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
6 DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
7 GTCG Giấy tờ có giá
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Bộ máy quản lý 43
Sơ đồ 2.2. Quy trình cho vay, tài trợ vốn Agribank - Chi nhánh An Khê Gia
Lai 49
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
rong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nhiều ngành
kinh tế, hệ thống ngân hàng thương mai Việt Nam đã có những
bước tiến to lớn. Nhiều ngân hàng thương mại được thành lập.
Trong đó, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
( Agribank) là một trong những Ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong nền
kinh tế nước nhà. Agribank là một ngân hàng thương mại đầu tiên được thành
lập tại Việt Nam, luôn phát huy được thế mạnh cũng như tạo dựng niềm tin
đối với khách hàng được tạo ra từ khi mới thành lập, đóng góp vai trò to lớn
của mình vào sự phát triển của đất nước. Sau 25 năm hoạt động, Chi nhánh đã
hỗ trợ, cho vay cũng như góp phần phát triển kinh tế tại địa bàn hoạt động, tạo
được niềm tin đối với khách hàng, luôn phục vụ tối đa mục đích của khách
hàng, nâng cao được thương hiệu “ Agibank” từ khi được thành lập cho đến
nay.
T
4
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank
VN) – Chi nhánh An Khê Gia Lai là chi nhánh đã đi vào hoạt động từ rất lâu,
nhưng vấn đề lớn nhất của chi nhánh đó là đảm bảo tăng trưởng dư nợ trong
khi vẫn đảm bảo hiệu quả cho vay với các đối tượng khách hàng khác nhau
trong đó có doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhận thức được vai trò quan trọng của
việc cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ và sau một thời gian thực
tập, khảo sát thực tế tình hình cho vay của Agribank - Chi nhánh An Khê Gia
Lai thì em đã chọn đề tài cho bài báo cáo của mình là “Phân tích hiệu quả
hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông
nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi
nhánh An Khê Gia Lai
Em xin cảm ơn Agribank - Chi nhánh An Khê Gia Lai, Giám đốc Chi
nhánh (Bà) Phạm Thị Kim Hoa đã tạo điều kiện và giúp đỡ để cho em được
thực tập tại cơ quan cũng như trong việc thu thập số liệu để phân tích. Em xin
cảm ơn đến Giáo viên hướng dẫn Th.S Nguyễn Hoàng Phong, người đã nhiệt
tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm bài báo cáo thực tập tốt nghiệp.
Em kính mong quý thầy cô đưa ra ý kiến để bài báo cáo thực tập tốt
nghiệp ngày một hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn !
Chữ ký sinh viên thực tập
( ký và ghi rõ họ tên)
Hoàng Văn Thụ
6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU
QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái quát về Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1 Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo Luật doanh nghiệp tại Việt Nam, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh
tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lời.”
Có rất nhiều cách phân loại doanh nghiệp. Nếu phân loại theo hình thức sở
hữu, ta sẽ có: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp
7
danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Còn có thể phân loại
02 năm 2013 thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được nhận dạng như sau : Doanh
nghiệp có quy mô vừa và nhỏ bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc hay
hạch toán độc lập, hợp tác xã là doanh nghiệp sử dụng dưới 200 lao động làm
việc toàn bộ thời gian trong năm và có doanh thu không quá 20 tỷ đồng.
Ngoài ra, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ
qui định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được
coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là
Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh
nghiệp vừa.
Cụ thể như sau:
Bảng 1.1. Bảng phân chia các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Nghị định
số 56/2009/NĐ-CP
10
Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp
siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng
nguồn
vốn
Số lao động
Tổng
nguồn
vốn
Số lao động
I. Nông, lâm
nghiệp và thủy
sản
đồng
Từ trên 200
đến 300
người
III. Thương mại
và dịch vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ
đồng trở
xuống
Từ trên 10
đến 50 người
Từ trên
10 tỷ
đồng đến
50 tỷ
đồng
Từ trên 50
đến 100
người
( Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ)
1.1.1.2. Các đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm số lượng đông đảo, rất đa dạng về
ngành nghề và quy mô, tuy vậy, có thể kể ra một số đặc điểm nỗi bật dễ nhận
thấy của các doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Điểm mạnh
- Quy mô vừa và nhỏ nên có tính năng động, linh hoạt
Quy mô vốn nhỏ đã tạo ra những mặt thuận lợi cho các doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Với số vốn đầu tư ban đầu nhỏ, khả năng thu hồi vốn cao do đó
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có số lao động không lớn nên mối quan hệ
giữa người quản lý và người lao động khá chặt chẽ, gắn bó, tạo môi trường
làm việc tốt.Việc tiếp xúc, gần gũi để nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của
người lao động dễ dàng, tạo điều kiện cho nhà quản lý trong việc đưa ra các
chính sách quản lý phù hợp, giúp người lao động phát huy hết được khả năng
của mình.
Hạn chế
Thứ nhất, doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vốn và khả năng tài lực
chính thấp.
Đây là đặc điểm nỗi bật nhất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các
doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vốn ban đầu thấp cho nên khả năng huy
động vốn theo đó cũng sẽ không được cao, gây khó khăn trong tiếp cận với
vay Ngân hàng. Từ vốn ban đầu thấp ảnh hưởng đến quy mô đầu tư trang
thiết bị của doanh nghiệp, khả năng đầu tư chiều sâu….và nhiều yếu tố khác.
Thứ hai, doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng những công nghệ và thiết bị
lạc hậu.
Đặc điểm trên cũng xuất phát từ quy mô vốn thấp của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Việc đầu tư công nghệ và thiết bị hiện đại cần sử dụng số vốn
lớn. Việc đầu tư nâng cấp các thiết bị máy móc đã lỗi thời cũng cần có khả
năng tài chính tốt, cho phép đầu tư lâu dài. Trong khi đó thì ở Việt Nam,
nguồn vốn đầu tư vào công nghệ là nguồn vốn mà các doanh nghiệp vừa và
nhỏ khó có khả năng tiếp cận được. Ngoài ra, để có thể thành công trong một
nền kinh tế cạnh tranh cao độ như hiện nay, các doanh nghiệp phải thường
xuyên thay đổi công nghệ, máy móc, thiết bị, các phương pháp, bí quyết sản
xuất. Thế nhưng hầu hết công nghệ đang được sử dụng trong các doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam hiện được đánh giá là lạc hậu. Đại đa số
những người chủ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa không có kiến thức, thông
tin, kinh nghiệm về những vấn đề liên quan đến lựa chọn, mua và chuyển giao
công nghệ.
13
thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở
Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 93%). Vì
thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể.
- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: Ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh
hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đóng vai trò hỗ trợ hoạt động cho các doanh
nghiệp lớn. Chi phí của các doanh nghiệp lớn có thể giảm đáng kể nếu họ biết
sử dụng một cách linh hoạt và hiệu quả các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
quá trình sản xuất. Vì thế, doanh nghiệp vừa và nhỏ được ví là thanh giảm sốc
cho nền kinh tế.
- Làm cho nền kinh tế năng động: Vì doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô nhỏ,
nên dễ điều chỉnh hoạt động. Quy mô nhỏ khiến mô hình tổ chức của doanh
nghiệp vừa và nhỏ gọn nhẹ, rất dễ thích nghi với thay đổi của thị trường, dễ
dàng chuyển đổi khi có biến động thị trường.
- Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: Doanh nghiệp vừa
và nhỏ thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp
ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
- Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở
ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có
mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân
sách, vào sản lượng và tạo nhiều công ăn việc làm ở địa phương.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo điều kiện duy trì tự do cạnh tranh trên
thị trường, tránh tình trạng độc quyền của các doanh nghiệp lớn do doanh
nghiệp vừa và nhỏ hoạt động với số lượng lớn, tham gia vào các ngành nghề
rất đa dạng. Nhìn chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ được thừa nhận là đóng
vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của các nước có nền kinh
15
tế phát triển nói chung và các nước đang phát triển nói riêng, trong đó có Việt
Nam.
rủi ro vì tính không ổn định của loại hình doanh nghiệp này, đồng thời các
hầu hết doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu ác tài sản thế chấp. Chính vì vậy nên
các Ngân hàng chưa thực sự mặn mà với đối tượng khách hàng này.
Tuy nhiên các món vay này thường nhỏ hơn các món vay của các
doanh nghiệp lớn hay các dự án đầu tư dài hạn nên nó phần nào giúp cho các
Ngân hàng phân tán được rủi ro.
Về thời hạn cho vay: Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, đời sống và các dự án đầu tư phát triển, NHTM xem xét cho
khách hàng vay theo các thể loại:
- Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng.
- Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến
60 tháng.
- Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên.
Về đối tượng cho vay: Theo quy định của NHNN, NHTM sẵn sàng đáp
ứng mọi nhu cầu vay vốn phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh, các dự án
đầu tư, tiêu dùng, phục vụ đời sống, xuất nhập khẩu, xuất khẩu lao động,…
trừ các đối tượng mà pháp luật cấm.
Về quy mô khoản vay: Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì quy
mô khoản vay không được vượt quá 70% giá trị tài sản. Ngoài ra, NHTM còn
đưa ra mức cho vay đáp ứng tối đa nhu cầu vốn của doanh nghiệp, với tổng
dư nợ ngắn hạn lên đến 5 tỷ đồng/khách hàng.
Về điều kiện cho vay:
- Đối tượng khách hàng: Các công ty cổ phần, công ty TNHH, Doanh
nghiệp tư nhân, và Hợp tác xã có tổng nguồn vốn kinh doanh không
quá 05 tỷ đồng.
- Có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, khả thi.
17
- Có tình hình tài chính rõ ràng, lành mạnh.
- Thời gian hoạt động của ngành nghề kinh doanh chính thức phải từ
12 tháng trở lên kể cả trước đây kinh doanh hộ cá thể,
tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng
các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông
nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào đối tượng sau: máy cày, máy
bơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp. Bên cạnh đầu tư cho tài sản
cố định, cho vay trung và dài hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động
thường xuyên của các doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp mới
thành lập.
Nghiệp vụ truyền thống của các Ngân hàng thương mại là cho vay ngắn
hạn đã chuyển sang kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi
mới đó là nâng cao tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng số chủ nợ của
Ngân hàng.
Căn cứ theo phương thức cho vay:
Phương thức cho vay từng lần :
Là một phương thức cho vay mà mỗi lần vay khách hàng và tổ chức
vay làm thủ tục vay vốn cần thiết và kí kết hợp đồng vay.
Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu và đề nghị vay vốn
từng lần, khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên hoặc khách
hàng mà Ngân hàng xét thấy cần thiết phải áp dụng cho vay từng lần để giám
sát kiểm tra quản lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ an toàn.
19
Phương thức cho vay theo dự án đầu tư:
Ngân hàng nông nghiệp cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và các dự án đời sống.Phương
thức cho vay này áp dụng cho các trường hợp cho vay vốn trung và dài hạn.
Phương thức cho vay theo hạn mức vay (cho vay luân chuyển):
Là cách thức cho vay bằng cách Ngân hàng xác định cho khách hàng
của mình một hạn mức vay trong một khoảng thời gian nhất định để làm căn
cứ cho việc phát tiền vay. Phương thức này chỉ áp dụng đối với những khách
hàng có tình hình sản xuất kinh doanh ổn định vay vốn trả nợ thường xuyên,
có tín nhiệm với Ngân hàng. Trách nhiệm của kế toán phải theo dõi chặt chẽ
vốn đầu tư nước ngoài.
• Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật.
• Tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy định
của Bộ luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được cầm cố.
• Tài sản hình thành trong tương lai theo khoản 2 Điều 4 bao gồm:
+ Động sản hình thành sau thời điểm ký kết giao dịch cầm cố và sẽ thuộc quyền
sở hữu của bên cầm cố như hoa lợi, lợi tức; Các động sản khác mà bên cầm
cố có quyền nhận.
+ Tài sản được hình thành từ vốn vay.
+ Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại
thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm.
+ Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng
sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo
quy định của pháp luật.
+ Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất.
21
+ Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp
Theo quy định tại Nghị định số 11/2012/NĐ - CP, tài sản thế chấp bao
gồm:
• Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà
ở, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất.
• Giá trị quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp.
• Tàu biển theo quy định của bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy định
của luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được thế chấp.
• Tài sản hình thành trong tương lai là bất động sản hình thành sau thời điểm ký
kết giao dịch thế chấp và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp như hoa lợi,
lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, công trình xây dựng, các bất động sản
khác mà bên thế chấp có quyền nhận.
• Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Hoạt động cho vay là hoạt động chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn, nhưng nó lại
là hoạt động chính của Ngân hàng cho vay. Bên cạnh rủi ro tiềm ẩn thì Ngân
hàng cho vay thu đươc lãi suất phù hợp với các khoản vay đó và đó cũng là
thu nhập chính của Ngân hàng cho vay.
• Đối với Ngân hàng Thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, cho vay là chức năng kinh tế cơ bản của
Ngân hàng. Đối với các hầu hết các Ngân hàng, dư nợ vay chiếm tới hơn 50%
tổng tài sản có và thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm khoảng từ ½ đến 2/3
tổng thu nhập của Ngân hàng. Mặt khác rủi ro trong hoạt động cho vay có xu
hướng tập chung chủ yếu vào danh mục cho vay. Khi Ngân hàng rơi vào trạng
thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phát sinh từ
hoạt động cho vay của Ngân hàng, viêc Ngân hàng không thu hồi đươc vốn,
có thể là do Ngân hàng buông lỏng quản lý, cấp vay không minh bạch, áp
dụng một chính sách vay kém hợp lý, hay do nền kinh tế đi xuống không
lường trước hay do nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng…
• Đối với Doanh nghiệp
Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mai có các kỳ hạn khác
nhau. Ngắn hạn, trung han và dài hạn bên cạnh đó lãi suất linh hoạt cố định
23
hay thả nỗi… vì thế kháchhàng tuỳ ý lựa chọn kỳ hạn vay và thoã thuận hình
thức lãi suất vay phù hợp với mục tiêu kinh doanh của mình.
Mặt khác việc vay vốn Ngân hàng giúp khách hàng tập chung được vốn
kinh doanh đồng bộ, giảm chi phí huy động và chủ động trong việc hoàn trả
gốc và lãi theo hợp đồng. Bên cạnh đó việc thoã thuận giữa Ngân hàng và
khách hàng khi hết hợp đồng cho vay tạo điều kiện cho khách hàng kinh
doanh tiếp… như trợ giúp vốn, gia hạn hợp đồng.
• Đối với nền kinh tế
- Hoạt động cho vay góp phần mở rộng sản xuất, thúc đẩy đổi mới công nghệ,
thiết bị, cải tiến khoa học kỹ thuật…Việc vay vốn không những giải quyết
được nhu cầu vốn kinh doanh mà còn làm thay đổi cách nghĩ, cách làm …
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ cho vay, để quyết định bỏ vốn tài
trợ vào một dự án nào đó, các Ngân hàng phải đứng trước hai sự lựa chọn là
lợi nhuận và rủi ro. Mức rủi ro càng cao thì khả năng sinh lời càng lớn. Vì thế
trong một quyết định cho vay, Ngân hàng có thể theo đuổi mục tiêu lợi nhuận
cao hay thấp, song phải xác định được mối liên hệ giữa rủi ro và sinh lời để
đảm bảo hoạt động cho vay đem lại lợi nhuận cao nhất với độ rủi ro thấp nhất.
Cho vay được coi là hoạt động chủ yếu đối với bất kỳ một Ngân hàng nào,
mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đe dọa hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng.
25