Tên đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng: KINH NGHIỆM TRẢ BÀI VIẾT TẬP LÀM VĂN - Pdf 29

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT XUÂN THỌ
v v v
Mã số:……………………
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
Nười thực hiện Ñoaøn Ñình Thuaán
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục: 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Văn x
- Lĩnh vực khác:…………………… 
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2014 -2015
1
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: ĐOÀN ĐÌNH THUẤN
2 Ngày tháng năm sinh: 06 - 03 - 1966.
3. Nam
4. Địa chỉ: ấp Việt Kiều, xã Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
5. Điện thoại: 0168 47 57 402
6. Fax: Email: [email protected]
7. Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn tổ Văn
8. Nhiệm vụ được giao :
- Đoàn thể : Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ THPT Xuân Thọ ;
- Cán bộ thường trực phụ trách Khuyến học
- Dạy lớp 12A2-12a10 ; 10B2-10B5
9. Đơn vị công tác : Trường THPT Xuân Thọ
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp ĐHSP TP.Hồ Chí Minh
- Năm nhận bằng : 1992

A. Tóm tắt Trang 3
B. Giới thiệu Trang 4
1. Hiện trạng Trang 4
2. Mô tả vấn đề
a.Thực trạng học thuộc lòng văn mẫu Trang 4
b. Thực trạng học thuộc dàn ý mẫu Trang 7
c. Trực trạng theo cấu trúc đề thi mới của Bộ Giá dục Trang 10
3. Liệt kê nguyên nhân gây ra vấn đề Trang 15
4. Giải pháp thay thế Trang 15
5. Vấn đề nghiên cứu Trang 19
6. Giả thiết nghiên cứu Trang 20
C. Phương pháp Trang 20
1. Khách thể nghiên cứu Trang 20
2. Thiết kế nghiên cứu Trang 20
3. Đo lường và thu thập dữ liệu Trang 25
4. Phân tích dữ liệu và bàn luận kết quả Trang 25
5. Bàn luận Trang 26
6. Kết luận và khuyến nghị Trang 26
7. Tài liệu tham khảo Trang 26
8. Phụ lục Trang 27
- Bảng điểm kiểm tra trước tác động của 02 nhóm. Trang 27
- Bảng điểm kiểm tra sau tác động của 02 nhóm. Trang 28
- THAM KHẢO CÁCH RA ĐỀ THEO CẤU TRÚC MỚI Trang 29
CỦA MÔN NGỮ VĂN – SỞ GIÁO DỤC ĐỒNG NAI- 2015
9. Phiếu nhận xét đánh giá Trang 33
3
Tên đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng:
KINH NGHIỆM TRẢ BÀI VIẾT TẬP LÀM VĂN
A.TÓM TẮT
Sách giáo khoa và cả sách hướng dẫn dành riêng cho giáo viên viết rất sơ sài về tiết

Khâu sửa bài là khâu rất quan trọng là NỘI DUNG CHÍNH của nghiên cứu khoa học
sư phạm ứng dụng này, tìm ra chuẩn chung khi soạn soạn giảng tiết TRẢ BÀI VIẾT
TẬP LÀM VĂN.
Mục tiêu cần đạt của QUI TRÌNH làm bài viết- trả bài viết là rèn các tính tư duy
sáng tạo cho học sinh và người thầy cô giáo vừa là người đồng hành trong quá trình
sáng tạo ấy.
Chính vì vậy tôi viết về vấn đề này dưới góc độ nghiên cứu khoa học sư phạm ứng
dụng , có lồng ghép một phần nội dung trong sinh hoạt tổ chuyên môn.
4
Vấn đề rất khó mà khả năng có hạn xin các bạn đồng nghiệp góp ý thêm.
Đề tài này giúp cho giáo viên soại giảng tiết TRẢ BÀI VIẾT TẬP LÀM VĂN tốt
hơn, lại vừa tập cho học sinh tự học – tự đào tạo khi làm bài và cả sau khi nhận bài
viết đã chấm của giáo viên. Một cách học tập làm văn tạo nên sự hứng thú dây
chuyền (khả năng lan toả) đi từ tư duy tình huống đến tư duy hệ thống TẠO VĂN
BẢN …bài viết tập làm văn.
Đề tài này tập trung vào phân môn Tập làm văn lớp 12…vì gấp rút dạy và học
để thi tốt nghiệp và thi tuyển Đại học trong năm học 2014-2015, nên các ví dụ
mẫu tập trung vào môn Ngữ văn lớp 12.
B. GIỚI THIỆU
1. Hiện trạng
Từ năm học 2006 -> 2008 các bộ sách giáo khoa mới môn Ngữ văn lớp 10 –
11 - 12 được chính thức đưa vào giảng dạy. Đây là các bộ sách giáo khoa được biên
soạn theo quan điểm hiện đại, tuy nhiên trong phần phân môn TẬP LÀM VĂN, nhất
là dạng bài các tiết BÀI VIẾT –TRẢ BÀI VIẾT, lại viết khá sơ sài, thiếu nhất quán.
Đây là đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn.
Năm học 2014-2015 Bộ Giáo dục lại đổi mới cách ra ra đề thi Ngữ văn, gộp cả
hai kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển Đại học. Cách ra đề theo yêu cầu mới lại khá
xa lạ với sách giáo khoa….làm nhiều giáo viên và cả học sinh lúng túng.
Mục tiêu cần đạt của việc học sinh làm văn là rèn các tính tư duy sáng tạo
cho học sinh và người thầy cô giáo vừa là người đồng hành trong quá trình sáng tạo

thực của hai cuộc đời: Mị và A Phủ, những bức tranh đó cũng chứa chan một tấm
lòng nhân đạocủa Tô Hoài.
Mị, một cô gái xinh đẹp trẻ trung, nhưng lại mang một kiếp sống nghèo của kẻ
“thấp cổ bé họng”. Cha mẹ cô không thể trả nổi món nợ nhà thống lí thế là món nợ
ấy truyền sang Mị. Tên thống lí tàn bạo ấy lại muốn bắt Mị làm con “dâu gạt nợ”.
Mà quan đã muốn là trời muốn, cô Mị về làm dâu nhà quan mà trong lòng mang một
mối uất ức không thể giãi bày. Tiếng làm dâu nhưng lại là một thứ nông nô không
hơn không kém, cô mất tất cả quyền sống, quyền được xem là một con người. Ngày
trước dẫu nghèo nhưng được tự do, yêu đời, giờ đây vẫn nghèo vẫn cực nhọc lại nhục
nhã chịu kiếp sống nô lệ qua kiếp sống của Mị, nhà văn bộc lộ một tấm lòng thương
người, chua xót cho số phận con người, và cũng qua đó Tô Hoài đã vạch trần cái bản
chất bóc lột giai cấp. Người ta dùng cái thế lực và tiền bạc “cướp người đàn bà đem
về trình ma”, thế là người đàn bà cũng bị cái “ma” vô hình trói cả cuộc đời trong
nhà ấy. Nếu chẳng may chồng chết thì người ấy phải làm vợ người khác trong nhà, có
khi là một người anh chồng già lụ khụ, có khi là một người em chồng còn ở tuổi trẻ
con, và nếu chồng lại chết, lại phải ở với người đàn ông khác vẫn ở trong nh à ấy. …
Phải suốt đời ở trong nhà ấy.
Mị đã khổ nhiều rồi, trong cái địa ngục trần gian ấy, lại càng khổ hơn khi phải
chấp nhận mình là kiếp trâu kiếp ngựa. Cả những con người cứng rắn, có lẽ không
khỏi động lòng khi đọc đến câu “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị
tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa”… Khổ mà đến “quen” rồi quả
thật ý thức con người đã bị tê liệt, đã mất đi cái “yếu tố xã hội” để được xem là con
người. Chuỗi ngày cực nhục đã cướp đi của Mị sức sống tài năng cướp đi những thất
vọng tuổi trẻ những “lúc hồi hộp chờ đợi người yêu”. Lúc nào và bao giờ cũng thế,
công việc cứ giăng trải ra trước mặt Mị, cứ những công việc quen thuộc làm đi làm
lại “Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì
đi nương bẻ bắp… Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế”. Khổ quá, cái khổ
cứ chực bóp nát cuộc đời Mị, thế sao Mị không tự tử chết đi cho rồi? Không được bởi
“Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ. Mị đành trở lại nhà thống lí”.
Cuộc sống trong cái địa ngục khủng khiếp đã bào mòn đi trái tim yêu đời của

khuya.Trong nhà đã ngủ yên Mị trở dậy thổi lửa.Ngọn lửa bập bùng sáng lóe Mị lé
mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở.Một dòng nước mắt lấp lánh bò
xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Mị bắt gặp dòng nước mắt ấy và nhớ về mình, Mị
cũng phải trói đứng thế kia và Mị cũng khóc “nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống
miệng, xuống cổ không biết lau đi được”. Dòng nước mắt là sự đồng cảm giữa hai
con người. Dòng nước mắt của A Phủ đã làm bỏng rát vết thương trong lòng Mị. Tất
cả thôi thúc Mị cởi trói cho A Phủ và cả hai người “lẳng lặng đỡ nhau lao chạy
xuống dốc núi”. Họ đến lập nghiệp ở Phiềng Sa. Thế rồi chẳng bao lâu sau, cái đồn
Tây, lại lù lù xuất hiện, cha con thống lí lại vào ở đó. Trước mắt hai người chỉ còn
một sự lựa chọn: trở về kiếp sống nô lệ hoặc chống kẻ thù. Cách mạng rồi sẽ đến với
họ và họ sẽ trở thành người của cách mạng.
Muốn phân biệt giữa giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo là điều không phải
dễ. Thực ra, cả hai hòa quyện vào nhau, đan xen vào nhau. Có ghét, nhà văn mới tố
cáo bọn thống lí Pá Tra, có thương cảm, nhà văn mới viết được những câu văn đầy
xúc động, có hiểu, nhà văn mới đi sâu vào cuộc sống tâm lí con người. Và Tô Hoài có
thông cảm với nhân vật lắm mới có thể xét đoán tinh tế cuộc sống tinh thần của Mị.
7
Những ngày tháng đầu tiên ở nhà thống lí Mị cứ khóc có đến hàng tháng, thế rồi định
ăn lá ngón để tự tử vì không chịu nhục. Nhưng vẫn cố sống, sống một cách gượng
gạo vì chữ hiếu. Mị nghèo vật chất nhưng không nghèo tình thương, lòng Mị vẫn âm ỉ
một khao khát sống, khao khát được tự do. Nếu như nhà văn lạnh lùng theo chủ nghĩa
hiện thực khách quan thì làm sao nhà văn nắm bắt được cái khoảnh khắc ngắn ngủi
nhưng vẫn “tồn tại đời đời” ấy. Rõ ràng nhà văn Tô Hoài tuân theo chủ nghĩa hiện
thực nhưng ông tin rằng hoàn cảnh dẫu có khắc nghịêt vẫn không thể vùi dập hoàn
toàn nhân tính. Hoàn cảnh tác động tính cách nhưng không giết chết tính cách.
=> Đây là thực trạng đau lòng, cần phải chấm dứt, cân bịnh chạy theo thành tich
theo điểm số vô tình đã giết chết cá tính sáng tạo của học trò trong quá trình tạo
lập văn bản. Cần phải biết lỗi sai từ các khâu….phân tích đề….xác định trọng tâm
đề…phạm vi tư liệu dẫn chứng….bố cục bài làm cần có những luận điểm – luận cứ -
luận chứng gì….qua trình phân tích dẫn chứng ra sao….

- Từ một cốt truyện dân gian, tác giả đã xây dựng thành một vở kịch hiện đại, đặt ra
nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân văn sâu sắc.
2. Tóm tắt:
Trương Ba giỏi đánh cờ bị Nam Tào bắt chết nhầm. Vì muốn sửa sai nên Nam
Tào và Đế Thích cho hồn Trương Ba sống lại, nhập vào xác anh hàng thịt vừa mới
chết. Mọi rắc rối do hồn Trương ba phải mượn xác hàng thịt bắt đầu xảy ra: lí tưởng
sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba cũng cảm thấy xa lạ mà
bản thân Trương Ba thì phải đau khổ, bất lực vì phải sống trái tự nhiên, giả tạo.
Một cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt diễn ra, trong đó, xác
hàng thịt khẳng định sức mạnh và thế lấn tới của hắn đối với hồn Trương Ba.
Hồn Trương Ba đốt một nén hương gọi Đế Thích xuống giải thoát cho mình.
Cùng lúc, cu Tị, con một người hàng xóm ốm nặng, sắp chết. Đế Thích định cho hồn
Trương Ba nhập vào xác cu Tị nhưng Trương Ba cương quyết từ chối, xin cho cu Tị
được sống đồng thời trả xác cho nhà hàng thịt và chấp nhận cái chết.
3. Nội dung:
a/ Các lớp đối thoại và ý nghĩa của chúng:
*. Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt:
- Nghịch cảnh: linh hồn nhân hậu, trong sạch phải trú nhờ trong một thân xác thô
phàm.
- Linh hồn Trương Ba lệ thuộc và bị xác thịt thô phàm điều khiển, lấn át.
- Xác hàng thịt tuyên bố về sức mạnh âm u, đui mù, ghê gớm của mình, tìm cách
khống chế, ve vãn, kêu gọi hồn Trương Ba thoả hiệp bằng những lí lẽ ti tiện.
- Hồn Trương Ba ý thức sâu sắc về sự tha hoá, dằn vặt, đau khổ, tìm cách thoát khỏi
xác thịt để tồn tại độc lập.
- Xác hàng thịt khẳng định sự thắng thế của mình: “chẳng còn cách nào khác nữa
đâu”.
- Hồn Trương Ba khinh bỉ, mắng mỏ lí lẽ đê tiện của xác hàng thịt nhưng rồi ngậm
ngùi, thấm thía nghịch cảnh của mình và nhập vào xác hàng thịt một cách tuyệt vọng.
Hàm ý của đối thoại:
- Trương Ba được trả lại sự sống nhưng đó là một cuộc sống đáng hổ thẹn vì phải

* Màn kết:
- Trương Ba trả xác cho anh hàng thịt, chấp nhận cái chết để được là chính mình và
linh hồn được trong sạch.
- Hoá thân vào cây cỏ, các sự vật thân thưong để tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những
người thân yêu.
→ Thông điệp về sự chiến thắng của cái Thiện, cái Đẹp, của cuộc sống đích thực.
b/ Chủ đề tư tưởng:
Thông qua những màn đối thoại của vở kịch, Lưu Quang Vũ đã đưa ra một
quan niệm cao đẹp về cách sống: hãy sống chân thật với chính mình, phải biết đấu
tranh với nghịch cảnh, với chính bản thân mình, chống lại sự dung tục để hoàn
thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.
4. Nghệ thuật:
- Xung đột giàu kịch tính.
- Ngôn ngữ đắc trưng cho ngôn ngữ kịch.
- Sự kết hợp tính hiện đại với các giá trị truyền thống.
- Chất thơ, chất trữ tình bay bổng.
c. THỰC TRẠNG RA ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN THEO CẤU TRÚC MỚI CỦA BỘ
Trước sự thay đổi cách thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học, yêu cầu cà thầy và
trò đều phải thay đổi để kịp thích ứng với tình hình mối. Trong họp tổ chuyên môn đã
nhiều lần bàn về vấn đề này. Đã phân công từng giáo viên phải soạn đề- đáp án – tiết
trả bài….theo cách ra đề mới theo tinh thần của bộ.
Cách ra đề mở thường rất đa dạng.
Phần ĐỌC HIỂU có khi được lồng ghép vào câu NGHỊ LUẬN XÃ HỘI, cũng
có khi lồng ghép vào câu NGHỊ LUẬN VĂN HỌC. Cái hay của cách ra đề này là
10
nhằm kiểm tra năng lực học sinh chống việc học tủ- học lệch- học thuộc lòng văn
mẫu hay dàn ý mẫu… tuy nhiên TIẾT TRẢ BÀI VIẾT lại rất khó khăn cho giáo
viên và cả học sinh. Phần phân tích đề…phải phân tích các câu….thường từ 2 đến 3
câu….do là đề mở nên phần đọc hiểu….đáp án thường theo chủ quan của người ra
đề…Yêu cầu chung của phần ĐỌC HIỂU ở nghị luận xã hội và nghị luận văn học

hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
tiếng ghi ta nâu
11
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy”
(Ngữ văn 12 , tập một, NXB Giáo duc)
HƯỚNG DẪN CHẤM THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT
Môn: Ngữ văn
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu I. (2,0 điểm)
a. Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, song cần nêu được các ý chính
sau:
- Vợ chồng Hoa Thuyên- chủ một quán trà nghèo- có đứa con trai độc nhất mắc bệnh
lao nặng. Nhờ có người mách bảo, vào một đêm thu lúc trời chưa sáng hẳn, Lão Hoa
Thuyên tìm tới pháp trường để mua chiếc bánh bao tẩm máu người vừa chịu án chém
về cho con ăn vì cho rằng ăn như thế con sẽ khỏi bệnh.
- Vợ chồng Hoa Thuyên cho bé Thuyên ăn thuốc. Thằng bé thật tiều tuỵ, đáng
thương. Vợ chồng Hoa Thuyên đặt hết niềm tin tưởng vào sự hiệu nghiệm của
phương thuốc này.
- Trời vừa sáng, lúc bé Thuyên ăn thuốc xong, quán trà nhà lão Hoa Thuyên dần
đông khách. Câu chuyện của bọn họ xoay quanh hai sự việc. Sự việc thứ nhất là tất
thảy bọn họ đều tin tưởng vào công hiệu của phương thuốc bánh bao tẩm máu tươi

- Hiện nay, những " mái ấm tình thương" đang xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta.
Điều này không chỉ có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa kinh tế mà quan trọng hơn là giúp cho
các em hướng thiện, đưa các em đi đúng với quỹ đạo phát triển tích cực của xã hội.
Đây là tình cảm tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách biểu hiện của truyền
thống nhân đạo ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam.
- Giới thiệu một vài điển hình: Tổ chức ( Làng trẻ em SOS, Làng trẻ em Hòa Bình
( Từ Dũ), Chùa Bồ Đề (Huế) ); cá nhân ( Mẹ Phạm Ngọc Oanh (Hà Nội) với 800
đứa con tình thương; Anh Phạm Việt Tuấn với mái ấm KOTO ( Hà Nội ) )
- Quan điểm và biện pháp nhân rộng
+ Quan điểm: Có cái nhìn đúng đắn về hiện tượng trẻ em lang thang cơ nhỡ từ đó
nâng cao tình cảm và trách nhiệm đối với hiện tượng ấy. Lên án và kịp thời phát hiện,
tố cáo những kẻ bóc lột sức lao động và xâm hại trẻ em.
+ Biện pháp nhân rộng: Dùng biện pháp tuyên truyền, kêu gọi các cá nhân, tổ chức,
quyên góp tiền cho các hoạt động từ thiện, thành lập đội thanh niên tình nguyện
c. Cách cho điểm:
- Điểm 3: Đáp ứng các yêu cầu trên, có thể mắc một vài lỗi nhỏ về diễn đạt.
- Điểm 2: Trình bày được một nửa các yêu cầu trên, còn mắc một số lỗi diễn đạt.
- Điểm 1: Nội dung sơ sài, diễn đạt yếu.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.
II. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Câu III.a. Theo chương trình chuẩn (5,0 điểm)
a. Yêu cầu về kỹ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận văn học, vận dụng khả năng đọc- hiểu để trình bày
cảm nhận về nhân vật trong tác phẩm kí. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không
mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kíên thức:
Trên cơ sở những hiểu biết về Hoàng Phủ Ngọc Tường và tác phẩm Ai đã đặt tên cho
dòng sông, thí sinh biết cảm nhận được vốn tri thức, vốn văn hoá và tình cảm với Huế
của nhân vật tôi. Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần nêu
bật những ý chính sau:

giác và thủ pháp lạ hóa tạo nên sức hấp dẫn kỳ lạ của tiếng đàn Lor-ca.
+
+ Hình ảnh tương phản gay gắt: gợi cảnh đấu trường giữa khát vọng dân chủ với
nền chính trị độc tài, giữa khát vọng cách tân nghệ thuật với nền nghệ thuật già nua.
+“Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt” . Đây là hình ảnh vừa thực vừa tượng trưng: đấu
trường quyết liệt, nơi người nghệ sĩ đương đầu với những thế lực tàn bạo, hà khắc.
+ Nhạc thơ li-a li-a Nghệ thuật láy âm “li-la li-la li-la” gợi hợp âm của tiếng đàn
ghi ta, gợi hình ảnh bông hoa buồn của phút chia ly, gợi chuyến đi thăm thẳm và đơn
độc của người nghệ sĩ.
+ Từ ngữ “lang thang, miền đơn độc, yên ngựa mỏi mòn, vầng trăng chuếnh
choáng” gợi lên cuộc hành trình đơn độc của người nghệ sĩ đang tranh đấu cho tự do
và cái mới.
- Cái chết đầy bi phẫn của Lor-ca, khát vọng cách tân nghệ thuật đành dang dở.
14
+ Tập trung thể hiện giây phút Lor-ca "bị điệu về bãi bắn" và cực tả nỗi đau đớn, xót
xa trước cái chết của người nghệ sĩ. Thủ pháp đối lập, các biện pháp so sánh, nhân
hóa, điệp ngữ được sử dụng triệt để nhằm khắc họa đậm nét ấn tượng về sự "kinh
hoàng", nỗi đau đớn tột cùng của nhà thơ.
• Chi tiết “Tây Ban Nha/ hát nghêu ngao”,
• Từ ngữ “kinh hoàng”, hình ảnh “áo choàng bê bết đỏ”,
• Hình ảnh “Lor-ca bị điệu về bãi bắn/ chàng đi như người mộng du”
Thật bất ngờ, hồi tưởng lại cảnh tượng thảm khốc ấy, Thanh Thảo lại như nghe và
cảm nhận thấy âm thanh tiếng ghi ta trên chặng đường lãng du của Lor-ca.
+ Từ ngữ chuyển đổi cảm giác “nâu, lá xanh, tròn bọt nước vỡ tan, ròng ròng /máu
chảy”
+ Những điệp khúc tạo hình âm nhạc bằng chính nhịp điệu, và bằng hình ảnh (bọt
nước, tròn bọt nước vỡ tan, ròng ròng, máu chảy) bằng màu sắc (nâu, xanh biết
mấy), bằng liên tưởng (Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt, bầu trời cô gái ấy….). Sự kết
hợp ngẫu hứng từ ngữ cũng là sự kết hợp mang tính chất âm nhạc. Đặc biệt, khi tiếng
ghita ròng ròng máu chảy, âm nhạc đã thành thân phận: nó là tiếng van vỉ than khóc

4 . GiẢI PHÁP THAY THẾ
SOẠN GIẢNG TIẾT TRẢ BÀI TẬP LÀM VĂN
(Mô hình mẫu – giáo án chung cho dạng bài TRẢ BÀI VIẾT TẬP LÀM
VĂN)
1. Mục tiêu cần đạt:
- Thống nhất cách soạn giảng tiết TRẢ BÀI BIẾT TẬP LÀM VĂN trong
sinh hoạt tổ chuyên môn theo chuẩn KIẾN THỨC- KỸ NĂNG
- Cập nhật cách ra đề theo cấu trúc mới của bộ.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV-HS TRỌNG TÂM KIẾN THỨC KỸ
NĂNG
GV; nhận xét chung ưu - khuyết điểm
bài làm của lớp
( dùng phấn màu…gạch chân các từ ngữ
quan trọng trong đề …giúp hs dễ phân
tích đề xác định đúng trọng tâm yêu cầu
của đề)
- Do thời gian làm bài ở lớp là 90 phút
mà khi thi Tốt nghiệp là 150 phút…
Nên Giáo viên phải vừa đàm bảo câu
trúc đề thi… vừa dung lượng không
quá tải…
GV gợi ý cho hs phân tích lại đề….( đây
là khâu rất quan trọng…giúp hs tư duy
đúng hướng…HƯỚNG VĂN BẢN trong
văn bản học…)
-HS phải xác định được dạng đề…NLXH
hay NLVH…hay là dạng đề hỗn hợp…có
cả phần liên hệ bản thân…
- Trọng tâm của đề là gì? (nếu
không xác định được trọng tâm…HS dễ

TÍCH DẪN CHỨNG…để phục vụ cho bài
làm…TƯ DUY ĐỒNG HƯỚNG …với
trọng tâm của đề…
GV cần nhấn mạnh lại lỗi phân tích
đề…
+ Vì sao viết lan man xa đề…
+ Vì sao làm bài bị lệch trong tâm đề…
+Vì sao là sai kiểu bài…
+ vì sao là bài thiếu ý…
+ Vì sao các ý chưa cân đối về dung
lượng….có ý quá dài…có ý quá ngắn…
+ Vì sao các ý lại thiếu dẫn chứng…
+ Vì sao chưa phân tích dẫn chứng để làm
rõ chủ đề cần hướng tới…dẫn chứng ấy
đã tiêu biểu chưa…
- - Thường các em bị thói quen dùng
từ chưa chính xác.VD: biết rồi….biết
rùi…
-GV chỉ ra các lỗi sai chính tả, viết hoa
tùy tiện, viết ký hiệu…
- Lỗi sai phổ biến là câu các em
thường viết dài….GV vừa có VD mẫu
sai…cho cả lớp cùng rút kinh nghiệm…
vừa cho HS tự tìm VD sai trong bài làm
của mình…
- - Lỗi câu sai ngữ pháp phổ biến là
các em thườ ng lầm phần trạng ngữ đứng
ở đầu câu…là một câu trúc câu….GV
nên ghi VD mẫu lên bảng để sửa….
- GV chú ý đến lỗi viết đoạn dài của

xộn….
- Câu sai ngữ pháp….(dạng câu sai
phổ biến là các em thường lẩm trạng ngữ
đứng ở đầu câu….là một câu)
17
một ý tương đối trọn vẹn….
- GV chú ý đến việc tập thói quen
cho HS biết vận dụng các phép tu từ…
cho ví dụ minh họa…chú ý phân tích tác
dung của các phép tu từ…
- Lưu ý giúp HS phân bố thời lượng
hợp lý cho từ phần….mở bài và kết bài
thường từ 5-10 phút, dành 5 phút đọc lại
sửa lỗi chính tả….
- Phần mở bài rất quan trọng…GV
cần hướng dẫn cho các em nhiều cách mở
bài….nhiều cách tiếp cận vấn đề…tuy
nhiên cần đảm bảo các yêu cầu sau…
+ Dẫn dát vấn đề…
+ Nêu vấn đề…
+Nêu trọng tâm vấn đề một cách khái
quát….
+ Chuyển mạch… viết câu liên kết giữa
phần mở bài và thân bài…
• Tùy dạng bài mà phần thân bài
co các ý và chức năng khác nhau , tuy
nhiên GV phải chốt được các ý cơ bản
của dàn bài đại cương phần thân bài…
• Chú ý các đoạn d64n chứng ,
phân tích dẫn chứng; đoạn liên hệ bản

- Ý 8…
- …
c. Kết bài….
IV. LUYỆN TẬP
1. Đọc ít nhất 2 bài văn tiêu biểu của
lớp…bài hay và cả bài điểm kém…để rút
kinh nghiệm…
2.Dựa vào bài sửa viết lại một số đoạn
văn
* GV nhận xét tiết dạy, dặn dò HS chuẩn bị bài mới…
5. Vấn đề nghiên cứu: SOẠN GIẢNG TIẾT TRẢ BÀI TẬP LÀM VĂN
Theo tôi đổi mới về phương pháp soạn giảng của giáo viên theo dạng bài
này là nhằm đổi mới phương pháp làm bài của học sinh theo yêu cầu mới.
Quá trình làm BÀI VIẾT của học sinh là QUÁ TRÌNH TẠO LẬP VĂN BẢN
(gồm nhiều thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh,nghị luận, trừu tượng hóa, khái quát
hóa, cụ thể hóa… ) .Khi trả bài viết…học sinh biết được lỗi sai…sai ở đâu…sai khâu
nào…sai cái gì…sửa như thế nào…là điều rất quan trọng.
Đề tài này tập trung vào lớp 12…vì gấp rút học để thi tốt nghiệp và thi tuyển Đại học
trong năm học 2014-2015, nên các ví dụ mẫu tập trung vào lơp 12.
Nhìn tổng thể các bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới lớp 10,11,12 ở bậc học
THPT và các bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới lớp 6,7,8,9 ở bặc học THCS và sách
giáo khoa môn Tiếng Việt ở Tiểu học có mối quan hệ TÍCH HỢP ĐỒNG TÂM
(một vấn đề thường được nhấn mạnh ở cấp cao hơn). Nên cần dạy các em cách duy
hệ thống cách làm bài theo cấu trúc mới.
Cho nên cần nghiên cứu kỹ các vấn đề sau:
I. Đề:……phải ra theo cấu trúc mới
II. PHÂN TÍCH ĐỀ (GV cần dạy kỹ phần kỹ năng phân tích đề, phải nghị luận
đúng hướng, tránh lạc đề, xa đề…)
1.Dạng đề… thường thì có một câu nghị luận xã hội và một câu nghị luận văn
học, chú y phần đọc hiểu…

12. Bố cục
d. Mở bài…
e. Thân bài….
- Ý 1….tương ứng với đoạn 1 trong phần thân bài…)
- Ý2….
- Ý 3 …
- Ý 4…
- Ý 5…
- Ý 6…
- Ý 7…
- Ý 8…
- …
f. Kết bài….
6. GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU:
Chọn Bài thi giữa học kỳ 2 của lớp 12 năm học 2014-2015 là giả thiết nghiên cứu,
lớp 12A10 (lớp thực nghiệm), 12A2 (lớp đối chứng)
C. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 12 A10(34 học sinh) và lớp 12A2(35 học sinh)
trường THPT Xuân Thọ. Vì bản thân tôi đang công tác ở đó nên có điều kiện thuận
lợi cho việc NCKHSPUD.
20
* Giáo viên: Hai giáo viên có tuổi đời và tuổi nghề tương đương nhau và đều là giáo
viên trẻ, có lòng nhiệt tình và trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy và giáo dục
học sinh.
1. Lê Thị Hằng – Giáo viên chủ nhiệm lớp 12A10 (lớp thực nghiệm)
2. Nguyên Thị Thùy Trang – Giáo viên chủ nhiệm lớp 12A2 (lớp đối chứng)
* Học sinh: hai lớp được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau
về tỉ lệ học sinh, giới tính như sau:
Số HS các nhóm

Sẽ không lớn nỗi thành người” (Đỗ Trung Quân).
a. Cảm nhận của em về đoạn thơ trên .
b.Từ ý thơ trên em có suy nghĩ gì về quê hương biển đảo Việt Nam thân yêu .
21
…………………Hết…………………………
HƯỚNG DẪN CHẤM THI VÀ BIỂU ĐIỂM MÔN VĂN
Giám khảo hội đồng chấm thi cần lưu ý những điểm sau:
1. Dạng đề mở nên đáp án và thang điểm chỉ mang tính gợi ý định hướng. Khi chấm cần
linh hoạt.
2. Chấm kỹ lưỡng và chính xác. Khuyến khích cho điểm cao những bài viết có tư duy độc
đáo sáng tạo; cảm thụ tinh tế; văn viết giản dị trong sáng, giàu cảm xúc, kết cấu chặt chẽ bố cục rõ
ràng, ý tứ mạch lạc; làm bật được yêu cầu đề.
3. Bài thi được chấm theo thang điểm 10, làm tròn tới 0,50đ
Câu Ý Yêu cầu Điểm
1 * Yêu cầu về kĩ năng:
- Nắm vững kĩ năng, phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội.
- Hiểu đúng ý nghĩa vấn đề.
- Bố cục rõ ràng, hợp lí; lập luận chặt chẽ, thuyết phục; dẫn chứng tiêu
biểu.
- Diễn đạt mạch lạc, giàu cảm xúc.
- Khuyến khích những bài viết sáng tạo.
* Yêu cầu về kiến thức:
Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần nêu được các ý
sau:
1 Giải thích vấn đề:
- “Giáo sư trẻ Ngô Bảo Châu, vừa qua, được giải thưởng toán học Fields
danh giá”:
+ Giáo sư trẻ Ngô Bảo Châu Sinh ngày 28/6/1972 tại Hà Nội. là nhà
Toán học nổi tiếng với công trình chứng minh bổ đề cơ bản cho các dạng tự
đẳng cấu do Robert Langlands và Diana Shelstad phỏng đoán. Ông là người

quốc tế theo xu hướng toàn cầu hóa.
2 Phát biểu suy nghĩ về vấn đề
* Hiện nay, nền kinh tế tri thức nước ta đang phát triển theo xu hướng toàn
cầu hóa. Đó là xu thế phát triển tất yếu khách quan, lôi cuốn tất cả các
quốc gia, không loại trừ ai … (dẫn chứng+phân tích)
*Tuổi trẻ Việt Nam ở thế kỉ XXI cần:
- Nâng cao ý thức học tập trau dồi tri thức, vì trong nền kinh tế tri thức,
hoạt động chủ yếu nhất là tạo ra tri thúc, quảng bá tri thức và sử dụng tri
thức, biến tri thức thành giá trị.
- Nâng cao năng lực sáng tạo và đổi mới, vì sức sáng tạo và đổi mới trở
thành động lực trực tiếp nhất của sự phát triển kinh tế xã hội, là nguồn gốc
của nền kinh tế tri thức hiện nay.
- Có đủ tự tin và bản lĩnh để khẳng định mình đồng thời góp phần đưa đất
nước phát triển theo xu hướng toàn cầu hóa.
3 Bài học rút ra
- Thế kỉ XXI là thế kỉ của nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa. Thế kỉ này
đặt ra nhiều thách thức cũng như mở ra nhiều cơ hội cho xã hội loài người
nói chung và tuổi trẻ Việt Nam nói riêng. Vì vậy, mỗi chung ta cận phải
biết chuẩn bị hành trang cho mình thật tốt để đối đầu với thử thách và nắm
bắt cơ hội trước mắt, sẵn sàng chinh phục đỉnh cao của tri thức nhân loại.
- Từ sự kiện Giáo sư Ngô Bảo Châu, ta thấy tự hào hơn vì mình là người
Việt Nam, và hạnh phúc hơn vì mình là con người trẻ của thế kỉ XXI
2 *Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ. Liên hệ với tình yêu
quê hương đất nước của bản thân.
- Biết kết hợp nhiều thao tác nghị luận để làm sáng tỏ yêu cầu của đề.
- Bài viết có bố cục rõ ràng, hệ thống luận điểm, luận cứ phong phú, mạch
lạc, lập luận chặt chẽ, thuyết phục.
- Diễn đạt trong sáng, giàu cảm súc.
*Yêu cầu về kiến thức:

- Là người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ phải có thái độ, tình cảm và
hành động cụ thể trong vấn đề bảo vệ quê hương biển đảo Việt Nam.
Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau, do đó
chúng tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số
trung bình của 2 nhóm trước khi tác động.
Bảng 2. Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương
Đối chứng Thực nghiệm
TBC 6,0 6,3
p = 0,135
p = 0,135 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm Thực
nghiệm và Đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương.
Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương
đương (được mô tả ở bảng 2):
Bảng: Thiết kế nghiên cứu
Nhóm KT trước tác động Tác động KT sau tác
động
TN 01 01’ Hướng dẫn học sinh soạn văn bằng
sơ đồ tư duy
03
ĐC 02 02’ Không tác động 04
Ở thiết kế này tôi sử dụng phép kiểm chứng T.tes độc lập.
*.Quy trình nghiên cứu
-Chuẩn bị của giáo viên :
+ Lớp đối chứng vẫn dạy học sinh TIẾT TRẢ BÀI bình thường theo sách giáo khoa
24
+ Lớp thực nghiệm :
giáo viên hướng dẫn tiết học SOẠN GIẢNG TIẾT TRẢ BÀI TẬP LÀM VĂN
(Mô hình mẫu – giáo án chung cho dạng bài TRẢ BÀI VIẾT TẬP LÀM VĂN)
3. ĐO LƯỜNG VÀ THU THẬP DỮ LIỆU
- Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra Trả bài viết (thực hiện hai lần)

TBC học tập của nhóm thực nghiệm là lớn.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status