ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
ĐĂNG THỊ THU HUYỀN
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN DỤNG
TẠI TRUNG TÂM TÍN DỤNG
QUỐC GIA VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Hà Nội - 2015 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam kết luận văn này do chính tôi thực hiện. Tên đề tài tôi lựa chọn
chƣa đƣợc thực hiện, nghiên cứu bởi bất cứ tác giả nào trƣớc đây. Toàn bộ thông
tin, dữ liệu và nội dung trình bày trong luận văn không vi phạm bản quyền hoặc
sao chép bất hợp pháp dƣới bất cứ hình thức nào.
Bằng cam kết này, tôi xin chịu trách nhiệm với những vi phạm của mình
nếu có. LỜI CẢM ƠN
Trƣớc tiên, tôi xin trân thành cảm ơn Giảng viên TS. Lê Trung Thành đã
hƣớng dẫn tôi hoàn thành luận văn này. Xin cảm ơn các thầy, cô giảng viên đã tham
gia đào tạo lớp cao học QH-2012-E.CH/TCNH1 và các bạn cùng lớp đã giúp đỡ tôi
hoàn thành chƣơng trình và luận văn tốt nghiệp. Tôi xin cảm các cán bộ nhân viên
tại các Ngân hàng thƣơng mại đã nhiệt tình tham gia quá trình khảo sát hoàn thiện
phiếu điều tra. Đặc biệt, tôi gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ nhân viên tại Trung
tâm Thông tin tín dụng Quốc Gia Việt Nam đã cung cấp số liệu của bài viết cũng nhƣ
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn này TÓM TẮT
Luận văn với đề tài “Phát triển hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm
Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam” bao gồm 04 chƣơng với nội dung chính
nhƣ sau:
Chƣơng 1 luận văn trình bày các vấn đề chung về cơ sở lý luận và tổng quan
tình hình nghiên cứu, trong đó đã xây dựng khung lý thuyết về các chỉ tiêu đánh giá
1.3. Các nguyên tắc chung trong hoạt động của hệ thống thông tin tín dụng 17
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ MÔ HÌNH
NGHIÊN CỨU 24
2.1 Phƣơng pháp nghiên cứu 24
2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin 24
2.1.2. Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 25
2.2 Thiết kế mô hình nghiên cứu 27
2.2.1 Các bước thực hiện nghiên cứu 27
2.2.2 Đánh giá mô hình nghiên cứu 30
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN
DỤNG TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG QUỐC GIA VIỆT NAM 32
3.1. Khái quát về Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam 32
3.1.1. Quá trình hình tha
̀
nh va
̀
pha
́
t triê
̉
n: 32 3.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia
Việt Nam 34
3.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc
gia Việt Nam 35
3.2. Thực trạng phát triển hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin
tín dụng Quốc gia Việt Nam 38
3.2.1. Thực trạng hoạt động của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
BCTC
Báo cáo tài chính
2
CIC
Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam
3
CQTTGSNH
Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng
4
DN
Doanh nghiệp
5
HSKH
Hồ sơ khách hang
6
NH
Các bƣớc thực hiện nghiên cứu luận văn
33
2
Bảng 2.2
Diễn giải các bƣớc thực hiện nghiên cứu luận văn
34
3
Bảng 3.1
Chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban tại CIC
42
4
Bảng 3.2
Số TCTD tham gia báo cáo thông tin
46
5
Bảng 3.3
Thu thập về báo cáo tài chính
47
6
Bảng 3.4
Thu thập hồ sơ khách hàng có dƣ nợ
49
7
Bảng 3.5
Tình hình số liệu lƣu trữ tại kho dữ liệu CIC
51
8
Bảng 3.6
Các sản phẩm của hoạt động cung cấp thông tin
55
TTTD tại CIC
67
16
Bảng 3.14
Mức độ đồng ý với nguyên nhân dẫn đến chất lƣợng
TTTD còn nhiều hạn chế tại CIC
68
iii
17
Bảng 3.15
Mức độ đồng ý các giải pháp phát triển hoạt động
TTTD tại CIC
69
18
Bảng 3.16
Mức độ đồng ý với các kiến nghị đối với cơ quan
quản lý nhà nƣớc
71
iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
STT
Sơ đồ
Nội dung
Trang
1
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Các ngân hàng muốn tồn tại và chiến thắng trong cạnh tranh thì cần thiết phải có
hai yếu tố cơ bản đầu vào là tiền vốn và thông tin. Trong đó, thông tin tín dụng
(TTTD) chiếm vị trí rất quan trọng, vì nó liên quan trực tiếp đến khách hàng. Một
trong những tổ chức quan trọng nhất có thể giúp cho thị trƣờng tín dụng hoạt động
có hiệu quả là Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam. Thông qua Trung
tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam, các tổ chức tín dụng (TCTD) có thể
nhận đƣợc những thông tin cần thiết, có giá trị về khách hàng, đánh giá tốt hơn rủi
ro tín dụng, giảm chi phí và thời gian xét duyệt cho vay. Trung tâm Thông tin tín
dụng Quốc gia Việt Nam còn là nơi thu thập, lƣu trữ và cung cấp thông tin từ các
TCTD, các đối tƣợng khách hàng nhằm góp phần tăng trƣởng tín dụng theo hƣớng
an toàn - hiệu quả - bền vững, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.
Hiện nay ở Việt Nam, Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam
(CIC) đƣợc thành lập và thực hiện một số hoạt động thông tin tín dụng, ban đầu
nằm trong Vụ Tín dụng - Ngân hàng nhà nƣớc (NHNN), sau đó trở thành một tổ
chức sự nghiệp trực thuộc của NHNN từ năm 1999. Trong thời gian qua, hoạt động
của CIC đã có những đóng góp rất tích cực vào việc nâng cao chất lƣợng hoạt động
tín dụng tại các TCTD, góp phần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên, hoạt động của CIC hiện vẫn còn hạn hẹp về quy mô, chất lƣợng
còn thấp so với chuẩn quốc tế. Trƣớc yêu cầu hội nhập và nhu cầu tín dụng ngày
càng cao, hoạt động của CIC cần đƣợc phát triển mạnh mẽ hơn. Trong bối cảnh đó,
tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài "Phát triển hoạt động thông tin tín dụng tại
Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam ” làm đề tài nghiên cứu luận
văn thạc sĩ với mong muốn áp dụng những kiến thức tiếp thu đƣợc trong chƣơng trình
học đóng góp một phần nhỏ bé vào sự phát triển của Trung tâm Thông tin tín dụng
- Đối tƣợng nghiên cứu: hoạt động TTTD tại Trung tâm Thông tin tín dụng
Quốc gia Việt Nam bao gồm các hoạt động chính: Thu thập và xử lý thông tin, Lƣu
trữ thông tin, Cung cấp thông tin.
- Phạm vi nghiên cứu :
+ Về không gian : Đề tài đƣợc nghiên cứu tại Trung tâm Thông tin tín dụng
Quốc gia Việt Nam.
3
+ Về thời gian : Đề tài này đƣợc thực hiện với bộ dữ liệu thu thập đƣợc
trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến 2013.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, bao gồm 4 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển
hoạt động thông tin tín dụng
Chương 2: Phƣơng pháp luận và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng phát triển hoạt động thông tin tín dụng tại trung tâm
thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam
Chương 4: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động thông tin tín dụng
tại trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam
4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN
CỨU VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN DỤNG
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động trong môi trƣờng cạnh tranh
quyết liệt nhất và chứa đựng nhiều rủi ro nhất cả về tính đa dạng và mức độ thiệt
hại. Trong thực tế hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam
trong thời gian qua cho thấy tỷ lệ nợ không đủ tiêu chuẩn còn cao. Có nhiều nguyên
nước Việt nam đến năm 2010”, mã số VNH.03.01. Công trình nghiên cứu đã đƣa ra
cơ sở lý thuyết của hoạt động TTTD, nghiên cứu thực trạng hoạt động TTTD của
NHNN Việt Nam với trọng tâm chính là Trung tâm TTTD, đƣa ra các giải pháp
thiết thực, cụ thể cho phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm
TTTD NHNN Việt Nam đến năm 2010.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện “Giải pháp hoàn thiện một bước việc
phân tích, xếp loại doanh nghiệp đối với hoạt động thông tin tín dụng”, Nguyễn
Hữu Đƣơng (2002). Trong nghiên cứu này, tác giả đã đƣa ra một phƣơng pháp
đánh giá, xếp loại tín dụng doanh nghiệp có quan hệ tín dụng để đáp ứng nhu cầu
thực tiễn tại trung tâm TTTD.
“Nghiên cứu về hệ thống chấm điểm tín dụng thể nhân tại trung tâm thông
tin tin dụng quốc gia Việt Nam” , Lã Kim Phụng (2009), chỉ ra những lý luận
chung của chấm điểm tín dụng, các tiêu chí chấm điểm tín dụng, phân tích thực
trạng hệ thống chấm điểm tín dụng tại Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt
Nam. Trên cơ sở lý thuyết, cũng nhƣ tình hình thực tại, tác giả đề ra các giải pháp
nhằm phát triển hệ thống tín dụng thể nhân tại Trung tâm thông tin tín dụng quốc
gia Việt Nam.
“ Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tại Trung tâm Thông tin tín dụng
quốc gia Việt Nam”, Phạm Thị Mai Phƣơng (2012), nghiên cứu cơ bản về sản phẩm
cảnh báo đang có; một số vấn đề cơ bản của cảnh báo tín dụng; quy trình thu thập
thông tin, các bƣớc tiến hành cảnh báo rủi ro, làm rõ các chỉ tiêu phân tích, các
phƣơng pháp dùng trong cảnh báo tín dụng; thực trạng hệ thống chỉ tiêu cảnh báo
tín dụng với những hạn chế, tồn tại và chỉ ra nguyên nhân của hạn chế, tồn tại trên.
6
Tác giả đã đƣa ra hệ thống các chỉ tiêu cảnh báo tín dụng nhằm hỗ trợ việc đánh giá
rủi ro sớm của Doanh nghiệp giúp cho tín dụng Ngân hàng tránh đƣợc những tổn
thất, mất mát trong hoạt động cho vay của mình. Trên cơ sở những thực trạng thực
tế đang tiến hành tại Việt Nam, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể khắc phục
những mặt còn tồn tại, nhằm củng cố, hoàn thiện và phát triển hoạt động cảnh báo
3. Nguyễn Hữu Đƣơng (2005), “Đẩy mạnh hoạt động thông tin tín dụng nhằm
nâng cao chất lƣợng quản trị rủi ro tại các ngân hàng thƣơng mại Việt nam”, Tạp
chí Ngân hàng, số chuyên đề nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng
thƣơng mại Việt nam, trang 30-38. Chuyên đề đã nêu ra các giải pháp đƣa thông tin
tín dụng phát triển, đi sâu vào thực tế đối với các hoạt động của NHTM, đặc biệt là
quản trị rủi ro, giúp cho việc quản trị rủi ro đƣợc hiệu quả hơn
4. Nguyễn Hữu Đƣơng (2004), “Lịch sử hoạt động thông tin tín dụng và xếp
loại tín dụng trên thế giới”, Tạp chí Ngân hàng, số 4, trang 64-67. Trong bài viết
này, tác giả liệt kê, tóm tắt, chỉ ra các mô hình hoạt động thông tin tín dụng trên thế
giới với các hình mẫu là Mỹ, Singapore, Pháp,…
5. Nguyễn Hữu Đƣơng (2005), “Công nghệ tin học với hoạt động thông tin tín
dụng”, Tạp chí Tin học Ngân hàng, số Xuân, trang 18-20. Ở chuyên đề này, tác giả
đánh giá vai trò thiết yếu của công nghệ tin học – là một trong những nhân tố chính
quyết định đến hiệu quả của sản phẩm thông tin tín dụng.
Nhìn chung các nghiên cứu bàn về thông tin tín dụng đã khẳng định đƣợc tầm
quan trọng của thông tin tín dụng trong hoạt động của các TCTD. Tuy nhiên, qua nghiên
cứu, rà soát các tài liệu có liên quan, có thể nhận thấy rằng hiện nay hầu nhƣ chƣa có một
nghiên cứu chuyên sâu nào về hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin tín
dụng quốc gia Việt Nam. Chính bởi vậy, đề tài “Phát triển hoạt động thông tin tín dụng
tại Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam” đƣợc lựa chọn.
1.2 Những vấn đề cơ bản về phát triển hoạt động TTTD tại Trung tâm Thông
tin tín dụng Quốc gia Việt Nam
1.2.1. Khái quát sự phát triển của hệ thống thông tin tín dụng trên thế giới
Hệ thống thông tin tín dụng (Credit Reporting System) là một yếu tố quan
trọng của cơ sở hạ tầng tài chính một quốc gia, và là yếu tố cần thiết để tạo điều
8
kiện tiếp cận các dịch vụ tài chính. Chúng hỗ trợ có hiệu quả việc mở rộng tín dụng
một cách lành mạnh và hợp lý trong nền kinh tế, tạo nền tảng phát triển các thị
trƣờng tín dụng an toàn, hiệu quả và cạnh tranh. Để đạt đƣợc mục đích này, các hệ
Mặc dù các văn phòng thông tin tín dụng đầu tiên có thể đƣợc phát hiện từ đầu
những năm 1800 tại London, nhƣng phải đến đầu những năm 1950, các nhà cung
cấp dịch vụ thông tin tín dụng hiện đại mới phát triển nhanh chóng, nhờ những cải
tiến trong công nghệ và mở rộng tín dụng. Cuộc cách mạng này đã tạo điều kiện
tiếp cận tín dụng gần nhƣ khắp mọi nơi trong các thị trƣờng phát triển bằng cách
cho phép ngân hàng chuyển đổi phƣơng pháp cấp tín dụng truyền thống, chủ quan
sang các quy trình cho vay tự động, đƣợc hỗ trợ bởi các yếu tố đầu vào từ các mô
hình định lƣợng. Kết quả là, ngƣời cho vay có thể cung cấp các dịch vụ tài chính
với chi phí giảm đáng kể và mở rộng tín dụng cho các phân đoạn thị trƣờng rộng
hơn của nền kinh tế, do đó, tiếp tục quá trình dân chủ hóa các dịch vụ tín dụng. Đặc
biệt, sự ra đời của hệ thống chấm điểm tín dụng trong những năm 1950 ở Hoa Kỳ,
cùng với sự tự động hóa quy trình làm việc và thẩm định tín dụng, đóng vai trò
quan trọng trong việc tăng nhanh chóng cho vay tiêu dùng.
Châu Mỹ La tinh có một số văn phòng thông tin tín dụng lâu đời nhất trên thế
giới, nhƣng chỉ thực sự phát triển từ những năm 1990 khi các văn phòng thông tin
tín dụng tƣ nhân bắt đầu phát triển rầm rộ trong hầu hết các thị trƣờng mới nổi. Từ
năm 1990 đến năm 2011, số lƣợng các văn phòng thông tin tín dụng trên thế giới
gần nhƣ tăng gấp ba lần. Ở châu Á, nhiều thị trƣờng hƣớng về các hệ thống tin tín
dụng tƣ nhân sau cuộc khủng hoảng tài chính vào cuối năm 1990. Những diễn biến
mới trong các hệ thống thống tin tín dụng cũng đang đƣợc chứng kiến ở Trung Á,
cụ thể là Azerbaijan, Cộng hòa Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan, Nepal và Mông
Cổ. Từ đầu những năm 1990 đến cuối những năm 2000, một số lƣợng lớn các văn
phòng thông tin tín dụng xuất hiện ở Đông Âu. Trong vài năm qua, khu vực Trung
Đông và Bắc Phi đã chứng kiến sự quan tâm ngày càng tăng đối với hệ thống thông
tin tín dụng, với việc thành lập các văn phòng thông tin tín dụng tại Ma-rốc và Ai
Cập, và những diễn biến mới đang diễn ra ở các nƣớc Bắc Phi khác. Ngoài ra, còn
có nhiều bƣớc phát triển mới trong tiểu vùng Sahara châu Phi, với sự thành lập các
10
văn phòng thông tin tín dụng ở Ghana, Uganda, Kenya, Rwanda, Botswana, và các
hiệu quả của hệ thống thông tin tín dụng; đồng thời chịu trách nhiệm về tính bền
vững của hoạt động, báo cáo cho các cổ đông (nếu có), tuân thủ các yêu cầu quản
lý, cơ chế quản trị, vấn đề nhân sự, và xử lý khiếu nại của ngƣời tiêu dùng.
TTTTTD khác với các cơ quan xếp hạng tín dụng, chẳng hạn nhƣ Standard
& Poors, Moody &và Fitch ở chỗ, các cơ quan xếp hạng tín dụng thu thập thông tin
tài chính của các công ty lớn; tiến hành phân tích chi tiết hoạt động kinh doanh, tài
chính và quản trị của công ty; và sau đó, công bố thứ hạng tín dụng. Trong khi đó,
TTTTTD tập trung vào các chủ nợ nhỏ hơn; họ tập trung vào hồ sơ trả nợ vay và
dựa trên phân tích thống kê số lƣợng mẫu lớn khách hàng vay chứ không phân tích
sâu các công ty cá thể.
1.2.2.2. Phân loại TTTTTD
Có nhiều cách phân loại TTTTTD, đề tài chọn cách phân loại theo IFC, trong
đó, TTTTTD có thể đƣợc tạm chia thành ba nhóm tƣơng đối đồng nhất, nhƣng
không phải là loại trừ nhau: văn phòng thông tin tín dụng (credit bureaus), cơ quan
đăng ký tín dụng (credit registries) và công ty thông tin tín dụng thương mại
(commercial credit reporting companies). Nội dung cơ sở dữ liệu, khách hàng, các
sản phẩm và dịch vụ liên quan do 3 nhóm nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng
có sự khác biệt giữa các quốc gia. Có sự khác biệt rõ rệt giữa ba loại hình TTTTTD
về những điểm mạnh và điểm yếu, các mô hình hoạt động, và thị trƣờng mà họ phục
vụ. Tất cả ba loại hình TTTTTD có thể cùng tồn tại trong một thị trƣờng nhất định
dựa trên cơ sở quy mô thị trƣờng, khẩu vị thị trƣờng, mức độ phát triển tài chính, và
văn hóa tín dụng.
a. Văn phòng thông tin tín dụng (Credit bureaus)
Văn phòng thông tin tín dụng, thƣờng do khu vực tƣ nhân sở hữu và vận hành,
cung cấp thông tin tín dụng của khách hàng vay cá nhân, các doanh nghiệp nhỏ và
siêu nhỏ cho các nhà cung cấp tín dụng đa dạng. Họ thu thập thông tin theo một
định dạng tiêu chuẩn từ nhiều nhà cung cấp tín dụng, bao gồm các ngân hàng, các
công ty thẻ tín dụng và tổ chức tài chính phi ngân hàng khác. Họ cũng thu thập và
cung cấp nhiều thông tin công khai có sẵn nhƣ bản án, thông báo phá sản, và thông
12
13
ngƣời cho vay sẽ thanh toán cho văn phòng thông tin tín dụng dƣới hình thức một
khoản lệ phí đăng ký, lệ phí cho mỗi truy vấn có giảm giá tùy theo số lƣợng, hoặc
kết hợp cả hai.
Trƣớc đây, văn phòng thông tin tín dụng chỉ đƣợc thu thập thông tin cá nhân.
Trong những năm gần đây, với việc mở rộng cho vay doanh nghiệp nhỏ và những
tiến bộ trong công nghệ thông tin, nhiều văn phòng thông tin tín dụng có thể đối
chiếu và bán các báo cáo về các doanh nghiệp nhỏ. Theo số liệu điều tra của Doing
Business, hơn 80% trong số 100 đáp viên là văn phòng thông tin tín dụng có ít nhất
một số thông tin về công ty. Việc thu thập thông tin của cả cá nhân và doanh nghiệp
tại văn phòng thông tin tín dụng cho phép đánh giá tổng hợp tình hình kinh doanh
của một doanh nghiệp và chủ sở hữu của nó. Lịch sử tín dụng của một chủ doanh
nghiệp nhỏ là một dự báo quan trọng về rủi ro tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ,
bởi vì chủ các doanh nghiệp nhỏ thƣờng kết hợp tài chính cá nhân và doanh nghiệp.
Trong khi văn phòng thông tin tín dụng có quyền truy cập vào một loạt các dữ
liệu và cung cấp một loạt các dịch vụ để hỗ trợ ngƣời cho vay trong quá trình xét
duyệt cho vay, mô hình kinh doanh thƣờng dựa trên sự chia sẻ thông tin một cách tự
nguyện của các các nhà cung cấp dữ liệu (thƣờng liên quan đến một thỏa thuận có
đi có lại). Trong giai đoạn hình thành môi trƣờng thông tin tín dụng, có thể có tâm
lý phản đối quan điểm chia sẻ thông tin từ một số nhà cung cấp dữ liệu tiềm năng,
phổ biến nhất là các tổ chức lớn hơn không muốn chia sẻ dữ liệu khách hàng vì lo
ngại mất thị phần của họ. Trong những trƣờng hợp này, thẩm quyền của ngân hàng
trung ƣơng với tƣ cách là ngƣời giám sát hệ thống thông tin tín dụng hoặc cơ quan
giám sát những ngƣời cho vay, thông qua khả năng của mình để thuyết phục tham
gia trong môi trƣờng chia sẻ dữ liệu, có thể có tác dụng xúc tác sâu sắc trong việc
hình thành những thực tiễn tốt.
b. Cơ quan đăng ký tín dụng (credit registries)
Về mặt lịch sử,cơ quan đăng ký tín dụng có mục đích khác với văn phòng
thông tin tín dụng. Hầu hết các cơ quan đăng ký tín dụng thuộc sở hữu và điều hành