Giải quyết việc làm cho học sinh trường Trung Cấp Nghề Dân tộc nội trú An Giang hiện nay - Thực trạng và giải pháp - Pdf 29

1

MỞ ĐẦU

Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi
quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn
như Việt Nam. Giải quyết việc làm cho người lao động trong sự phát triển của
thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động,
góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận
dụng lợi thế để phát triển tiến kịp khu vực và thế giới.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, Đảng ta đã đề ra được nhiều
chủ trương đường lối thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nguồn nhân lực,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu
cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nhiều việc làm cho người
lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống
nhân dân, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chiến lược phát triển
kinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2020 nêu rõ: “Thực hiện tốt các chính sách về lao
động, việc làm, tiền lương, thu nhập nhằm khuyến khích và phát huy cao nhất
năng lực của người lao động. Bảo đảm quan hệ lao động hài hoà, cải thiện môi
trường và điều kiện lao động. Đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc làm. Nâng cao
chất lượng và hiệu quả hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài. Hỗ trợ học nghề và tạo việc làm cho các đối tượng chính sách, người
nghèo, lao động nông thôn và vùng đô thị hoá….”. Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X xác định rõ: “Phát triển thị trường lao động trong mọi khu
vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung – cầu lao động, phát huy tính tích cực của người
lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm”.
Do đó, dưới dự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ và
sự nỗ lực vươn lên của nhân dân, trong những năm qua công tác dạy nghề, giải
quyết việc làm đã thu được nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên so với yêu cầu
2


Luật dạy nghề đưa ra khái niệm như sau: “Dạy nghề là hoạt động dạy và
học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người
học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành
khoá học”.
Như vây, đào tạo nghề là hoạt động trang bị năng lực (tri thức, kỹ năng và
thái độ) hành nghề cho người lao động để người lao động có thể tìm việc làm
hoặc tự tạo việc làm.
1.1.2 Phân loại đào tạo nghề
Căn cứ vào nghề đào tạo và người học gồm có đào tạo mới, đào tạo lại và
đào tạo nâng cao.
Căn cứ vào thời gian đào tạo gồm có đào tạo ngắn hạn (dưới 3 tháng, sơ
cấp nghề) và dài hạn (trung cấp nghề, cao đẳng nghề…).
4

1.2. Việc làm
1.2.1. Khái niệm
Đứng dưới mỗi góc độ khác nhau, có những cách hiểu khác nhau về việc
làm. Nếu xem xét dưới góc độ kinh tế - xã hội và góc độ pháp lí thì ta có thể tóm
tắt khái niệm việc làm như sau:

Cụ thể:
- Dưới góc độ kinh tế - xã hội
Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm. Việc làm
trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của cá nhân.
Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt
động lao động nhất định. Người có việc làm chính là khái niệm dùng để chỉ
những người hiện đang tham gia các hoạt động đó. Tùy theo mức độ tham gia và
thu nhập từ những hoạt động này mà có thể chia đối tượng này thành hai loại là:
người có việc làm đầy đủ và người có việc làm không đầy đủ.
Tuy nhiên, con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá

bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá
nhân. Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của
từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung
vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ
6

sở hạ tầng, ), vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay
nghề, trình độ văn hoá thấp, ).
Đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là
đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên
tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu
và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa
việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển
bền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao
động.
Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên
xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động
tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực. Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc
làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh
trong xã hội , không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần
hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ…Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo
đáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời
sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người. Con người
có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu
cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi không có
việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là
nguyên nhân của các tệ nạn xã hội.
1.3. Giải quyết việc làm
1.3.1. Khái niệm
Giải quyết việc làm cho người lao động là phát huy, sử dụng tiềm năng

di dân tự do.
8

- Giải quyết việc làm tốt cho lao động nông thôn, lao động người dân
tộc thiểu số tạo ra tinh thần tích cực làm việc cho người lao động, đồng thời tạo
ra thu nhập ổn định cho họ, làm cho họ không nghĩ đến việc di chuyển lên các đô
thị hoặc các vùng khác .
- Nâng cao dân trí, công bằng xã hội .
Thông qua các chính sách đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn
tạo ra một khả năng tiếp thu những thành tựu và ứng dụng của khoa học kỹ thuật,
nâng cao nhận thức người lao động, tạo ra mức thu nhập ổn định cho người lao
động góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa lao động nông thôn và
lao động thành thị .
1.4 . Mối quan hệ giữa dạy nghề và giải quyết việc làm
Đào tạo nghề tạo ra năng lực thực hiện cho người học. Đào tạo để làm
việc, người lao động có năng lực thực hiện, cần phải có chổ làm việc để thực
hiện năng lực đó. Đào tạo nghề trở thành công cụ điều chỉnh sâu cơ cấu, chất
lượng của lực lượng lao động. Việc làm tạo ra nhu cầu đào tạo, người lao động
muốn có việc làm, làm được việc thì phải qua đào tạo, dẫn đến việc làm đặt ra
yêu cầu cho đào tạo. Đào tạo là mô phỏng yêu cầu và hoạt động của việc làm, do
đó có thể nói việc làm quy định nội dung đào tạo.
Trong mối quan hệ gắn kết giữa đào tạo với sử dụng và giải quyết việc
làm phải dựa trên cơ sở nhu cầu lao động trên thị trường lao động. Đào tạo ai,
đào tạo nghề gì, cấp trình độ gì phải do yêu cầu lao động thực tế quyết định.
1.5. Chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam về dạy nghề giải
quyết việc làm
1.5.1. Theo Văn kiện Đại hội X
Văn kiện Đại hội X khẳng định “Giải quyết việc làm là một trong những
chính sách xã hội cơ bản của quốc gia nhằm nhiều biện pháp như: Tăng 50% vốn
đầu tư từ ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ lãi suất tín dụng, thực thi


Tập trung giải quyết các vấn đề về lao động và việc làm, nâng cao chất
lượng đào tạo nghề. Có cơ chế chính sách để khuyến khích, huy động nhiều
nguồn lực đầu tư vào hoạt động dạy nghề, tạo việc làm.
Thực hiện tốt các chính sách bảo đảm an sinh xã hội; có giải pháp giảm
nghèo bền vững, giải quyết tốt các vấn đề về lao động, việc làm, chăm lo các đối
tượng chính sách và người có công; thực hiện bình đẳng giới vì sự tiến bộ của
phụ nữ; làm tốt công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em.
1.5.3. Một số văn bản nhà nước về dạy nghề và giải quyết việc làm
Để chính sách giải quyết việc làm đi vào cuộc sống, Đảng và Nhà nước ta đã
có nhiều chương trình giải quyết việc làm cụ thể.
- Nghị quyết của hội đồng bộ trưởng số 120 – HĐBT ngày 11/04/1992
về chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong những năm
tới.
- Quyết định số 1956/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ngày
27/11/2009 về đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Theo
chương trình này, từ nay đến năm 2020 sẽ đào tạo nghề cho 1 triệu lao động
nông thôn mỗi năm. Đây là chương trình lớn, tạo cơ hội thuận lợi cho lao động
nông thôn trong những năm tới.
- Quyết định số 2442/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2010 của Ủy
ban nhân dân tỉnh An Giang về việc ban hành Đề án “Đào tạo nghề cho lao
động nông thôn tỉnh An Giang đến năm 2020”.
- Quyết định số 29/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ
ban về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm cho đồng
bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long
giai đoạn 2013-2015. 11


thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trong
vùng và nhiều nước trên thế giới. Đồng bào người Hoa phần lớn theo Phật giáo
Đại thừa, đạo Khổng và tín ngưỡng dân gian. Một bộ phận lớn kinh doanh
thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có cuộc sống ổn định,
thu nhập khá hơn so với các dân tộc khác.
2.1.2 Đặc điểm huyện Tri Tôn
Tri Tôn là một huyện miền núi có diện tích lớn nhất và dân cư thưa thớt
nhất tỉnh An Giang, cách thành phố Long Xuyên 52 km về phía Tây, cách Hà
Tiên - Kiên Giang 83 km, cách Châu Đốc 44 km, cách núi Cấm 7 km.
Phía Đông giáp các huyện Châu Thành, Thoại Sơn; phía tây giáp Tịnh
Biên; phía tây nam giáp Campuchia; phía nam giáp tỉnh Kiên Giang.
Diện tích tự nhiên khoảng 60.039,74 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm
74,48%, đất lâm nghiệp chiếm khoảng 8,89%, còn lại là đất ở và đất chuyên
dùng. Địa hình đa dạng, vừa có đồi núi, vừa có đồng bằng với nhiều kênh mương
lớn nhỏ ngang dọc.
Địa hình này mang đậm nét của vùng đồng bằng kênh rạch nhưng có xen
lẫn nhiều đồi núi với điểm cao nhất là đỉnh núi Cô Tô 614m (so với mặt nước
biển), khu vực đồng bằng có độ cao dao động từ 0.8m -2.2m. Bao bọc chung
quanh núi là đồng bằng chân núi, dạng địa hình chuyển tiếp giữa núi và đồng
bằng tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên.
Dân số trung bình (năm 2011) là 132.720 người. Thành phần dân tộc bao
gồm Kinh, Hoa, Khmer. Trong đó, người Khmer chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng 34,
02% (45.149 người) trên tổng dân số toàn Huyện.
13

Nguồn nước ở Tri Tôn khá khan hiếm, chủ yếu là nước giếng và nước
máy. Hiện trên địa bàn huyện Tri Tôn có trên 400 giếng khoan và hơn 3.000
giếng đào phục vụ nước sinh hoạt hằng ngày của người dân.
Dễ dàng nhận thấy đặc điểm tự nhiên, dân cư, dân tộc của Huyện đã ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác dạy nghề và giới thiệu việc làm của

Mặc dù cơ sở vật chất còn thiếu, chưa đáp ứng đủ nhu cầu thiết bị dạy
thực hành nghề nhưng với sự sắp xếp khoa học, linh hoạt của các bộ phận đã
đảm bảo được hoạt động dạy và học của trường theo quy định chung của tổng
cục nghề.
2.2. Thực trạng công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho học sinh
Trƣờng Trung cấp nghề Dân tộc nội trú An Giang
2.2.1. Những kết quả và nguyên nhân đạt đƣợc
2.2.1.1. Những kết quả đạt đƣợc
- Năm 2011:
+ Trường tuyển sinh được 323 học sinh hệ trung cấp gồm 6 lớp ở các nghề
tin học văn phòng, sửa chữa lắp ráp máy tính, bảo vệ thực vật, điện công nghiệp,
hàn. Trong đó có 36 học sinh là người kinh (11%); 287 học sinh là người Khmer
(89%).
+ Dạy nghề thường xuyên: trường chiêu sinh và mở được 39 lớp gồm 1141
học sinh người Khmer ở các nghề chăn nuôi, trồng trọt, điện công nghiệp Đa
số các học sinh sau khi học xong đều có việc làm.
- Năm 2012:
+ Hệ trung cấp, Trường tuyển sinh được: 06 lớp gồm 236 học sinh. Trong
đó, người kinh là 56 học sinh (23,7%); người Khmer là 197 học sinh (75,8%);
người Hoa chiếm 0,4%
15

+ Dạy nghề thường xuyên: tuyển sinh được 9 lớp gồm 257 học sinh ở các
nghề Trồng rau màu, may công nghiệp, điện dân dụng.
- Năm 2013:
+ Hệ trung cấp: đang chiêu sinh
+ Dạy nghề thường xuyên đến thời điểm hiện tại tuyển sinh được 90 học
sinh (3 lớp) ở các nghề như trồng rau màu, nấm rơm, móc chỉ len
Nhìn chung học sinh lớp nghề hệ Trung cấp còn đang học, đến năm 2014
khóa đầu tiên sẽ tốt nghiệp ra Trường. Còn các học sinh tìm được việc làm hiện

- Một bộ phận người lao động nhận thức về học nghề còn hạn chế. Thậm
chí còn cho rằng, sản xuất nông nghiệp chủ yếu theo kinh nghiệm, không phải
học, nên công tác tư vấn, tuyển sinh gặp khó khăn. Nhiều học sinh đi học để
hưởng chế độ ưu tiên, không yêu nghề nên các em thường bỏ học, vắng học,
trường phải tuyển sinh bổ sung, thực hiện tiến độ đào tạo có khi chưa phù hợp
với kế hoạch đề ra, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo…Một bộ phận khác chỉ
nhận thức bằng đại học, ngay cả khi có quy định siết chặt đào tạo liên thông thì
phần lớn học sinh cũng quyết tâm thi đại học chứ không chọn vào các trường
thuộc khối cao đẳng kỹ thuật hay các trường nghề.
- Việc giới thiệu học sinh sau khi học nghề đi làm việc tại các doanh
nghiệp chưa được quan tâm đúng mức, đa số các em sau khi học xong đều tự tìm
việc hoặc thông qua cò việc làm dẫn đến chế độ bảo hiểm, tiền lương của các em
không được chi đúng mức.
2.2.2.2. Những nguyên nhân dẫn đến hạn chế
Hiệu quả giải quyết việc làm cho học sinh sau khi học xong là không cao
là do những nguyên nhân sau:
- Thứ nhất như ta đã biết Tri Tôn là một huyện miền núi, diện tích phần
lớn là đồi núi, vị trí địa hình chia cắt phức tạp, khoảng cách từ trung tâm huyện
17

đến các khu đô thị lớn quá xa, điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt. Do đó,
ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội nông thôn nói chung và
vấn đề giải quyết việc làm nói riêng. Thực tế cũng cho thấy ở đâu có điều kiện tự
nhiên kinh tế xã hội thuận lợi, có đời sống vật chất tinh thần cao thì ở đó các
ngành nghề sản xuất, dịch vụ phát triển và tập trung nhiều lao động việc làm hơn
- Thứ hai, yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội là năng suất lao
động, mà năng suất lao động lại phụ thuộc rất lớn vào chất lượng nguồn lao
động. Nguồn lao động là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh yếu tố: trình độ văn
hoá, trình độ kỹ thuật, tay nghề, thể trạng sức khỏe của người lao động. Mặt
khác, có việc làm- trình độ học vấn- trình độ tay nghề có mối quan hệ mật thiết

nước mà chưa tự lực để thoát khỏi cảnh khó khăn.
Hơn nữa, do trình độ quản lý của một số cán bộ lãnh đạo các cấp địa
phương còn hạn chế. Do vậy mà nhiều dự án chính sách đầu tư cho lao động cả
nước nói chung và cho lao động nông nghiệp, nông thôn nói riêng còn bất hợp lý
dẫn đến hiệu quả trong vấn đề giải quyết việc làm không cao.

19

CHƢƠNG III
MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC DẠY
NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO HỌC SINH TRƢỜNG
TRUNG CẤP NGHỀ DÂN TỘC NỘI TRÚ AN GIANG ĐẾN NĂM 2015

3.1 . Mục tiêu
3.1.1 Mục tiêu chung
Đào tạo ra nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có
năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm
nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều
kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc
làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
3.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Phải sử dụng hết công suất của các đồ dùng dạy học hiện có.
- Tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, thường xuyên ứng dụng công
nghệ thông tin trong giờ giảng, sử dụng hiệu quả các đồ dùng thiết bị dạy học.
- Tăng cường công tác kiểm tra hoạt động dạy và học để nâng cao chất
lượng chuyên môn trong từng nghề.
- Năng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giỏi tay nghề, có trình độ chuyên
môn cao, có tư cách, đạo đức gương mẫu.
- Giáo dục tư tưởng, ý thức học tập cho học sinh

chóng đào tạo công nhân sơ cấp ở thời kỳ đầu nhằm đáp ứng sự phát triển của
các ngành công nghiệp ở khu công nghiệp này. Để làm được điều này cần có sự
phối hợp giữa cơ quan nhà nước với khu công nghiệp và nhà trường để lựa chọn
21

ngành nghề đào tạo, đào tạo nghề cho người lao động có nhu cầu vào làm việc
trong các khu công nghiệp.
3.2.2 Biện pháp thông tin, tuyên truyền
Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận
thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị
trí chiến lược của phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và vai trò của
công tác dạy nghề trong việc nâng cao chất lượng lao động nông thôn. Đồng
thời, cung cấp thông tin cho người lao động để có sự lựa chọn chính xác trong
việc học nghề và tìm kiếm việc làm phù hợp với tình hình thực tế thị trường
lao động của tỉnh
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối
với công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Xác định đây là một trong
những chiến lược quan trọng, có tính lâu dài trong việc phát triển kinh tế - xã
hội, xây dựng nông thôn mới ở địa phương. Dạy nghề cho lao động nông thôn
phải xuất phát từ nhu cầu người học, nhu cầu sử dụng lao động của doanh
nghiệp và của xã hội. Quan tâm đến việc dạy nghề cho những đối tượng thuộc
hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, các đối tượng
chính sách và lao động ở những địa phương hình thành phát triển các khu, cụm
công nghiệp của tỉnh. Xây dựng và nhân rộng các mô hình dạy nghề có hiệu
quả.
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa dạy nghề, giải quyết việc làm. Huy động
các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp và nhân dân tích cực tham gia
vào công tác dạy nghề, tạo việc làm cho lao động nông thôn. Đẩy mạnh các
hoạt động hỗ trợ về vốn, phương tiện sản xuất, thiêu thụ sản phẩm và giới
thiệu việc làm cho lao động nông thôn sau khi học nghề.

23

khích các hộ gia đình đầu tư phát triển các loại hình trang trại nhằm tạo ra sản
phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành theo hướng CNH – HĐH.
3.2.6 Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công chức làm công tác
lao động, việc làm
Con người là nhân tố quyết định đến sự phát triển, do vậy nâng cao trình
độ đội ngũ cán bộ công chức là việc làm hết sức cần thiết nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước nói chung và công tác quản lý về nhà nước về lao động,
việc làm nói riêng. Đặc biệt là cấp sở, trong hệ thống hành chính Nhà nước chính
quyền cấp cơ sở là cấp trực tiếp chuyển tải chính sách, pháp luật của Nhà nước
tới người dân. Nếu cấp này yếu thì các cấp hành chính ở trên dẫu có mạnh cũng
không thể có hiệu quả.
Do vậy, cần phải có chính sách ưu đãi, đãi ngộ thích hợp để học viên
mới ra trường về làm việc ở cấp cơ sở.
Đồng thời phải làm tốt công tác tuyển chọn, bố trí cán bộ công chức có
trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác được giao. Vì quản lý tốt
về giải quyết tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý các lĩnh vực xã hội khác.

24

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

1. Kết luận
Dạy nghề, tạo việc làm cho người lao động và tình trạng thất nghiệp là
một trong những vấn đề mang tính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của hầu hết các
quốc gia, trong đó có nước ta. Trên phạm vi cả nước nói chung, của huyện Tri
Tôn và của Trường nói riêng, giải quyết việc làm đang là vấn đề cơ bản lâu dài,
vừa mang tính trước mắt, đồng thời cũng rất khó khăn.

điều kiện cho giáo viên tham gia học các lớp chính trị.
2.4 Đối với Trƣờng Trung cấp nghề Dân tộc nội trú An Giang
Cần quan tâm nhiều hơn nữa đến các khoa chuyên môn nghề. Ưu tiên
tuyển dụng các giáo viên dạy nghề có kinh nhiệm, trình độ, kỹ thuật cao.
Ưu tiên đầu tư thiết bị, nguyên vật liệu dạy nghề, đáp ứng kịp thời nhu cầu
dạy và học của học sinh cùng giáo viên.
Tạo mối liên hệ, liên kết với các cơ sở, các công ty, doanh nghiệp trên địa
bàn và ở các địa phương khác. Dạy nghề theo đơn đặt hàng của các doanh
nghiệp. Đảm bảo cho mỗi học sinh ra trường đều có việc làm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status