SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG HỌC TẬP GẮN VỚI THỰC TIỄN TRONG BÀI GIẢNG HÓA HỌC 12 - Pdf 29

XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG HỌC TẬP GẮN VỚI THỰC TIỄN TRONG
BÀI GIẢNG HÓA HỌC 12
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đào tạo những người lao động phát triển toàn diện, có tư duy sáng tạo, có
năng lực thực hành giỏi, có khả năng đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao trước yêu cầu
đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá gắn với phát triển nền kinh tế trí thức và
xu hướng toàn cầu hoá là nhiệm vụ cấp bách đối với ngành giáo dục nước ta hiện
nay. Để thực hiện được nhiệm vụ đó sự nghiệp giáo dục cần được đổi mới. Một
trong những nhiệm vụ và giải pháp lớn về giáo dục được đề ra trong Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng là: "Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Đổi mới cơ cấu, tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng chuẩn
hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”. Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực
hành của người học. Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội" .
"Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
học tập cho học sinh".
Mặc dù là ngành khoa học có tính trừu tượng cao nhưng Hóa học có mối
liên hệ chặt chẽ với thực tiễn và có thể ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực
khác nhau: nghiên cứu nhiều ngành khoa học và là công cụ để hoạt động trong sản
xuất và đời sống thực tế. Mặc dù vậy, do nhiều lí do khác nhau mà SGK Hóa phổ
thông nói chung, sách Hóa Học nói riêng, chưa thực sự quan tâm đúng mức,
thường xuyên tới việc làm rõ mối liên hệ với thực tiễn, nhằm bồi dưỡng cho học
sinh ý thức và năng lực vận dụng những hiểu biết Hóa học vào việc học tập các
môn học khác, giải quyết nhiều tình huống đặt ra trong cuộc sống lao động sản
xuất. Bên cạnh đó, thực trạng dạy học Hóa ở trường phổ thông cho thấy rằng, đa
số giáo viên chỉ quan tâm tới việc truyền thụ lí thuyết, thiếu thực hành và liên hệ
kiến thức với thực tiễn. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học và nội dung
sách giáo khoa của Bộ giáo dục và Đào tạo đã xác định rõ: Cần dạy học theo cách
sao cho học sinh có thể nắm vững tri thức, kĩ năng và sẵn sàng vận dụng vào thực

thực tiễn đời sống thường ngày là một tất yếu có tác dụng kích thích tính chủ
động, sáng tạo, hứng thú trong môn học; làm cho hoá học không khô khan, bớt đi
tính đặc thù và phức tạp từ đó mở ra con đường để người học đến gần hơn với
môn hóa học.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thuận lợi
Môn hóa học là môn học trong nhóm môn Khoa học tự nhiên. Môn Hóa học
cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học phổ thông, cơ bản về chất, sự biến
đổi các chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học, môi trường và con
người. Những tri thức này giúp học sinh có nhận thức khoa học về thế giới vật
Trang 2
chất, góp phần phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành
nhân cách con người mới năng động, sáng tạo. Hóa học là bộ môn khoa học gắn
liền với thực tế cuộc sống. Chương trình Hóa học phổ thông gồm kiến thức hóa
học cơ sở nói chung, kiến thức hóa học vô cơ, kiến thức hóa học hữu cơ, với mỗi
phần kiến thức đó đều có thể bắt gặp nhiều ví dụ, hình ảnh sinh động từ thực tế,
xung quanh cuộc sống chúng ta có hàng ngàn hàng vạn điều có thể lý giải nhờ vào
hóa học chính vì thể bộ môn có sức hấp dẫn lớn đối với nhiều học sinh.
Đội ngũ giáo viên trường THPT Dầu Giây năng động, nhiệt tình trong công
tác giảng dạy, không ngừng tìm tòi học hỏi nâng cao năng lực nhằm đáp ứng
nhiệm vụ cấp bách đổi mới giáo dục hiện nay.
Được sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía lãnh đạo, các tổ chức trong nhà trường
đặc biệt là sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo trong tổ cùng với sự góp sức
của các em học sinh.
2.2.2 Khó khăn
Môn hoá học trong trường phổ thông là một trong môn học khó, vị trí và
tình cảm của học sinh dành cho môn học còn hạn chế. Nhiều học sinh lớp 12
mang tâm lý môn học phụ dẫn đến không dành thời gian nhiều cho môn học, thờ ơ
ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của hoá học.
Một lí do khác dẫn đến học sinh chưa thích học môn hóa học xuất phát từ

Vì sao gạo nếp lại dẻo ?
Hướng dẫn: Tinh bột là hỗn hợp của hai thành phần: amilozơ và amilopectin. Hai
loại này thường không tách rời nhau được. Trong mỗi hạt tinh bột, amilopectin là
vỏ bọc nhân amilozơ. Amilozơ tan được trong nước còn amilopectin hầu như
không tan, trong nước nóng amilopectin trương lên tạo thành hồ. Tính chất này
quyết định đến tính dẻo của hạt có tinh bột.
Trong tinh bột, lượng amilopectin chiếm 80%, amilozơ chiếm khoảng 20% nên
cơm gạo tẻ, ngô tẻ, bánh mì thường có độ dẻo bình thường. Tinh bột trong gạo
nếp, ngô nếp chứa lượng amilopectin rất cao, khoảng 90% làm cho cơm nếp, xôi
nếp,… rất dẻo, dẻo đến mức dính.
Vì sao ban đêm không nên để nhiều cây xanh trong nhà?
Hướng dẫn: Ban ngày, do có ánh sáng mặt trời nên cây xanh tiến hành quá trình
quang hợp, hấp thụ CO
2
và giải phóng khí O
2
. Nhưng ban đêm, do không có ánh
sáng mặt trời, cây xanh không quang hợp, chỉ có quá trình hô hấp nên cây hấp thụ
khí O
2
và thải ra khí CO
2
làm cho phòng thiếu khí O
2
và quá nhiều khí CO
2
.
Trang 4
Tình huống 2: áp dụng khi dạy bài amin
Ở nhà khi phụ mẹ đi chợ nấu ăn, ta thường thấy một số loại cá mẹ mua về có mùi

nếu để sắt trong bầu không khí không có nước thì dù có trải qua mấy năm cũng
không hề bị gỉ. Tuy nhiên nếu chỉ riêng một mình nước cũng không hề làm sắt bị
gỉ. Nếu cho mảnh sắt vào trong bình đun sôi với nước cất trong bình kín thì sắt
cũng không bị gỉ. Nguyên nhân là chỉ khi có nước và oxi tác dụng đồng thời mới
Trang 5
làm cho sắt bị gỉ. Ngoài ra khí cacbon đioxit hòa tan trong nước cũng làm cho sắt
bị gỉ. Thành phần của gỉ sắt rất phức tạp, chủ yếu gồm sắt oxit, hiđroxit sắt,
cacbonat sắt v.v
Gỉ sắt vừa xốp, vừa mềm giống như bọt biển. Một mảnh sắt bị gỉ hoàn toàn sẽ
tăng thể tích khoảng 8 lần. Một mảnh sắt gỉ có trạng thái như bọt biển sẽ dễ dàng
hấp thụ nước và nhanh chóng bị rã nát.
Còn có nhiều nhân tố làm sắt dễ bị gỉ: như các muối hòa tan trong nước, bề mặt
trên các đồ vật bằng sắt không sạch, độ thô ráp, thành phần cacbon trong thép
v.v…
Người ta đã nghĩ ra nhiều biện pháp để chống sắt thép bị gỉ. Phương pháp thông
dụng nhất là khoác cho các đồ vật bằng sắt thép một bộ “áo khoác”. Sơn và mạ là
các biện pháp đơn giản để chống gỉ sắt. Trên các cầu sắt cho xe hỏa người ta
thường sơn, trong các ống phun khí nóng người ta phủ lớp sơn xì bằng bột nhôm,
trên các đồ đựng người ta mạ thiếc, các tấm tôn được mạ kẽm v.v…
Biện pháp triệt để nhất để chống sắt gỉ là cấp cho sắt một “lõi bền”, là thêm các
kim loại khác để tạo thép hợp kim không gỉ. Loại thép hợp kim trơ , không rỉ
chính là do người ta đã đưa vào sắt các kim loại niken, crom chế tạo thành thép
không gỉ.
Vì sao để bảo vệ vỏ tàu biển bằng thép, người ta gắn các tấm kẽm vào phía ngoài
vỏ tàu ở phần chìm trong nước biển?
Hướng dẫn: Khi thép và kẽm cùng ở trong nước biển thì sẽ xuất hiện cặp pin điện
hóa. Kẽm là cực âm, thép (thành phần chính là Fe) là cực dương và nước biển là
dung dịch điện li. Trong quá trình ăn mòn điện hóa thì kẽm sẽ bị ăn mòn. Do đó,
vỏ tàu biển được bảo vệ. Đây là phương pháp bảo vệ kim loại bằng phương pháp
điện hóa.

loại kiềm
Vì sao khi luộc rau nên cho vào trước một ít muối ( NaCl)
Hướng dẫn: do nhiệt độ sôi của nước ở 1atm là 100
o
C, nếu ta thêm thì lúc đó
nhiệt độ sôi của nước có muối NaCl là > 100
o
C, do nhiệt đô sôi của nước muối lúc
này cao hơn nhiệt độ sôi của nước nên rau sẽ nhanh chín hơn, thời gian luộc
nhanh rau ít mất vitamin. Vì vậy rau khi đó sẽ mềm và xanh hơn.
Tình huống 8: áp dụng khi dạy bài kim loại kiềm thổ và hợp chất quan trọng của
kim loại kiềm thổ
Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ với những hình dạng phong phú đa dạng
được hình thành như thế nào ?
Hướng dẫn: Ở các vùng núi đá vôi, thành phần chủ yếu là CaCO
3
. Khi trời mưa
trong không khí có CO
2
tạo thành môi trường axit nên làm tan được đá vôi. Những
giọt mưa rơi xuống sẽ bào mòn đá thành những hình dạng đa dạng:
CaCO
3
+ CO
2
+ H
2
O Ca(HCO
3
)

2
(SO
4
)
3
.24H
2
O.
Phèn chua không độc, có vị chát chua, ít tan trong nước lạnh nhưng tan rất nhiều
trong nước nóng. Khi cho phèn chua vào nước sẽ phân li ra ion Al
3+
. Chính ion
Al
3+
này bị thủy phân theo phương trình:
Al
3+
+ 3H
2
O → Al(OH)
3
↓ + 3H
+
Kết quả tạo ra Al(OH)
3
là chất kết tủa dạng keo nên khi khuấy phèn chua vào
nước, nó kết dính các hạt đất nhỏ lơ lửng trong nước đục thành hạt đất to hơn,
nặng và chìm xuống làm trong nước. Nên trong dân gian có câu:
“ Anh đừng bắc bậc làm cao
Phèn chua em đánh nước nào cũng trong”

, đọc trước bài amin
IV. Phương pháp: đàm thoại gợi mở, nêu vấn đề, thuyết trình
V. Tiến trình dạy học
1) Ổn định lớp
Trang 8
2) Vào bài mới
Sử dụng tình huống 2: Ở nhà khi phụ mẹ đi chợ nấu ăn ta thấy một số loại cá
mẹ mua về có mùi tanh khó chịu. Liệu em có tự hỏi tại sao cá lại có mùi tanh? À
đó là vì trong cá có chứa một số amin gây nên mùi tanh. Vậy amin là chất gì?
Tính chất như thế nào? Có cách gì để khử mùi tanh của cá không? Các em sẽ tìm
hiểu câu trả lời trong bài học hôm nay nhé.
Hoạt động của GV và HS Nội dung bài học
Hoạt động 1: tìm hiểu về khái niệm,
phân loại amin
GV cho ví dụ
NH
3
, CH
3
– NH
2
, CH
3
– NH – CH
3
,
C
6
H
5

– NH – CH
3
,
Metylamin đimetylamin
Metanamin N-metylmetanamin
C
6
H
5
NH
2
,
Phenylamin
Benzenamin
(anilin)
 Amin là hợp chất hữu cơ được tạo ra khi thay
thế một hay nhiều nguyên tử hidro trong phân tử
NH
3
bằng gốc hidrocacbon
- bậc của amin được tính bằng số gốc hidrocacbon
liên kết với nguyên tử N
CH
3
CH
2
CH
2
NH
2

9
N
HS lên bảng viết đồng phân, HS khác
nhận xét
GV lưu ý HS : khi viết công thức các
đồng phân cấu tạo của amin, cần viết
đồng phân mạch cacbon và đồng
phân vị trí nhóm chức cho từng loại :
amin bậc I, amin bậc II, amin bậc III
GV: Tương tự yêu cầu HS về nhà viết
đồng phân của C
4
H
11
N
- Theo gốc HC:
+ amin mạch hở như CH
3
NH
2
, C
2
H
5
NH
2

+ amin thơm như C
6
H

CH
3
– CH
2
– CH
2
– NH
2
CH
3
– CH – CH
3
NH
2
CH
3
– NH – CH
2
– CH
3
CH
3
– N – CH
3
CH
3
2. Danh pháp
Trang 10
Hoạt động 2 : tìm hiểu về danh
pháp

H
5
NH
2
: etylamin (etanamin)
CH
3
CH
2
CH
2
NH
2
: propylamin ( propan-1-amin)
C
2
H
5
NHCH
3
: etylmetylamin (N-metyletanamin)
II. Tính chất vật lý
- CH
3
NH
2
, (CH
3
)
2

3
CH
2
CH
2
NH
2
làm xanh quỳ tím
Trang 11
Amin có tính bazơ:
- làm xanh giấy quỳ tím
GV đặt vấn đề metyl amin, propyl
amin làm xanh giấy quỳ tím còn
anilin thì không. Vậy anilin có tính
bazo không?
GV chiếu thí nghiệm 2. HS quan sát
nhận xét:
- Anilin không tan trong nước, lắng
xuống đáy ống nghiệm, tan trong
HCl. GV dẫn dắt: Anilin tan trong
HCl chứng tỏ anilin có tính chất gì?
HS: tính bazơ
GV lưu ý HS hiện tượng khi cho
CH
3
NH
2
đặc tác dụng với HCl đặc có
khói trắng→ nhận biết CH
3

GV: sử dụng tình huống 2, học sinh
vừa học xong tính bazơ của amin sẽ
tìm được câu trả lời từ đó khắc sâu
kiến thức
Hoạt động 6: phản ứng thế ở nhân
thơm của anilin
GV cho HS xem thí nghiệm, yêu cầu
HS nhận xét
GV nhận xét rút ra kết luận: amin
thơm tiêu biểu là anilin, do ảnh
hưởng của nhóm amin tới vòng thơm
nên anilin có phản ứng thế brom vào
- Anilin không làm đổi màu quỳ tím
Thí nghiệm 2:
- Anilin hầu như không tan trong nước, lắng xuống
đáy ống nghiệm
- Anilin tan trong HCl
C
6
H
5
NH
2
+ HCl  [C
6
H
5
NH
3
]

3
> C
6
H
5
NH
2
b) Phản ứng thế ở nhân thơm của anilin
2, 4, 6 tribromanilin (trắng)
 nhận biết anilin.
Trang 12
vòng thơm
GV hướng dẫn HS viết ptpu, lưu ý
HS do ảnh hưởng của nhóm
NH
2
( tương tự nhóm -OH ở phenol)
brom thế cả 3 nguyên tử H vào vị trí
ortho và para.
HS:viết phương trình, HS khác nhận
xét
Hoạt động 7: củng cố
GV chiếu bài tập trắc nghiệm để củng
cố
BT củng cố
1. Có 3 hóa chất sau đây: etylamin, phenylamin,
ammoniac. Thứ tự tăng dần lực bazơ được xếp theo
dãy
A. amoniac < etylamin < phenylamin
B. etylamin < amoniac < phenylamin

4. Cho các dd hex-1-en; benzen; và anilin. Chỉ
dùng một hóa chất nào sau đây có thể nhận biết
được cả 3 chất
Trang 13
A. NaOH
B. HBr
C. Dd Br
2
D. HNO
3
5. Khử mùi tanh của cá sau khi mổ để nấu, người ta
có thể sử dụng cách nào trong các cách sau(biết
mùi tanh của cá là do 1 số amin gây nên)
A. Dùng nước sạch
B. Dùng giấm
C. Dùng ancol
D. Dùng muối
VI. Dặn dò
- Về nhà làm bài tập : 1, 2, 3, 4, 5 ,6 SGK/ 44
- Xem trước bài amino axit
Trang 14
3.3.2 Giáo án tiết 28 bài 18 SGK 12 tính chất của kim loại, dãy điện hóa của
kim loại
Bài 18: TÍNH CHẤT CỦA KIM LOẠI
DÃY ĐIỆN HÓA CỦA KIM LOẠI
( tiết 28)
I.Mục tiêu bài học
1/ Về kiến thức
- Nêu được tính chất hóa học chung của kim loại
- Giải thích được tính chất hóa học chung của kim loại

Hoạt động 1: vào bài
Như chúng ta được biết, nhờ tính
chất vật lí của kim loại mà kim loại có
rất nhiều ứng dụng trong cuộc sống
như đồ trang sức, các vật dụng trong
gia đình, vật liệu xây dựng, thiết bị
máy móc, phương tiện giao thông….
Nhưng ta thường thấy những hình ảnh
như thế này (GV chiếu một vài hình
ảnh), tại sao kim loại lại bị gỉ? Để trả
lời cho câu hỏi này các em cùng cô
tìm hiểu phần tiếp theo của bài 18 đó
là tính chất hóa học của kim loại và
qua tiết học hôm nay chúng ta biết
II. Tính chất hóa học
Trang 15
cách làm thế nào để bảo vệ kim loại.
GV: ở lớp 9,10,11 em đã học rất nhiều
các phản ứng có sự tham gia của kim
loại. em hãy nhắc lại kim loại có thể
phản ứng được với những chất nào?
HS: phi kim, axit, muối, nước
Hoạt động 2: Tìm hiểu kim loại tác
dụng với phi kim
GV: chiếu thí nghiệm Fe + Cl
2,
yêu
cầu học sinh nhận xét hiện tượng, viết
ptpu xác định vai trò các chất phản
ứng

nhiên có một kim loại tác dụng với S ở
ngay nhiệt độ thường đó là kim loại
nào?
HS: Hg
GV viết ptpu, yêu cầu HS xác định số
oxi hóa
1. Tác dụng với phi kim
a) Tác dụng với Clo
2Fe + 3Cl
2
 2FeCl
3
chất khử
b) Tác dụng với oxi( trừ Au, Ag, Pt)
4Al + 3O
2
 2Al
2
O
3
chất khử
c) Tác dụng với Lưu huỳnh
Fe + S  FeS
Chất khử
Hg + S  HgS
Chất khử
Trang 16
t
o
+3

trong dãy hoạt động hóa học khử ion
H
+
trong dung dịch HCl, H
2
SO
4
loãng
giải phóng H
2
.
GV: chiếu thí nghiệm Cu + HNO
3

loãng
HS: Quan sát, nhận xét, viết PTPU xác
định vai trò các chất phản ứng.
GV thông tin: Kim loại (trừ Au, Pt)
tác dụng với HNO
3
, H
2
SO
4
đặc, kim
loại khử N
+5
trong HNO
3
và S

Hoạt động 4: Tìm hiểu kim loại tác
dụng với nước
GV chia 4 nhóm HS làm thí nghiệm
Na tác dụng với nước, nhận xét hiện
2. Tác dụng với dung dịch axit
a) Với dung dịch HCl, H
2
SO
4
loãng
(kim loại trước H) giải phóng H
2
Zn + 2HCl  ZnCl
2
+ H
2
chất khử
Fe + 2HCl  FeCl
2
+ H
2
chất khử
Cu + HCl không xảy ra
b) Với dung dịch HNO
3
, H
2
SO
4


Ở nhiệt độ thường, các kim loại nhóm
IA, IIA (trừ Be, Mg) tác dụng mãnh
liệt với H
2
O.
4. Tác dụng với dung dịch muối
Trang 17
+2
0
+2
0
+2
0
+1
0
+2
0
tượng, giải thích.
HS: hoạt động nhóm làm thí nghiệm,
nhận xét và giải thích
Nhóm HS báo cáo kết quả, nhóm khác
nhận xét bổ sung
GV yêu cầu HS viết ptpu, xác định
chất khử, chất oxi hóa
HS: viết pt và xác định
GV thông báo các kim loại nhóm IA,
IIA ( Trừ Be, Mg ) tác dụng mãnh liệt
với nước ở nhiệt độ thường, các kim
loại còn lại chỉ khử được H
2

loại
HS: so với phi kim cùng chu kì,
nguyên tử kim loại có điện tích hạt
nhân nhỏ hơn, bán kính nguyên tử lớn
hơn, số electron hóa trị ít
GV chính vì vậy lực liên kết với hạt
nhân của những electron này tương
Fe + CuSO
4
 FeSO
4
+ Cu
Chất khử
Điều kiện: kim loại không tan trong
nước, muối tan.
Kết luận: tính chất hóa học chung của
kim loại: tính khử
M  M
n+
+ ne
(n=1,2,3)
Trang 18
đối yếu dễ tách khỏi nguyên tử,
nguyên tử kim loại dễ mất electron thể
hiện tính chất gì các em?
HS: tính khử
GV: tính khử hay bị oxi hóa , cô sẽ
biểu diễn quá trình nhường electron
của kim loại, hỏi HS về giá trị thường
có của n?

- Về nhà học bài, xem trước phần còn lại của bài: dãy điện hóa của kim loại
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Qua thực tế nghiên cứu và áp dụng vào giảng dạy hóa học 12 bản thân tôi
thu được kết quả khả quan, chất lượng dạy học nâng lên rõ rệt, học sinh hứng thú
Trang 19
yêu thích môn học hơn hẳn, các em chú ý bài giảng hơn, không khí lớp học học
vui vẻ sôi nổi, các em chăm học bài làm bài hơn hẳn nên đạt kết quả cao trong các
kì kiểm tra dẫn đến kết quả học tập được cải thiện .
Bảng thống kê kết quả học tập của 3 lớp trước và sau khi thực hiện đề tài
Kết quả năm học 2013 – 2014: trước khi thực hiện đề tài
Lớp Sỉ số Tỉ lệ HS đạt TB trở lên
11A5 41 95,12%
11A7 39 89,74%
11A9 38 78,95%
Kết quả học kì I năm học 2014 – 2015 sau khi thực hiện đề tài
Lớp Sỉ số Tỉ lệ HS đạt TB trở lên
12A5 42 100%
12A7 39 97,44%
12A9 38 94,74%
Theo bảng thống kê học lực của học sinh năm lớp 11 thì khi học lớp 12 với
việc áp dụng đề tài vào giảng dạy, chất lượng được nâng lên rõ rệt giảm hẳn lượng
học sinh dưới trung bình.
V. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ, KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
5.1 Đề xuất
Qua nội dung của đề tài tôi nhận thấy để nâng cao hiệu quả của việc giảng
dạy nhằm tăng cường sự hứng thú, kích thích học sinh tích cực chủ động tìm tòi
học tập thì cần khuyến khích, tạo điều kiện cho GV thức hiện đổi mới phương
pháp dạy học, chăm lo các điều kiện trang thiết bị hỗ trợ phục vụ giáo viên; các
nhóm chuyên môn thường xuyên trao đổi chuyên môn, chia sẻ những tình huống
và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau; GV cần mạnh dạn đổi mới đầu tư thiết kế các

6. Ngô Xuân Quỳnh (2012). Tạp chí hóa học, />lai-bi-gi.html
7. Hóa học 12: Anilin + nước Br2,
< đăng ngày 03/9/2014
8.

Tính bazo của Anilin [Hoa 12], < />v=od5oXigA-xo> đăng ngày 08/6/2014.
9.clo tác dụng với sắt,< đăng
ngày 11/12/2007.
10. hoa hoc 11,12 Cu + HNO3 loãng, < />v=3Hu3If0A1Rs> đăng ngày 02/9/2014.
VII. PHỤ LỤC
Trang 21
- Bài giảng powerpoint
- Phim thí nghiệm

Dầu Giây, ngày 12 tháng 4 năm 2014

NGƯỜI THỰC HIỆN
Ngô Thị Hồng Phúc
Trang 22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status