Quan hệ thương mại đàng trong nhật bản thời kỳ các chúa nguyễn (1558 1777) - Pdf 29


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
**************

NGUYỄN THỊ HƢƠNG
QUAN HỆ THƢƠNG MẠI
ĐÀNG TRONG - NHẬT BẢN THỜI
KỲ CÁC CHÚA NGUYỄN (1558 - 1777)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Ng-êi h-íng dÉn khoa häc
TS. BïI NGäC TH¹CH

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp “Quan hệ thƣơng mại Đàng Trong - Nhật Bản
thời kỳ các chúa Nguyễn (1558 - 1777)” đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn
tận tình của Thầy giáo,TS. Bùi Ngọc Thạch.
Em xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân em,
không trùng lặp với bất kỳ kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác. Những
kết quả thu đƣợc là hoàn toàn chân thực. Nếu sai em xin chịu trách nhiệm.
Ngƣời thực hiện
Nguyễn Thị Hƣơng MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ CỦA QUAN HỆ THƢƠNG MẠI ĐÀNG TRONG
- NHẬT BẢN THỜI KÌ CÁC CHÚA NGUYỄN (1558 - 1777) 10
1.1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ ĐÀNG TRONG, NHẬT BẢN TỪ GIỮA
THẾ KỈ XVI ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XVIII 10
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử thế giới 10
1.1.2. Hoàn cảnh lịch sử Nhật Bản 12
1.1.3. Hoàn cảnh lịch sử Đàng Trong 13

3.2. VAI TRÒ CỦA QUAN HỆ THƢƠNG MẠI ĐÀNG TRONG -
NHẬT BẢN 60
3.2.1. Góp phần quan trọng phát triển nền kinh tế Đàng Trong 60
3.2.2. Góp phần hình thành và phát triển các thƣơng cảng và đô thị
ở Đàng Trong 62
3.2.3. Góp phần thúc đẩy giao lƣu văn hóa 63
3.2.4. Đặt nền móng cho quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong giai
đoạn sau 67
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 77

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam, quan hệ giữa Việt Nam - Nhật
Bản có một vị trí đáng kể, trong đó quan hệ thƣơng mại giữa Đàng Trong và
Nhật Bản thời kỳ các chúa Nguyễn (1558 - 1777) trở thành nền tảng, đã và
đang góp phần tích cực vào sự phát triển của mỗi bên.
Vùng đất Đàng Trong thế kỷ XV trở về trƣớc là nơi xa xôi, đất đai cằn
cỗi, giặc giã luôn nổi lên quấy rối biên cƣơng Đại Việt nhƣng khi Nguyễn
Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558), lập ra xứ Đàng Trong đã đánh một dấu
mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc. Từ đây, Nguyễn Hoàng và các chúa
Nguyễn sau đó đã có những bƣớc đi đúng đắn, sáng tạo và hiệu quả, làm thay
đổi bộ mặt vùng đất Đàng Trong. Các chúa Nguyễn luôn chăm lo tới sản xuất
nông nghiệp, khuyến khích phát triển thủ công và đặc biệt là tƣ duy mới mẻ

Do vậy, vấn đề đặt ra trong nghiên cứu quan hệ giữa hai nƣớc Việt
Nam và Nhật Bản thì không thể không đi nghiên cứu quan hệ giao lƣu thƣơng
mại giữa Đại Việt - Nhật Bản, đặc biệt là hoạt động thƣơng mại giữa chính
quyền Đàng Trong - Nhật Bản thời kỳ các chúa Nguyễn (1558 - 1777).
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, tôi đã quyết định chọn đề
tài “Quan hệ thương mại Đàng Trong - Nhật Bản thời kỳ các chúa Nguyễn
(1558 - 1777)” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những thế kỉ đã qua, đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về
quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản, đặc biệt là vấn đề thƣơng mại giữa
chính quyền Đàng Trong - Nhật Bản thời kì các chúa Nguyễn (1558 - 1777 ).
3
Trƣớc năm 1945, nghiên cứu quan hệ thƣơng mại Đàng Trong - Nhật
Bản còn ít, các nghiên cứu ở Phƣơng Tây về quan hệ Đàng Trong - Nhật Bản
thế kỉ XVI - XVIII chƣa nhiều, chỉ dừng lại ở việc giới thiệu hoạt động buôn
bán của các chủ tàu Nhật hoạt động trên các cảng Đàng Trong và Đông Dƣơng.
Trƣớc tiên, phải kể đến công trình Tường trình về vương quốc Đàng
Trong (1621) của tác giả Ch. Borri. Tác phẩm này đã đề cập tới nhiều mảng
của giao lƣu buôn bán giữa chính quyền Đàng Trong của chúa Nguyễn với
Nhật Bản và buôn bán giữa chính quyền Đàng Ngoài với Nhật Bản. Ch. Borri
đã miêu tả lại không gian giao lƣu buôn bán và các mặt hàng xuất nhập khẩu,
các hải cảng, phố phƣờng trên đất Đàng Trong giai đoạn các chúa Nguyễn
(1558 - 1777).
Từ sau năm 1945 đến nay, việc nghiên cứu quan hệ Việt - Nhật đã có
bƣớc phát triển đáng kể.
Ở miền Nam, có Bửu Cẩm với Bang giao lịch sử giữa Việt Nam và
Nhật Bản (1957); Đoàn Văn An với Trao đổi văn hóa Việt Nam - Nhật Bản
(1963) Nhìn chung, các tác phẩm, bài viết về mối quan hệ Việt - Nhật trong
đó có quan hệ thƣơng mại Đàng Trong - Nhật Bản chủ yếu là dƣới dạng biên
khảo, phổ biến kiến thức, chƣa có những chuyên khảo.

tƣơng đồng về kiến trúc, phƣơng thức hoạt động buôn bán Tuy cung cấp tƣ
liệu phong phú nhƣng vì không phải là một hội nghị về quan hệ thƣơng mại
Đàng Trong - Nhật Bản trong thời kì các chúa Nguyễn nên vấn đề này chỉ
đƣợc đề cập một cách vừa phải, chƣa đi sâu.
Tác phẩm Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước (2005) tác
giả Nguyễn Quang Thắng đã vẽ lên bức tranh lịch sử văn hoá địa lý xứ Đàng
Trong, việc mở rộng lãnh thổ và quan hệ của Đàng Trong với các nƣớc trong
đó có quan hệ thƣơng mại với Nhật Bản.
5
Tác giả Trịnh Tiến Thuận với công trình Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam
thế kỉ XVI - XVII đã trình bày quan hệ ngoại giao Nhật Bản - Đại Việt nói
chung và quan hệ thƣơng mại của cả Đàng Trong và Đàng Ngoài với thƣơng
nhân Nhật Bản.
Tác giả Tạ Thị Hoàng Vân với công trình Di tích kiến trúc Hội An
trong tiến trình lịch sử cũng đã đề cập tới bối cảnh lịch sử thế kỉ XV - XVI và
sự xuất hiện của thƣơng nhân Nhật Bản ở Hội An. Tuy nhiên, công trình này
bàn nhiều về khía cạnh kiến trúc và văn hóa ở Hội An mà chƣa đi sâu tìm
hiểu về thƣơng mại Hội An với Nhật kiều thời các chúa Nguyễn.
Nhƣ vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề giao lƣu
buôn bán giữa Đàng Trong - Nhật Bản, trên nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy
nhiên, vẫn chƣa có công trình nào nào nghiên cứu chuyên sâu, một cách hệ
thống, đánh giá đầy đủ đặc điểm, vai trò của quan hệ thƣơng mại Đàng Trong
- Nhật Bản dƣới thời kì các chúa Nguyễn (1558 - 1777). Nhƣng các tác phẩm
trên là những nguồn tƣ liệu quý báu và là cơ sở để tác giả thực hiện đề tài
nghiên cứu này.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu và thống kê sự kiện trong giao lƣu buôn bán, đề
tài phác họa nên bức tranh khái quát về quan hệ thƣơng mại Đàng Trong -
Nhật Bản dƣới thời kì các chúa Nguyễn (1558 - 1777). Đồng thời giúp chúng

Nhật Bản thời kì các chúa Nguyễn đến các giai đoạn sau, công trình nghiên
cứu đã mở rộng phạm vi thời gian đến hiện nay - năm 2014.

7
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tƣ liệu nghiên cứu
Khóa luận đƣợc thực hiện dựa trên những nguồn tài liệu chủ yếu sau:
Tƣ liệu trong thƣ tịch cổ Việt Nam nhƣ: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại
Nam thực lục, Phủ biên tạp lục, Việt Nam sử lược.
Bài viết trong các tạp chí Văn hóa nguyệt san, Thông tin khoa học,
Nghiên cứu lịch sử của các tác giả liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu trong các Hội thảo khoa họcnghiên cứu liên
quan đến quan hệ Đàng Trong - Nhật Bản nhƣ: Kỷ yếu Hội thảo khoa học
chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam; Kỷ yếu Hội thảo
Đô thị cổ Hội An.
Các công trình luận án Tiến sĩ Lịch sử liên quan đến đề tài nhƣ: Luận
án Tiến sĩ: Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam thế kỉ XVI - XVII của tác giả Trịnh
Tiến Thuận; Luận án Tiến sĩ Di tích kiến trúc Hội An trong tiến trình lịch sử
của tác giả Tạ Thị Hoàng Vân.
Các sách nghiên cứu về quan hệ Đàng Trong - Nhật Bản nhƣ: Những
mẩu chuyện bang giao trong lịch sử Việt Nam; Ngoại thương Việt Nam thế kỷ
XVII, XVIII và đầu XIX; Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước
cũng là những nguồn tƣ liệu quan trọng phục vụ nghiên cứu đề tài.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận vận dụng phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, để xem xét đánh giá các sự kiện lịch sử trong quá trình vận động, biến
đổi của quan hệ thƣơng mại Đàng Trong - Nhật Bản.
Phƣơng pháp chủ yếu tác giả sử dụng trong khóa luận là kết hợp
phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp lôgíc trong đó phƣơng pháp lịch sử là
chủ yếu.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung khóa luận gồm có 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở của quan hệ thƣơng mại Đàng Trong - Nhật Bản thời
kì các chúa Nguyễn (1558 - 1777)
Chƣơng 2: Quan hệ thƣơng mại Đàng Trong - Nhật Bản thời kì các
chúa Nguyễn (1558 - 1777)
Chƣơng 3: Đặc điểm và vai trò của quan hệ thƣơng mại Đàng Trong -
Nhật Bản thời kì các chúa Nguyễn (1558 - 1777)
10

Chƣơng 1
CƠ SỞ CỦA QUAN HỆ THƢƠNG MẠI
ĐÀNG TRONG - NHẬT BẢN THỜI KỲ CÁC CHÚA NGUYỄN
(1558 - 1777)

1.1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ ĐÀNG TRONG, NHẬT BẢN TỪ GIỮA
THẾ KỈ XVI ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XVIII
1.1.1. Hoàn cảnh lịch sử thế giới
Thế kỉ XV - XVI, trên thế giới đã diễn ra những bƣớc ngoặt quan trọng
trong lịch sử giao lƣu giữa phƣơng Đông và phƣơng Tây.
Cuối thế kỷ XV, tầng lớp thƣơng nhân Châu Âu đã lớn mạnh thành một
giai cấp, dần dần nắm quyền điều khiển nền kinh tế ở Cựu lục địa, thay thế
dần cho chế độ kinh tế phong kiến truyền thống, vốn do các lãnh chúa phong
kiến nắm giữ. Đây là thời kỳ tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tƣ bản và

lệnh “hải cấm” (1371 - 1567), đồng thời Mạc phủ Tokugawa (Nhật Bản) cũng
ban hành chính sách “mở cửa”… từ đó góp phần tạo nên không khí buôn bán
nhộn nhịp trong khu vực… thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản hoạt động ráo
riết trên các cảng biển Đàng Trong nhƣ: Hội An (Quảng Nam), Nƣớc Mặn
(Bình Định), Bến Nghé (Gia Định)… Những chính sách đó kéo dài cho đến
năm 1636, tạo ra một giai đoạn buôn bán phát đạt giữa Nhật Bản với Việt
Nam nói chung và với Đàng Trong nói riêng, đặc biệt là với Hội An. Năm
1644, nhà Minh sụp đổ, nhà Thanh lên thay thế đã dẫn đến làn sóng di cƣ ồ ạt
của ngƣời Hoa ở Trung Quốc (1661 - 1683) tới vùng đất Đàng Trong, chính
12
sách cấm vận của nhà Thanh cũng một thời thúc đẩy quan hệ ngoại thƣơng
giữa Đài Loan với Đông Nam Á.
1.1.2. Hoàn cảnh lịch sử Nhật Bản
Ở Nhật Bản, chế độ Mạc phủ kéo dài từ năm 1192 đến năm 1868. Đó là
thời kỳ mà chế độ phong kiến Nhật Bản có hai chính quyền song song cùng
tồn tại: Chính quyền của Thiên hoàng ở Kyoto và chính quyền Mạc Phủ của
tầng lớp võ sĩ Nhật Bản.
Dƣới thời kì Mạc phủ Tokugawa, chiến tranh liên miên, nhƣng thế kỷ
XV - XVIII vẫn là thời kì phát triển của chế độ phong kiến. Thời kỳ 1467-
1573, Nhật Bản bƣớc vào thời kỳ thống nhất đất nƣớc, nên nền kinh tế Nhật
Bản vẫn có nhiều khởi sắc.
Trong nông nghiệp, ngoài việc mở rộng diện tích và xuất hiện nhiều
giống lúa mới, thủy lợi tƣơng đối phát triển, cùng với nhiều biện pháp kỹ
thuật đƣợc áp dụng nên mỗi năm có thể trồng đƣợc hai vụ lúa. Ngƣời nông
dân đƣợc giải phóng đã góp phần vào việc tham gia các hoạt động sản xuất
kinh tế khác. Phân công lao động đƣợc mở rộng và chuyên môn hóa cao hơn.
Sự chuyên môn hóa ấy đã dẫn tới sự thành lập các phƣờng hội chuyên môn
làm cho thƣơng mại và thủ công phát triển mạnh.
Kinh tế hàng hóa phát triển, việc thanh toán bằng tiền phổ biến đã tạo
điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi sản phẩm. Sự phát triển của thủ công,

dựng một giang sơn riêng của Nguyễn Hoàng đƣợc thể hiện trong lời căn dặn
con cháu của ông trƣớc khi mất “Đất Thuận - Quảng phía Bắc có núi Ngang,
sông Gianh hiểm trở, phía Nam có núi Hải Vân, núi Đá Bi vững bền, núi sẵn
vàng sắt, biển có cá muối thật là đất dụng võ của người anh hùng, nếu biết
14
dạy dân chống lại họ Trịnh thì đủ xây dựng lực lượng muôn đời. Nếu không
địch được thì cố giữ đất đai mà chờ cơ hội chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta”
[39, tr. 344]. Lên nối nghiệp cha, Nguyễn Phúc Nguyên đã tổ chức lại chính
quyền, tách dần khỏi sự phụ thuộc vào chúa Trịnh dẫn đến cuộc chiến tranh
Trịnh - Nguyễn, kết quả là đất nƣớc bị chia cắt thành Đàng Trong, Đàng
Ngoài, lấy sông Gianh làm giới hạn chia cắt. Từ đây về sau, các chúa Nguyễn
dồn sức chăm lo phát triển kinh tế, tăng cƣờng tiềm lực về mọi mặt chuẩn bị
những bƣớc đi xa hơn cho các thế hệ con cháu và lãnh thổ Đàng Trong cũng
không ngừng đƣợc mở rộng bao gồm toàn bộ vùng đất từ sông Gianh trở vào
phía Nam nƣớc ta hiện nay.
Đàng Trong là một vùng đất mới, các chúa Nguyễn đã khuyến khích
khai khẩn đất đai, chăm lo đời sống nhân dân, giảm nhẹ sƣu thuế tạo nên cảnh
trù phú của vùng đất Đàng Trong.
Nông nghiệp: Từ thế kỷ XVI, nông nghiệp ở Thuận Quảng đã rất phát
triển. Đầu thế kỷ XVII, Đàng Trong đã trở thành mảnh đất màu mỡ và sinh
lợi, đến nỗi hàng năm dân có thể thu hoạch 3 vụ lúa, thóc gạo dồi dào tới mức
“không ai cần lao động thêm để kiếm sống quanh năm có nhiều hoa quả,
những thứ lạ như dưa bở, dưa chuột, dưa hấu, mít, sầu riêng, dừa, trầu cau,
bắp cải, thuốc lá, mía Đồng ruộng của họ đầy những gà vịt nhà, gà rừng”
[39, tr.363]. Ngoài ra, vùng đất Đàng Trong còn trồng đƣợc nhiều loại ngũ
cốc khác nhƣ ngô, kê, đậu Sách vở còn ghi chép lại “trên cánh đồng Đàng
Trong nhân dân đã cấy đến 26 giống lúa nếp và 23 giống lúa tẻ” [39, tr.363].
Nông nghiệp Đàng Trong thời các chúa Nguyễn trị vì rất phát triển, năng suất
lúa cao “ruộng ở các huyện Tân Bình, Phúc Long, Quy An, Quy Hóa dễ cày
cấy, cấy một hộc thóc thì gặt được 100 hộc thóc, có nơi cấy một hộc thóc còn

16
Nguyễn không mang đặc điểm của một nền kinh tế “tự cấp, tự túc” - nền kinh
tế tiêu biểu của Đông Nam Á xƣa mà nền kinh tế Đàng Trong lúc này đã có
sự hƣớng về thị trƣờng thƣơng mại, đáp ứng nhu cầu trao đổi chứ không chỉ
dừng lại ở mức độ trao đổi trong nƣớc.
Thương nghiệp: Thời kỳ các chúa Nguyễn, hệ thống các chợ phát triển,
một số chợ lớn nhƣ “chợ Vị Hoàng ở Sơn Nam, Nông Nại ở Biên Hòa, Bến
Nghé ở Gia Định, thị trấn Hà Tiên ” [39, tr.372]. Ở Đàng Trong, dân buôn
thƣờng chở gạo thóc từ Gia Định ra bán cho dân Thuận Quảng và mua các
hàng từ phƣơng Bắc chở vào. Nội thƣơng phát triển là cơ sở cho sự ra đời và
trao đổi của hoạt động ngoại thƣơng.
Các luồng trao đổi ngoại thƣơng chính của Đàng Trong: Đàng Trong -
Nhật Bản; Đàng Trong - Trung Quốc; Đàng Trong - Xiêm; Đàng Trong - Cao
Miên; Đàng Trong - Bồ Đào Nha; Đàng Trong - Hà Lan; Trung Quốc - Đàng -
Trong - Nhật Bản Đàng Trong đƣợc biết đến nhƣ một nơi trao đổi hàng hóa.
Những mặt hàng thông dụng đƣợc bán ở Đàng Trong gồm“51 mặt hàng: Tơ,
vải bông, các vị thuốc, giấy vàng bạc, hương vòng, kim tuyến, ngân tuyến, các
thứ phẩm, y phục, giày tốt, kính, quạt giấy, bút mực, kim, các thứ bàn ghế, các
thứ đồ đồng, đồ bạc, các thứ đồ sành, chè, đồ ăn khô, đồ ngọt” [43, tr.140].
Ngay từ đầu, Nguyễn Hoàng đã nhận thức rõ vùng đất Thuận - Quảng
là một trung tâm kinh tế quan trọng của Đàng Trong, có tài nguyên là nguồn
lâm thổ sản phong phú, có những cảng biển nổi tiếng đã từng thu hút thƣơng
khách nƣớc ngoài nhiều thế kỷ trƣớc đó. Đối với Nguyễn Hoàng, việc tận
dụng và phát huy những tiềm năng của xứ Thuận - Quảng để nó có khả năng
đảm bảo cho một tƣơng lai chính trị mà thuở ra đi ông đã bắt đầu toan tính là
những việc làm tiên quyết. Nguyễn Hoàng và sau đó là các chúa Nguyễn kế vị
ông đã xác lập một chiến lƣợc phát triển kinh tế mới với những bƣớc đi và
hình thức khác biệt nhằm hòa nhập mạnh mẽ hơn với những bƣớc chuyển
biến chung của khu vực. Cách thức lựa chọn con đƣờng phát triển đó đã đƣa
17

bƣớc phát triển mạnh mẽ. Chính sự phát triển kinh tế đó, đặc biệt là sự phát
triển của kinh tế hàng hóa cùng với chính sách mở của của chính quyền chúa
Nguyễn là cơ sở và tác nhân bên trong rất quan trọng dẫn đến sự hình thành
các đô thị và thƣơng cảng, trong đó, Hội An với vị trí và điều kiện thuận lợi
của nó, sớm trở thành trung tâm kinh tế mậu dịch đối ngoại thịnh đạt nhất.
Bên cạnh đó, Đàng Trong có vị trí địa lý thuận lợi, tiếp giáp biển, nằm
trên con đƣờng giao lƣu buôn bán đông - tây, các cảng biển của Đàng Trong
là nơi dừng chân bắt buộc của các thƣơng nhân trên con đƣờng tơ lụa trên
biển. Chính nhân tố này đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển thƣơng
nghiệp của Đàng Trong thời các chúa Nguyễn.
1.2. QUAN HỆ THƢƠNG MẠI ĐẠI VIỆT - NHẬT BẢN TRƢỚC NĂM
1558
Các nguồn thƣ tịch cổ, kết quả nghiên cứu, tƣ liệu lịch sử và khảo cổ
học đã ghi nhận sự giao lƣu Việt - Nhật đã có từ thời rất xa xƣa.
Di vật và tài liệu khảo cổ thời đại đồ đá mới ở Nhật Bản đã tìm thấy
những công cụ nhƣ rìu, thạch, bôn giống với văn hóa Hòa Bình và văn hóa
Bắc Sơn “Từ thời sơ kỳ đá mới ở miền Trung nước Nhật thể hiện những mối
quan hệ với nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn ở Việt Nam” [9, tr. 445].
Theo thƣ tịch cổ và nguồn tài liệu cổ của Việt Nam và Nhật Bản thì mối
giao lƣu trực tiếp giữa hai nƣớc đã có từ thời kì Nara (710 - 794). Một vị cao
tăng Phật Triết (Buttetsu), ở Lâm Ấp đã tới Nhật Bản vào năm 736. Buttetsu đã
quảng bá đạo Phật Đại Thừa, phổ biến âm nhạc dân tộc của nƣớc mình.
Ngƣời Nhật Bản đầu tiên đến Việt Nam vào thế kỉ VIII. Ghi chép về sự
kiện này, Lê Tắc, đời nhà Trần, tác giả An Nam chí lược (1333) cho biết:
19
Triều Hành, ngƣời Nhật Bản, trong khoảng niên hiệu Khai Nguyên
(713-741), đem hóa phẩm đến triều kiến, hâm mộ phong hóa Trung
Hoa, nhân lƣu lại, đổi tên là Triều Hoành, nhiều lần sang sứ Trung
Quốc. Năm Vĩnh Thái thứ hai, Triều Hoành làm An nam đô hộ. Thời
ấy có quân Mán xâm phạm cảnh giới hai châu Đức Hóa và Long Vũ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status