PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH QUA MỘT SỐ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC Ở CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12 HIỆN HÀNH - Pdf 29

THUYẾT MINH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH
QUA MỘT SỐ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC
Ở CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12 HIỆN HÀNH
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Năm học 2014-2015 là năm học đầu tiên thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo
dục- Đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Một trong những nhiệm
vụ đặt ra trong nghị quyết đó là coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người
học, bởi suy cho cùng sản phẩm cuối cùng của Giáo dục - Đào tạo chính là chất lượng
người học có đáp ứng được yêu cầu nhân lực cho xã hội hay không.
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, đổi mới phương pháp dạy học là khâu then
chốt. Dạy học theo chủ đề là xu hướng dạy học tích cực, phát triển được phẩm chất,
năng lực của người học, có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ngày
nay.
Chính vì vậy, từ đầu năm học 2014-2015, Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai đã
tổ chức các lớp tập huấn về đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá học sinh theo định
hướng năng lực, từ đó, đã định hướng cho tất cả các trường Trung học trên toàn tỉnh
áp dụng thí điểm việc dạy học theo chủ đề.
Như vậy, chủ trương, đường lối đổi mới đã có, hướng dẫn của Bộ, Ngành đã cụ
thể. Chương trình, sách giáo khoa hiện hành cũng đã ít nhiều thể hiện nội dung dạy
học theo chủ đề và hướng tới giáo dục toàn diện học sinh cả về phẩm chất và năng
lực. Đó là những thuận lợi cho giáo viên thực hiện đổi mới với việc tổ chức dạy học
theo chủ đề.
Tuy nhiên, việc áp dụng dạy học theo chủ đề cũng gặp nhiều khó khăn. Đó là
tài liệu, dạy học theo chủ đề còn ít; công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về dạy
học theo chủ đề không có; mục đích hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực học
sinh qua các chủ đề dạy học chưa được quan tâm nhiều; một số trường đã thực hiện
dạy học theo chủ đề nhưng chưa phổ biến rộng rãi để chia sẻ học tập áp dụng trong
toàn ngành; thực tế dạy học ở nhiều trường phổ thông trong tỉnh là vẫn bám sát phân

học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh.” Còn ở Điều 27.1, xác định rõ: “Mục tiêu của
giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng
tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và
trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống
lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” .
Trên tinh thần này, Kế hoạch số 2098/KH-SGDĐT về triển khai thực hiện
nhiệm vụ trọng tâm năm học 2014-2015 của Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai đã
nêu rõ nhiệm vụ đối với Giáo dục phổ thông là “Tăng cường chỉ đạo thực hiện
nghiêm túc, linh hoạt, sáng tạo chương trình, kế hoạch giáo dục, nâng cao chất
lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Các cơ sở giáo dục trung học xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục định hướng
phát triển năng lực học sinh phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, địa
phương và khả năng học tập của học sinh; [ ] xây dựng các chủ đề dạy học trong
mỗi môn học và các chủ đề tích hợp, liên môn, giáo dục đạo đức và giá trị sống, rèn
luyện kỹ năng sống, hiểu biết xã hội, thực hành pháp luật, ”
Tất cả cho thấy, yêu cầu đổi mới dạy học đang là vấn đề bức thiết và mục tiêu
đổi mới dạy học là hướng tới đối tượng người học là chính (chứ không phải người
2
dạy). Cho nên, dù lựa chọn phương pháp nào, giáo viên cũng luôn phải xác định mục
tiêu của đổi mới là hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.
Theo tài liệu Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng
lực học sinh của Vụ Giáo dục Trung học, một số phẩm chất, năng lực cần được cần
hình thành, phát triển ở học sinh THPT, đó là:
Về phẩm chất:
1. Yêu gia đình, quê hương, đất nước
2. Nhân ái, khoan dung
3. Trung thực, tự trọng, chí công vô tư

sinh phải thực hiện để có được tri thức và năng lực tương ứng là nghe, nói, đọc, viết,
mà chủ yếu là đọc (nghe) và viết (nói), cụ thể là đọc (nghe) văn và làm văn (viết và
3
nói). Do đó, hoạt động giảng của thầy là một phương tiện dạy học, nhưng không phải
là phương pháp cơ bản của việc dạy học văn.
Khác với dạy học theo truyền thống là dạy học từng đơn vị kiến thức cụ thể,
trọn vẹn tương đối độc lập phù hợp với kiểu dạy theo lớp - bài. Dạy học theo chủ đề
là dạy hệ thống kiến thức của một chủ đề mang tính chất tổng quát có thể liên quan
đến một hay nhiều lĩnh vực, chuyên ngành khác. Nội dung của chủ đề không chỉ dừng
lại ở kiến thức về nội dung tác phẩm mà nâng cao trình độ nhận thức văn học tức
hiểu, lí giải, xâu chuỗi tìm ra các mối quan hệ, tác động, ảnh hưởng của các nội dung
văn học và khả năng vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề khác
nhau trong học tập và thực tiễn, tức hình thành năng lực trong học tập của học sinh.
Giáo viên khi tổ thực hiện dạy học theo chủ đề cần lưu ý vấn đề này.
2. Cơ sở thực tiễn
Thực hiện tinh thần đổi mới giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, ngay
từ đầu năm học 2014-2015, Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai đã có văn bản chỉ đạo,
hướng dẫn việc đổi mới dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát
triển năng lực học sinh. Theo đó, bộ môn Ngữ văn được chỉ đạo áp dụng dạy học theo
chủ đề ở hai khối lớp 10 và 11. Tại trường THPT Trần Phú, tổ chuyên môn cũng đã
triển khai thực hiện ngay sau khi tham gia tập huấn về Đổi mới dạy học và kiểm tra,
đánh giá theo định hướng phát triển năng lực do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức.
Tuy vậy, cũng như đa số các trường khác trong tỉnh, việc dạy học theo chủ đề vẫn còn
gặp rất nhiều khó khăn ở tất cả các khâu: từ việc chọn chủ đề, soạn giáo án, đến việc
tổ chức tiết học trên lớp Trong đó, việc tổ chức dạy học theo chủ đề để hướng tới
mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh cũng chưa được các tổ chuyên môn
ở các trường và các giáo viên quan tâm. Vì vậy, các trường chủ yếu thực hiện cho có.
Giáo viên soạn giáo án dạy học theo chủ đề chỉ là ghép nối giản đơn các đơn vị kiến
thức lại với nhau, tiến trình lên lớp thì vẫn như cũ, không có sự thay đổi căn bản, vì
thế, tính đổi mới chưa thấy rõ, hiệu quả giáo dục chưa cao

Thơ ca
Tây Tiến (Quang Dũng)
Việt Bắc (Tố Hữu)
Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm)
Đất nước (Nguyễn Đình Thi)
Dọn về làng (Nông Quốc Chấn)
Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)
Đò Lèn (Nguyễn Duy)
Sóng (Xuân Quỳnh)
Đàn ghi-ta của Lor-ca (Thanh Thảo)
Bác ơi! (Tố Hữu)
Tự do (P. Ê - luy - a)
Ký
Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)
Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
5
Chủ đề Văn bản
Những ngày đầu tiên của nước Việt Nam mới (Võ Nguyên Giáp)
Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)
Vợ nhặt (Kim Lân)
Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)
Bắt sấu rừng U Minh Hạ (Sơn Nam)
Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)
Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)
Mùa lá rụng trong vườn (Ma văn Kháng)
Một người Hà Nội (Nguyễn Khải)
Kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)
Văn bản
nhật dụng
Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hượu)

chủ đề Thơ hiện đại Việt Nam 1945-1975, có các chủ đề hẹp hơn:
- Cảm hứng yêu nước trong thơ 1945-1975
- Cảm hứng nhân văn trong thơ 1945-1975
-
1.2. Chọn chủ đề dạy học theo định hướng
Với cách phân chia bài học theo chủ đề như trên, chúng ta sẽ có rất nhiều chủ
đề dạy học theo nhiều tiêu chí khác nhau. Vì vậy, hãy chọn một tiêu chí để từ đó, xây
dựng các chủ đề dạy học theo định hướng. Mục tiêu của đề tài này là qua các chủ đề
dạy học, phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Cho nên, mỗi chủ đề dạy học
được chọn, cần phải bám sát mục tiêu này.
Chẳng hạn:
 Phân môn Đọc văn, nếu chọn Chủ đề Thơ hiện đại Việt Nam 1945-1975,
giáo viên phải thông qua việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản các tác
phẩm, đoạn trích, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất
như lòng yêu nước, tình yêu quê hương, ý thức trách nhiệm với đất nước, lối
sống ân tình thủy chung…; hình thành và phát triển các năng lực đọc hiểu và
tạo lập văn bản…
 Phân môn Tiếng Việt, nếu chọn Chủ đề Biện pháp tu từ, giáo viên phải hình
thành và phát triển được năng lực phát hiện, phân tích các biện pháp tu từ
trong văn bản, từ đó, hình thành ở học sinh năng lực nói, viết không chỉ đúng
mà còn phải hay; đồng thời, qua đó cũng bồi dưỡng ở các em tình yêu đối
với tiếng Việt.
 Phân môn Làm văn, nếu chọn Chủ đề Phương pháp lập luận, giáo viên
phải hình thành và phát triển, rèn luyện cho học sinh năng lực kết hợp các
thao tác lập luận khi trình bày một vấn đề xã hội hay văn học có sức thuyết
phục đối với người đọc, người nghe.
2. Xây dựng giáo án dạy học theo chủ đề
Cách thức xây dựng giáo án dạy học theo chủ đề theo hướng phát triển phẩm
chất, năng lực học sinh, về cơ bản cũng gồm các bước, các khâu như một giáo án
thông thường. Chỉ có điều, trong mỗi hoạt động, cần định hướng rõ những phẩm chất,

- Thời gian thực hiện một chủ đề dạy học có thể liên tục hoặc cách
quãng, tùy vào việc phân chia bài dạy của từng giáo viên, tổ chuyên
môn.
• Số tiết thực hiện trên lớp:
- Xác định số tiết sẽ thực hiện cho chủ đề dạy học là bao nhiêu tiết.
- Chú ý phân chia hợp lý thời gian dành cho bài đọc thêm.
2.2.2. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
• Chuẩn bị của giáo viên
- Giáo án
- Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi
- Tranh, ảnh, sơ đồ, bảng biểu…
- Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp (có thể
lồng ghép trong giáo án)
- Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà
• Chuẩn bị của học sinh
8
- Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do giáo viên giao từ
tiết trước)
- Đồ dùng học tập
- …
2.2.3. Lập bảng mô tả mức độ nhận thức
Lập bảng theo 4 mức độ:
- Nhận biết
- Thông hiểu
- Vận dụng tthấp
- Vận dụng cao
2.3. Bước 3: Thiết kế tiến trình tổ chức dạy học
Tiến trình tổ chức dạy học theo chủ đề (mô hình VNEN) dựa vào 5 hoạt động:
- Trải nghiệm
- Hình thành kiến thức mới

Từ đó, giáo viên giới thiệu Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn Chiếc thuyền
ngoài xa với thông điệp được nhà văn gửi gắm ở ô (C)
2.3.2. Hoạt động hình thành kiến thức mới
- Đây là hoạt động giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ
thống các bài tập/ nhiệm vụ.
- Nhiệm vụ trọng tâm là giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động đọc văn bản
để hiểu văn bản (đọc - hiểu). Bên cạnh đó, phải tích hợp Tiếng Việt và Làm văn.
Về hoạt động đọc - hiểu, cần lưu ý mấy vấn đề sau:
Thứ nhất: cần chia hoạt động đọc - hiểu thành nhiều bước, mỗi bước đều có
phương pháp riêng. Theo Trần Đình Sử thì đọc - hiểu có ba khâu. Một là đọc - hiểu
ngôn từ (chữ, từ, câu, đoạn, văn bản); hai là đọc - hiểu hình tượng như là cái biểu đạt
và ba là hiểu ý nghĩa như là cái được biểu đạt. Dạy khâu một có những phương pháp
khác với dạy khâu hai và trọng tâm dạy đọc văn là ở khâu ba. Nhiều trường hợp đọc
hiểu cả mà vẫn không hiểu được ý nghĩa biểu đạt của văn bản. Ba khâu này không
tách rời nhau, không hiểu khâu một thì không có khâu hai, không có khâu hai thì
không có khâu ba. Đọc - hiểu khâu ba phải vận dụng nhiều phương pháp đặc thù.
Thứ hai: cần hướng dẫn cho học sinh, đọc không chỉ là đọc bằng kĩ thuật mà
còn phải đọc bằng hồn, nghĩa là phải nhập tâm, phải sống với văn bản tác phẩm. Đọc
văn chính là đọc người, đọc nhân cách nhà văn và để hoàn thiện nhân cách của mình.
Như vậy, việc đọc - hiểu phải nhằm phát triển toàn diện người học, khơi gợi
hứng thú và nhu cầu tìm hiểu sâu sắc các tầng ý nghĩa - giá trị của văn bản; phát huy
khả năng liên hệ sinh động, tự nhiên giữa văn bản tác phẩm với cuộc sống. Đồng thời,
việc đọc - hiểu cũng căn cứ vào nhu cầu khám phá, chiếm lĩnh và làm chủ kiến thức
của học sinh: đọc để hiểu, để bộc lộ chính mình, phát triển vốn liếng ngôn ngữ và văn
hóa, đồng thời hiểu để đọc tốt hơn.
2.3.3. Hoạt động thực hành
- Hoạt động thực hành giúp học sinh vận dụng kiến thức vừa học để giải quyết
những nhiệm vụ cụ thể do giáo viên đề ra.
- Mục đích của hoạt động này là tập trung hình thành kỹ năng vận dụng cho học
sinh.

Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
(Sóng – Xuân Quỳnh)
“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương…”
(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
• Chủ đề Truyện Việt Nam hiện đại thời kỳ đổi mới
Hãy so sánh để chỉ ra sự đổi mới về đề tài, cảm hứng, nhân vật và điểm nhìn
trần thuật giữa truyện giai đoạn trước 1975 với truyện giai đoạn sau 1975 qua các tác
phẩm đã học và đọc thêm bằng cách lập bảng theo mẫu dưới đây:
Các bình diện so sánh
- Vợ chồng A Phủ
- Vợ nhặt
- Rừng xà nu
- Những đứa con trong gia
đình
- Chiếc thuyền ngoài xa
- Mùa lá rụng trong vườn
- Một người Hà Nội
Đề tài
11
Cảm hứng
Nhân vật
Điểm nhìn trần thuật
2.3.5. Hoạt động bổ sung
- Hoạt động này được thực hiện với mục đích tiếp tục mở rộng kiến thức, kỹ

- Giáo viên được chủ động, linh hoạt điều chỉnh trình tự tiết dạy, điều chỉnh
thời lượng cho từng bài, phù hợp với đối tượng học sinh, dung lượng kiến thức của
từng chủ đề; tự xây dựng phương pháp dạy học thích hợp, xác định nội dung, kiến
12
thức trọng tâm của từng bài, từ đó, hướng dẫn học sinh đi sâu khai thác những nội
dung quan trọng và vận dụng kiến thức linh hoạt trong kiểm tra, thi cử…
- Bước đầu giải quyết được vấn đề thực tiễn đặt ra, định hướng cho các giáo
viên trong tổ chuyên môn thực hiện việc soạn bài và lên lớp các tiết dạy học theo chủ
đề.
2. Đối với học sinh:
- Trước hết, việc dạy học theo chủ đề đã tạo cho học sinh có hứng thú trong tiết
học Ngữ văn. Phần hoạt động trải nghiệm thay thế cho bước kiểm tra bài cũ đã tạo
tâm thế tốt cho các em khi qua hoạt động hình thành kiến thức mới. Các hoạt động
thực hành, hoạt động bổ sung cũng giúp học sinh nắm vững kiến thức và bước đầu
biết vận dụng kiến thức.
- Học sinh được học theo chủ đề nên có hệ thống kiến thức chuyên sâu (theo
chủ đề), biết vận dụng đọc hiểu những tác phẩm khác cùng chủ đề ngoài chương trình
lớp học, từ đó, các em làm tốt những dạng đề theo hướng đổi mới của Bộ.
Sau đây là bảng đối chiếu so sánh kết quả bài kiểm tra khảo sát đầu năm và bài
thi thử THPT Quốc gia của học sinh trước và sau khi áp dụng chủ đề:
*Bài kiểm tra khảo sát đầu năm:
Lớp Sĩ số Tỷ lệ điểm
Khá Trên TB Yếu Kém
12a3 37 18,9% 63,1% 13,5% 4,5%
*Bài thi thử THPT Quốc gia:
Lớp Sĩ số Tỷ lệ điểm
Khá Trên TB Yếu Kém
12a3 37 20,6% 75,3% 4,1% 0%
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
1. Đối với Sở Giáo dục:

gắng hoàn thành, cùng với tâm huyết của người dạy Văn, chắc chắn chúng ta sẽ thành
công.
VI. DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật giáo dục của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam – 2005
2. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
3. Nhà xuất bản Giáo dục (2012), Ngữ văn 12, Tập 1
4. Nhà xuất bản Giáo dục (2012), Ngữ văn 12, Tập 2
5. Trần Đình Sử, Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn,
trandinhsu.wordpress.com
6. Sở giáo dục và Đào tạo Đồng Nai, Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học
2014-2015
7. Vụ Giáo dục Trung học, Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát
triển năng lực học sinh, Hà Nội, 2014
14
VII. PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Giáo án minh họa
CHỦ ĐỀ: TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Kiến thức – kỹ năng
- Nhận ra đề tài, chủ đề, khuynh hướng tư tưởng, cảm hứng thẩm mỹ, những
sáng tạo đa dạng về ngôn ngữ, hình ảnh, những đặc sắc về nội dung của các tác
phẩm: Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Mùa lá rụng trong vườn
(Ma Văn Kháng), Một người Hà Nội (Nguyễn Khải)
- Nhận biết được một số đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
- Biết cách đọc - hiểu một tác phẩm truyện theo đặc trưng thể loại
- Biết vận dụng những tri thức và kĩ năng đã học vào làm bài văn nghị luận
2. Hình thành năng lực:
- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản
- Năng lực hợp tác để cùng thực hiện nhiệm vụ học tập

3. Lập bảng mô tả mức độ nhận thức
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng thấp Vận dụng cao
- Nêu thông tin về
tác giả, tác phẩm,
hoàn cảnh sáng tác,
xuất xứ …
Lý giải được mối
quan hệ/ ảnh hưởng
của hoàn cảnh sáng
tác với việc xây
dựng cốt truyện và
thể hiện nội dung tư
tưởng của tác phẩm
Vận dụng hiểu biết
về tác giả, tác phẩm
để phân tích lý giải
giá trị nội dung
nghệ thuật của từng
tác phẩm
So sánh các phương
diện nội dung, nghệ
thuật giữa các tác
phẩm cùng đề tài
hoặc thể loại, phong
cách tác giả
Nhận diện được
ngôi kể, trình tự kể
Hiểu được ảnh
hưởng của giọng kể
đối với việc thể

nhân vật phụ
Giải tích, phân tích
đặc điểm về ngoại
hình, tính cách, số
phận nhân vật. khái
quát được về nhân
Trình bày cảm nhận
về tác phẩm
Vận dụng tri thức
đọc hiểu văn bản để
kiến tạo những giá
trị sống của cá
nhân. Trình bày
16
vật những giải pháp để
giải quyết một vấn
đề cụ thể đặt ra
trong tác phẩm
Phát hiện và hiểu
được tình huống
truyện
Phân tích được ý
nghĩa của tình
huống truyện
Thuyết trình về tác
phẩm
Chuyển thể văn
bản: vẽ tranh, đóng
kịch…
Phát hiện các chi

18
Góc nhìn…….
Suy nghĩ…….
Hãy có cái nhìn
………………………
Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: Tìm hiểu đặc
điểm cơ bản của văn học thời
kỳ đổi mới
GV: Yêu cầu HS xem lại bài
Khái quát văn học Việt Nam từ
1945 đến hết thế kỷ XX để trả lời
các câu hỏi sau:
1. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội,
văn hóa của đất nước từ
sau 1975?
2. Những chuyển biến bước
đầu của nền văn học trên
đường đổi mới?
HS: Chia thành 02 nhóm, thảo
luận, ghi vào phiếu học tập, cử
đại diện trình bày trước lớp 2 vấn
đề trên.
A. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VĂN
HỌC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
I. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa
- Chiến thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra cho
dân tộc ta một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập,
tự do và thống nhất đất nước.
- Hoàn cảnh hòa bình nhưng đất nước đứng trước

học chuyển từ bút pháp hướng ngoại sang hướng
nội.), chú ý không gian đời tư, mở rộng thời gian
tâm lí.
- Sử dụng đa dạng phương thức trần thuật với giọng
19
CHỦ ĐỀ: TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI (tiếp theo)
Tiết 4, 5 - ĐỌC THÊM: MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN - MỘT NGƯỜI HÀ
NỘI
MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN (Ma Văn Kháng)
Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt
* Hoạt động 1: Hướng dẫn tìm
hiểu khái quát về tác giả, tác
phẩm
- Thao tác 1: Tìm hiểu về tác giả
+ GV: Yêu cầu HS đọc SGK, tóm
tắt nét chính về tác giả.
+ HS: Nêu những nét chính về tác
giả.
+ GV: Cung cấp thêm một số kiến
thức về nhà văn.
- Thao tác 2: Tìm hiểu về Tiểu
thuyết Mùa lá rụng trong vườn.
+ GV: Nêu những hiểu biết của
em về tác phẩm Mùa lá rụng trong
vườn
+ HS: Nêu những nét chính về tác
phẩm.
+ GV: Cung cấp thêm một số kiến
thức về tác phẩm
I. TÌM HIỂU CHUNG

chị?
+ HS làm việc cá nhân, trình bày
suy nghĩ của mình trước lớp.
+ GV: Chốt lại các ý chính.
- Mọi người trong gia đình đều yêu quý chị
Hoài:
+ Chị có một tấm lòng nhân hậu (trở về sum họp
trong buổi chiều cuối năm; những món quà quê
giản dị; quan tâm cụ thể, mộc mạc và nồng hậu
tất cả thành viên trong gia đình bố chồng).
+ Chị trở lại khi gia đình ấy có những thay đổi
không vui, rạn vỡ trong quan hệ do biến động xã
hội.
à Sự có mặt của chị gắn kết mọi người, đánh
thức tình cảm thiêng liêng về gia tộc, khiến cho
bữa cơm tất niên “sang trọng và hân hoan khác
thường” trong thời buổi khó khăn.
- Thao tác 2: GV tổ chức cho HS
tìm hiểu cảnh sum họp gia đình
trước giờ cúng tất niên bằng các
câu hỏi.
+ GV: Phân tích diễn biến tâm lí
nhân vật ông Bằng trong cảnh gặp
lại trước giờ cúng tất niên.
+ HS làm việc cá nhân, trình bày
suy nghĩ của mình trước lớp.
+ GV: Chốt lại các ý chính.
+ GV: Phân tích diễn biến tâm lí
nhân vật chị Hoài trong cảnh gặp
người bố chồng cũ.

tết.
+ GV: Khung cảnh tết và dòng tâm
tư cùng với lời khấn của ông Bằng
trước bàn thờ gợi cho anh (chị)
cảm xúc và suy nghĩ gì về truyền
thống văn hoá riêng của dân tộc
ta?
+ HS: làm việc cá nhân, trình bày
suy nghĩ của mình trước lớp
3. Ý nghĩa của việc cúng tổ tiên trong ngày
tết:
- Gợi nhớ về cội nguồn, về các giá trị truyền
thống của dân tộc.
- Phải biết giữ gìn và phát huy những giá trị tốt
đẹp trong quá khứ. “Một dân tộc không có quá
khứ là một dân tộc bất hạnh”.
Hoạt động 3: Hướng dẫn tổng
kết
GV hướng dẫn HS tự viết tổng kết
III. TỔNG KẾT
1. Giá trị nội dung tư tưởng
2. Giá trị nghệ thuật
MỘT NGƯỜI HÀ NỘI (Nguyễn Khải)
Hoạt động của thầy và
trò
Nội dung cần đạt
* Hoạt động 1: Hướng
dẫn tìm hiểu chung
- Thao tác 1: Hướng
dẫn tìm hiểu chung về

- Một người Hà Nội in trong tập truyện ngắn cùng tên của
Nguyễn Khải (1990).
- Truyện đã thể hiện những khám phá, phát hiện của Nguyễn
Khải về vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn, tính cách con người
Việt Nam qua bao biến động thăng trầm của đất nước.
* Hoạt động 2: Hướng
dẫn đọc - hiểu văn bản
1. GV tổ chức cho HS
suy nghĩ, thảo luận, phát
biểu nhận xét, bổ sung
để hoàn chỉnh các vấn
đề sau:
a) Tính cách cô Hiền-
nhân vật trung tâm của
truyện, đặc biệt là suy
nghĩ, cách ứng xử của
cô trong từng thời đoạn
của đất nước.
II. HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM:
1. Nhân vật cô Hiền:
a) Tính cách, phẩm chất:
- Cô Hiền cũng như những người Hà Nội khác, cô đã cùng
Hà Nội, cùng đất nước trải qua nhiều biến động thăng trầm
nhưng vẫn giữ được cốt cách người Hà Nội.
- Cô sống thẳng thắn, không giấu giếm quan điểm, thái độ
với mọi hiện tượng xung quanh.
+ Việc hôn nhân: thời còn trẻ, cô giao thiệp với nhiều loại
người, nhưng cô chọn “ một ông giáo cấp Tiểu học hiền
lành, chăm chỉ”
+ Việc sinh con: Sinh năm đứa con, đến con gái út, cô

vàng” của Hà Nội?
* GV mở rộng
b) Cô Hiền- "một hạt bụi vàng của Hà Nội":
- Nói đến hạt bụi, người ta nghĩ đến vật nhỏ bé, tầm thường.
Nhưng là hạt bụi vàng thì dù nhỏ bé nhưng có giá trị quí
báu. Cô Hiền là một người Hà Nội bình thường nhưng cô
thấm sâu những cái tinh hoa trong bản chất người Hà Nội.
- Bao nhiêu hạt bụi vàng, bao nhiêu người như cô Hiền sẽ
hợp lại thành những “áng vàng” chói sáng. Áng vàng ấy là
phẩm giá người Hà Nội, là cái truyền thống cốt cách người
Hà Nội.
2. GV tổ chức các nhóm
học tập, giao việc cho
mỗi nhóm tìm hiểu về
một nhân vật trong tác
phẩm:
- Nhân vật “tôi”.
- Nhân vật Dũng- con
trai cô Hiền.
2. Các nhân vật khác trong truyện:
- Nhân vật Dũng- con trai đầu của cô Hiền:
+ Anh đã sống đúng với những lời mẹ dạy về cách sống
của người Hà Nội. Anh cùng với 660 thanh niên ưu tú của
Hà Nội lên đường hiến dâng tuổi xuân của mình cho đất
nước.
+ Dũng, Tuất và tất cả những chàng trai Hà Nội ấy đã góp
phần tô thắm thêm cốt cách tinh thần người Hà Nội.
24
Hoạt động của thầy và
trò

đã được nuôi dưỡng và mãi trường tồn.
4. GV gợi ý để HS nhận
xét về giọng điệu trần
thuật và nghệ thuật xây
dựng nhân vật của
Nguyễn Khải trong tác
phẩm.
4. Giọng điệu trần thuật và nghệ thuật xây dựng nhân
vật:
a. Giọng điệu trần thuật:
- Một giọng điệu rất trải đời, vừa tự nhiên, dân dã vừa trĩu
nặng suy tư, vừa giàu chất khái quát, triết lí, vừa đậm tính
đa thanh.
+ Cái tự nhiên, dân dã khi kể lại những gì mình đã chứng
kiến, đã trải qua tạo nên phong vị hài hước trong giọng kể
của nhân vật “tôi”;
+ tính chất đa thanh thể hiện trong lời kể: nhiều giọng (tự
tin xen lẫn hoài nghi, tự hào xen lẫn tự trào )
- Giọng điệu trần thuật đã làm cho truyện ngắn đậm đặc chất
tự sự rất đời thường mà hiện đại.
b. Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
25

Trích đoạn Yêu cầu về hình thức: Nhà thơ đã khéo léo đưa cái riêng tư nhập vào tình yêu nước rộng lớn, đưa cái tôi vào cái ta, nâng cái cụ thể lên thành cái khái quát.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status