BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG Ở HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG - Pdf 29

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận vă này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi
kết quả nghiên cứu và số liệu nghiên cứu trong luận văn này là chính xác thực.
Tác giả
Lành Hồng Mạnh
1
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, cô giáo chủ nhiệm cùng
toàn thể các thầy, cô giáo đã giảng dạy tại lớp Cao học CH17I, Học viện
Hành chính quốc gia.
Tác giả xin chân thành cám ơn TS. Nguyễn Thị Phượng, giảng viên tại
Học viện Hành chính quốc gia đã hướng dẫn học viên hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành càm ơn Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Ban Đền bù giải phóng mặt bằng huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang cùng các cán bộ công chức đang công tác tại
phòng, ban đã tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả có được những tài liệu cần thiết
phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Tác giả cũng cám
ơn các cán bộ nghiên cứu khoa học, các thầy cô giáo đã nhiệt tình trao đổi,
hưỡng dẫn về mặt học thuật, cung cấp tài liệu, số liệu và chia sẻ quan điểm về
những vấn đề nghiên cứu của đề tài.
Lành Hồng Mạnh
2
MỤC LỤC
3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta những năm gần đây
diễn ra hết sức mạnh mẽ , nền kinh tế nước ta đang ngày càng phat triển với
sự hội nhập kinh tế sâu rộng, dẫn đến nhu cầu sử dụng đất để xây dựng kết

phóng mặt bằng của huyện Sơn Dương ngày càng được củng cố, hoan thiện,
về cơ bản đã đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, tuy nhiên vẫn còn
những khó khăn vướng mắc.
Nhằm có những giải pháp tích cực trong công tác bồi thường giải
phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, góp phần giải quyết những vấn đề
bức xúc hiện nay, tôi xin chọn đề tài “Bồi thường giải phóng mặt ở huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang” làm luận văn tốt nghiệp, hệ đào tạo Thạc sĩ,
chuyên ngành Quản lý công, với mong muốn thông qua kết quả nghiên cứu
của luận văn góp phần vào nâng việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công
tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
nói riêng cũng như công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên toàn bộ địa
bàn tỉnh Tuyên Quang và cả nước nước nói chung.
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn.
Liên quan tới công tác bồi thường đền bù giải phòng mặt bằng khi Nhà
nước thu hồi đất đã có nhiều công trình nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn.
Có thể kể tới những công trình sau liên quan tới việc nghiên cứu đề tài luận
văn của tác giải như:
Đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Trung
Tiến :“Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng cho dự án xây dựng công
6
trình có sự tham gia của cộng đồng tại thị trấn Sơn Dương”; đề tài luận văn
tốt nghiệp đại học Nông lâm Thái Nguyên của tác giả Lành Văn Thượng:
“Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại công ty trách nhiệm hữu hạn
xây dựng công trình Cát Tường”; Luận văn tốt nghiệp đại học Tài nguyên môi
trường Hà Nội của tác giả Lành Hồng Quân: “Công tác bồi thường giải phóng
mặt bằng dự án xây dựng trường phổ thông dân tộc nội trú ATK Sơn Dương”.
Về các bài viết trên các tạp chí có thể kể tới như: Báo Điện tử Tuyên
Quang online, thứ hai, ngày 5 tháng 8, năm 2013 có bài “Đẩy mạnh đầu tư
xây dựng các dự án công nghiệp”. Bài viết đã những nguyên nhân tiến độ các
dự án xây dựng các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh

công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư các dự án khác
khi thực hiện tại Tuyên Quang nói chung và trên địa bàn huyện Sơn Dương
nói riêng.
Những công trình nghiên cứu, những bài viết trên các báo và tạp trí
nêu trên, ở chừng mực nhất định có thể là những tài liệu tham khảo hữu ích
đối với đề tài luận văn của tác giả. Tuy nhiên những công trình khoa học nêu
trên vẫn chưa giải quyết hết mọi vấn đề về giải phòng mặt bằng, nhất là đối
với một huyện như huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Vì vậy, đề tài mà
tác giải lựa chọn không trùng lắp với bất kỳ đề tài và chủ đề khoa học nào đã
nghiên cứu trước đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn.
3.1. Mục đích
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác bồi thường giải
phóng mặt bằng ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang từ đó làm rõ thực
8
trạng và giải pháp của công tác bồi thương giải phóng mặt bằng ở huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang từ đó có những đề xuất và kiến nghị với những cơ
quan chức năng nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng thu hồi đất, cũng như
công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại huyện Sơn Dương, tránh gây nên
sự thiệt thòi cho những người dân đã nhường đất cho các dự án xây dựng các
công trình phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện.
Hạn chế sự bất đồng trong nhân dân, gây nên những xáo trộn, bất ổn về đời
sống xã hội, tránh làm thiệt hại đến lợi ích của các bên liên quan trong quá
trình thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện cho
việc thực hiện các dự án xây dựng phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện
Sơn Dương hoàn thành đúng tiến tiến độ, kịp thời đưa vào sự dụng, phục vụ hiệu
quả lợi ích cho nhân dân cũng như bảo đảm hiệu quả đầu tư của nguồn vốn nhà
nước và các cá nhân, tổ chức đầu tư xây dựng phát triển kinh tế xã hội.
3.2 Nhiệm vụ.
Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn tập trung vào các nhiệm vụ sau:

Sử dụng các lý thuyết về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và
GPMB có sự tham gia của cộng đồng để phân tích và tổng hợp những vấn đề
thực tiễn trong công tác giải phóng mặt bằng.
Phương pháp phân tích:
Đánh giá thực trạng về công tác bồi thường giải phóng mặt bằngcác dự
án đầu tư x dựng công trình, thông qua mô hình của thị trấn Sơn Dương, bao
gồm các nội dung:
Kết quả thực hiện giải phóng mặt bằngcác dự án đầu tư xây dựng công
trình, thông qua mô hình của thị trấn Sơn Dương; chức năng, nhiệm vụ và cơ
cấu tổ chức thực hiện giải phóng mặt bằng cấp huyện; sự phối hợp của các cơ
quan quản lý nhà nước với cộng đồng dân cư trong công tác giải phóng mặt
bằng; công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục cộng đồng dân cư về công tác
10
giải phóng mặt bằng; mức độ tham gia của cộng đồng dân cư trong công tác
giải phóng mặt bằng; hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến công tác giải
phóng mặt bằng; xác định các kết quả đạt được, tồn tại và những nguyên nhân
trong công tác giải phóng mặt bằng có sự tham gia của cộng đồng dân cư.
Phương pháp tổng hợp so sánh:
Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện GPMB, cho các dự án đầu tư
xây dựng công trình trên địa bàn huyện Sơn Dương
Ngoài ra các phương pháp nghiên cứu trên luận văn còn được thực hiện
dựa trên một số phương pháp khác dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử như : Phương pháp nghiên cứu trìu tượng khoa
học, phương pháp điều tra, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, phương pháp
tổng hợp, phương pháp logic
6. Những đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm rõ những khái niệm, những quan điểm và nhận thức về
công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. Đánh giá khách quan thực trạng
công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên
Quang nói riêng và công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở nước ta nói

Vì đất đai, công trình xây dựng là bất động sản nên có những thuộc
tính, đặc trưng của bất động sản; vì vậy ta cần đặt nó trong môi trường của bất
động sản để thấy rõ đặc trưng và xác định những nhân tố ảnh hưởng đến giá
của nó. Qua đó, xác định những gì đã đạt được và những gì còn hạn chế để
đưa ra những giải pháp khác phục và kiến nghị hoạn thiện chính sách bồi
thường giải phóng mặt bằng ở địa phương.
1.1. Khái quát chung về đất đai và quản lý nhà nước về đất đai
1.1.1. Quan niệm chung về đất đai và tải sản đất đai.
+ Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu
sản xuất không thể thay thế của nền kinh xã hội, là nơi diễn ra các hoạt động
phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, là nơi diễn ra các hoạt động
sinh sống, định cư của xã hội loài người và giới sinh vật.
+ Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, không ai có thể làm ra đất đai nên
đất đai thuộc về phạm trù vĩnh viễn, là một loại hàng hóa quý hiếm. Mặt khác,
trong đất đai còn có công sức của con người khai hoang, phục hóa, cải tạo cho
phù hợp với yêu cầu sử dụng, kể cả phải đổ cả xương máu để bảo vệ lãnh thổ.
Do đó, đất đai có giá trị và trong thuộc tính giá trị của đất đai còn có cả yếu tố
lịch sử và tinh thần.
13
+ Đất đai là bất động sản, nên có những thuộc tính, đặc trưng của bất
động sản; vậy ta cần đặt nó trong môi trường của bất động sản để thấy rõ đặc
trưng và xác định được những nhân tố ảnh hưởng đến giá trị của nó.
+ Giá trị quyền sử dụng đất (sau đây gọi là giá đất): là số tiền mà người sử
dụng đất phải trả cho Nhà nước khi được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dựng
đất, cho phép chuyển muc đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất.[1]
1.1.2 Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai ở Việt Nam
+ Đất đai là sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện làm chủ sở hữu.
+ Nhà nước thực hiện quyền đinh đoạt đối với đất đai như sau:
- Thu tiền quyền sử dụng đất, tiền thuê đất;
- Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, kế hoạch sử dụng đất (sau đây

phóng mặt bằng, tái định cư được cơ quan nhà nước có thẩm quyển xét duyệt,
được thông báo công khai, có hiệu lực thi hành, người bị thu hồi đất phải có
trách nhiệm chấp hành quyết định thu hồi đất.
Trường hợp người bị thu hồi đất không chấp hành quyết định thu hồi
đấtthì Ủy ban nhân dân có thẩm quyền quyết định thu hồi đất ra quyết định
cưỡng chế Người bị cưỡng chế thu hồi đất phải chấp hành quyết định cưỡng
chế và có quyền khiếu nại. [3]
+ Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để áp dụng vào mục đích phát
triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, khu công
nghệ cao, khu kinh tế các dự án đầu tư lớn theo quy định của chính phủ. Việc
thu hồi được thực hiện theo quy định tại Điều 39 của Luật Đất đai.
+ Đối với dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng
đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử
dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ
gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện nghĩa vụ thực hiện thu hồi đất [4]
1.1.3.2. Các trường hợp thu hồi đất đai.
Nhà nước thu hồi đất đai trong các trường hợp sau đây:
+ Nhà nước sử dụng đất vào mục đich quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích cộng đồng, phát triển kinh tế.
15
+ Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được
Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc
từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền hàng năm bị giải thể,
phá sản, chuyển đi nơi khác, hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;
+ Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;
+ Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
+ Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;
+ Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây:
- Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm;
- Đất không được chuyển nhượng, sử dụng theo quy định của Luật Đất đai mà

chuyển hay không và các chương trình nhằm khôi phục cuộc sống của họ. Tái
định cư bao hàm cả việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi thu hồi
đất. Tái định cư theo nghĩa hẹp là quá trình di chuyển người dân đến nơi ở
mới.[6]
1.2.2. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Người bị thu hồi đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có
cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường
bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi, cụ thể :
+ Người được sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật
nhưng tụ ý sử dụng làm đất phi nông nghiệp thì chỉ được bồi thường theo đất
nông nghiệp;
+ Người được sử dụng đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) theo
quy định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng làm đất ở thì chỉ được bồi thường
theo đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở).
Việc thực hiện bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu
không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng đất ở, hoặc được bồi
thường bằng tiền cho phù hợp với thực tế tại địa phương.
17
Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của
pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chinh vào số
tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách. Nghĩa vụ tài chính bao
gồm: tiền sử dụng đất phải nộp, tiền thuê đất đối với đất do nhà nước cho
thuê, thuế thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các thửa đất
khác của người có đất bị thu hồi (nếu có), tiền thu từ việc xử phạt vi phạm
luật về đất đai, tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý
và sử dụng đất đai, phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai.
Trong trường hợp khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai phải nộp lớn hơn
hoặc bằng tiền bồi thường đất thì số tiền được trừ tối đa bằng số tiền bôi
thường đất.

quy định được kể trên mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ
về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan,
nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện thủ tục chuyển
nhượng sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Ủy ban nhân dân
cấp xã xác nhận không có tranh chấp.
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa
phương và trự tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản,
làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo,
nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nới có đất xác nhận là người đã sử dụng đất
ổn định, không có tranh chấp.
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đát không có các loại giấy tờ quy
đinh như đã kể trên nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15
tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất đó
không có tranh chấp.
19
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất theo bản án hoặc quy định của
tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định
giải quyết tranh chấp đất đai của nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ kể
trên nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến thời điểm
có quyết định thu hồi đất, mà tại thời điểm sử dụng không vi phạm quy hoạch;
không vi phạm hành lang bảo vệ các công trình, được cấp có thẩm quyển phê
duyệt đã công bố công khai, cắm mốc, không phải là đất lấn chiếm trái phép
và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không
có tranh chấp.
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có
quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước,
nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý, mà hộ gia đình, cá nhân đó vẫn
sử dụng.
+ Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, chùa, đền

thửa đất, khu
đất cần định giá
=
Giá trị chuyển
nhượng quyền sử
dụng đất của từng
thửa đất, khu đất so
sánh
±
Mức tiền điều
chỉnh mức giá bình quân
hình thành từ những yếu
tố khác biệt về giá của
từng thửa đất, khu đất so
với thửa đất, khu đất cần
định giá
Trong đó, mức tiền điều chỉnh mức giá giữu từng thửa đất, khu đất
so sánh và thửa đất, khu đất định giá là lượng điều chỉnh sự khác biệt về giá
xuất phát từ những khác biệt về giá xuất phát từ những khác biệt về vị trí thửa
đất, mức độ ô nhiễm môi trường
Sự khác biệt về giá giữa thửa đất só sánh và thửa đất định giá ( có thể
tính theo giá trị tuyệt đối hoặc tỷ lệ % của giá chuyển nhượng quyền sử dụng
đất) được xác định căn cứ vào đánh giá của các chuyên gia và cơ quan định
giá đất.
21
Trường hợp giá đất có những biến động trong khoảng thời gian từ thời
điểm chuyển nhượng thành công quyền sử dụng đất của thửa đất đó đến thời
điểm xác định giá của thửa đất cần định giá, thì cần phải điều chỉnh mức giá
của thửa đất so sánh về ngang mức giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thực tế trên thị trường, sau đó thực hiện việc điều chỉnh tiếp mức giá của thửa

giá đất có kết quả cao hơn mức giá tối đa của khung giá và thời hạn cho phép
vận dụng do Chính phủ quyết định. [8]
1.2.3.2 Phương pháp xác định giá tài sản gắn liền với đất.
Tái sản gắn liền với đất bao gồm: nhà, công trình xây dựng đơn chiếc;
nhà, công trình xây dựng theo hệ thống trong khuân viên đất (gọi chung là
nhà, công trình) và cây trồng, vật nuôi trong nước và trên đất.
Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi mất đất mà bị
thiệt hại thì được bồi thương.
+ Nhà, công trình xây dưng trên đất:
- Nhà, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân được bồi thương
bằng giá trị xây dựng mới của nhà, công trình xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật
tương đương do Bộ xây dựng ban hành. Giá trị xây dựng mới của nhà, công
trình xây dựng tính theo diện tích xây dựng của nhà, công trình nhân với đơn
giá xây dựng mới của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành
theo quy định của Chính phủ.
- Đối với nhà, công trình xây dựng khác không thuộc nhà ở, công trình phục vụ
sinh hoạt hộ gia đình, cá nhân thì được bồi thường theo mức:
Mức bồi thường = Giá trị còn lại + Khoản tiền hỗ trợ % giá trị còn lại.
Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định bằng tỷ lệ
phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình kỹ thuật có tiêu chuẩn tương
đương do Bộ xây dựng ban hành. Khoản tiền cộng thêm được tính bằng tỷ lệ
23
phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quy định
- Việc phá dỡ nhà, công trình xây dựn ảnh hưởng đến công trình khác mà
những công trình này không thể sử dụng theo thiết kế, quy hoạch xây dựng
ban đầu hoặc phải phá dỡ thì được bồi thường.
- Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, mà phần thiết kế
còn lại không được sử dụng được thì được bồi thường cho toàn bộ nhà, công
trình; trường hợp nhà công trình khác bị phá dỡ một phần nhưng vẫn tồn tại

cấp; mức bồi thường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Phần diện tích nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cải tạo, sửa chữa nâng cấp
được coi là hợp pháp là các trường hợp được cơ quan ra quyết định phân nhà
hoặc cơ quan quản lý nhà đất thuộc sở hữu Nhà nước tại địa phương cho
phép.
Người đang sử dụng nhà thuộc sở hữu Nhà nước bị phá dỡ được thuê
nhà tại nơi định cư, diện tích mới tại nơi định cư tương đương với diện tích
thuê cũ, giá thuê nhà là giá thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước; nhà thuê tại
nơi tái định cư được nhà nước bán cho người đang thuê theo quy định của
Chính phủ về bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo quy
đinh của Chính phủ về bán nhà thuộc sở hữu của Chính phủ cho người đang
thuê; trường hợp đặc biệt không có nhà tái định cư để bố trí thí được hỗ trợ
bằng tiền để tự do lo chỗ ở mới; mức hỗ trợ bằng 60% giá trị đất và 60% giá
trị nhà đàng đang thuê. Nếu cớ nơi tái định cư để bố trí nhưng người đang sử
dụng nhà ở thuộc sở hưu nhà nước không thuê thì được hỗ trợ bằng tiền.
+ Bồi thường di chuyển mồ mả: mức bồi thường được tính cho chi phí
về đất đai, đào, bốc, di chuyển, xây dựng lại và các chi phí hợp lý khác có liên
quan trực tiếp.
+ Bồi thường đối với công trình văn hóa, di tích lịch sử, nhà thờ, đình,
miếu, chùa, am trong trường hợp phải di chuyển việc bồi thường cho việc di
25

Trích đoạn Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác bồi thường,hỗ trợ,tái định cư. Đổi mới và tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến, giáo dục về chính sách, pháp luật đất đai, yêu cầu, ý nghĩa của công tác bồi thường Khuyến khích sự tham gia của các tầng lớp nhân dân vào công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm đảm bảo tính công khai, dân chủ và Tăng cường công tác tư vấn, thẩmđịnh giá của các công ty, trung tâm Tư vấn thẩm định về đất đai và giá đất đai. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status