Một số vấn đề lý luận và quy định hiện hành của pháp luật về thuế đất đai - Pdf 29

Bài tập học kỳ môn Luật Tài chính. Nguyễn Việt Hương. DS33A002
Lời nói đầu:
Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993, Pháp lệnh Thuế nhà, đất
năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 1994), và ngay cả Luật Thuế chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đã hết hiệu lực thi hành đều đã có những đóng góp không nhỏ
trong công tác quản lý thuế của nước ta. Các văn bản trên đã ra đời và tồn tại
hơn 15 năm, có thể thấy đây là những sắc thuế ít có sự sửa đổi bổ sung nhất
trong hệ thống pháp luật thuế hiện hành ở nước ta bởi mục tiêu chủ yếu của Nhà
nước khi ban hành các loại thuế này là để thể hiện sự quản lý nhà nước đối với
đất đai. Tuy nhiên càng về sau nay những bất cập về pháp luật thuế về đất đai
càng bộc lộ rõ so với sự phát triển của kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, việc xem
xét đánh giá những bất cập để tìm ra giải pháp sửa đổi, bổ sung cho pháp luật
thuế về đất đai của nước ta là vô cùng cần thiết.
I. Một số vấn đề lý luận và quy định hiện hành của pháp luật về thuế
đất đai:
1. Khái niệm thuế đối với đất đai:
Một cách khái quát, thuế về đất đai được hiểu là các loại thuế đánh vào việc
sử dụng hoặc có quyền sử dụng đối với đất đai (hoặc đánh vào quyền sở hữu
đất)
1
Việt Nam hiện nay áp dụng hai loại thuế liên quan đến đất đai: thuế sử
dụng đất nông nghiệp; thuế nhà, đất.
2
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp: là loại thuế thu vào việc sử dụng đất nông
nghiệp hoặc việc được giao đất vào sản xuất nông nghiệp. Nếu chủ thể có quyền
sử dụng đất nông nghiệp mà không sử dụng thì họ vẫn phải nộp loại thuế này.
3
1
Trang 247 Giáo trình Luật thuế Việt Nam. Đại học Luật Hà Nội, 2008.
2
Trước thời điểm 1/1/2004, Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất điều chỉnh việc thu thuế đối với tổ chức, hộ gia

pháp luật sau:
- Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 31/7/1992 sửa đổi bố sung năm 1994;
- Nghị định số 94/CP ngày 25/08/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Pháp lệnh về thuế nhà, đất và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của
Pháp lệnh thuế nhà, đất;
4
Trang 250 Giáo trình Luật thuế Việt Nam. Đại học Luật Hà Nội, 2008.
2
Bài tập học kỳ môn Luật Tài chính. Nguyễn Việt Hương. DS33A002
- Thông tư số 83-TC/TCT ngày 07/10/1994 của Bộ tài chính hướng dẫn thi
hành Nghị định số 94/CP ngày 25/08/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Pháp lệnh về thuế nhà, đất;
- Thông tư số 71/2002/TT-BTC ngày 19/08/2002 của Bộ tài chính về sửa
đổi Thông tư số 83-TC/TCT ngày 07/10/1994 của Bộ tài chính hướng dẫn thi
hành Nghị định số 94/CP ngày 25/08/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Pháp lệnh về thuế nhà, đất.
Tuy Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đã được đã được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua
ngày 17 tháng 6 năm 2010 nhưng phải đến ngày 01 tháng 01 năm 2012 Luật
Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp mới có hiệu lực thi hành để thay thế cho Pháp
lệnh thuế nhà đất năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 1994).
4. Nội dung pháp luật thuế hiện hành đối với đất đai:
4.1. Đối tượng chịu thuế:
- Đối tượng chịu thuế của Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp là đất sử dụng
vào sản xuất nông nghiệp gồm: đất trồng trọt; đất có mặt nước nuôi trồng thủy
sản; đất rừng trồng. Các đối tượng không phải chịu thuế sử dụng đất nông
nghiệp mà chịu các loại thuế khác gồm đất rừng tự nhiên; đất đồng cỏ tự nhiên;
đất dùng để ở, đất chuyên dùng.
- Đối tượng chịu thuế của Pháp lệnh thuế nhà, đất là: đất ở; đất xây dựng
công trình. Các đối tượng không phải nộp thuế nhà, đất gồm: đất sử dụng vì lợi

cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc diện tích ghi trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Trường hợp
địa phương chưa làm sổ địa chính hoặc chưa có kết quả đo đạc được xác nhận
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì diện tích đất tính thuế là diện tích ghi
trong tờ khai của từng hộ nộp thuế.
6
- Đối với thuế nhà, đất: diện tích đất để tính thuế đất ở, đất xây dựng công
trình bao gồm: diện tích mặt đất xây nhà ở, công trình và các diện tích khác
trong khuôn viên đất ở; đất xây dựng công trình bao gồm cả diện tích đường đi
5
Điều 5 Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp; Điều 6 Pháp lệnh thuế nhà đất;
6
Điều 6 Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp; Điều 6 Nghị định số 74/CP ngày 25 tháng 10 năm 1993;
4
Bài tập học kỳ môn Luật Tài chính. Nguyễn Việt Hương. DS33A002
lại, diện tích sân, diện tích bao quanh nhà, quanh công trình kiến trúc, diện tích
trồng cây, diện tích ao hồ và các diện tích để trống.
7
• Hạng đất:
- Đối với thuế sử dụng đất nông nghiệp: đất được phân hạng dựa vào các
yếu tố như chất đất; vị trí; địa hình; điều kiện khí hậu, thời tiết; điều kiện tưới
tiêu; đồng thời tham khảo năng suất bình quân đạt được trong điều kiện canh tác
bình thường của năm năm
8
.
- Đối với thuế nhà, đất: đất thuộc vùng đô thị, hạng đất được xác định căn
cứ vào loại đô thị, loại đường phố, khu phố và vị trí đất. Đối với đất vùng ven đô
thị, ven trục giao thông chính và đất thuộc vùng nông thôn, không xác định hạng
đất để xác định mức thuế mà căn cứ vào mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao
nhất trong vùng.

1. Bất cập về đối tượng chịu thuế:
Hiện nay pháp luật sử dụng đất nông nghiệp hiện hành quy định chỉ có đất
trồng trọt, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đất rừng trồng phải chịu thuế sử
dụng đất nông nghiệp; còn đất ở và đất xây dựng công trình chịu sự điều chỉnh
của Pháp Lệnh thuế nhà đất. Tuy nhiên ta có thể khẳng định rằng Pháp lệnh thuế
nhà, đất hiện hành chưa bao quát được hết các đối tượng chịu thuế sử dụng đất.
Vẫn còn nhiều loại đất khác chưa có văn bản pháp luật nào quy định phải nộp
thuế sử dụng đất.
Vì vậy, Nhà nước cần sớm ban hành các văn bản cụ thể về việc tính thuế
đối với các loại đất khác mà người sử dụng đất khai thác, sử dụng những thuộc
tính có ích của đất nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ cho ngân sách Nhà nước,
đồng thời đảm bảo tính hợp lý, bình đẳng giữa các chủ thể sử dụng đất trong
việc thực nghĩa vụ đối với Nhà nước.
2. Bất cập về căn cứ tính thuế:
Thứ nhất: việc xác định diện tích đất tính thuế còn nhiều bất cập:
- Đối với thuế sử dụng đất nông nghiệp: một thực tế là, yêu cầu các tài liệu
chứng minh diện tích đất sử dụng thường khó đáp ứng được đầy đủ nên cơ quan
thuế chủ yếu dựa vào phần tự kê khai của đối tượng nộp thuế. Do đó khó tránh
khỏi kê khai gian lận và mất công cho chi phí xác minh, kiểm tra.
- Đối với thuế nhà, đất: để đảm bảo xác định diện tích tính thuế một cách
chính xác thì cần phải có đủ 3 loại tài liệu sau: giấy giao quyền sử dụng đất, bản
đồ địa chính của lô đất, số liệu đo đạc thực tế với diện tích đất đang sử dụng.
Tuy nhiên việc có được đầy đủ 3 loại giấy tờ trên là không hề đơn giản, bởi vậy
cũng giống như đối với việc nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, các trường hợp
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status