BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
LÊ THỊ MÙI
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON HUYỆN ĐÔNG SƠN,
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chon đề tài
Chúng ta đã biết, ngày nay phát triển giáo dục được thừa nhận như một
tiền đề quan trọng của sự phát triển tất cả các lĩnh vực của đất nước như chính
trị - kinh tế - an ninh - quốc phòng, xuất phát từ luận điểm: “Con người được
giáo dục tốt và biết tự giáo dục là động lực và mục tiêu của sự phát triển bền
vững của đất nước”. Giáo dục là một bộ phận hữu cơ, quan trọng nhất trong
chiến lược, qui hoạch, phát triển KT - XH, trong đó mục tiêu giáo dục phải
được xem là một trong những mục tiêu hàng đầu của sự phát triển “GD&ĐT
là chìa khoá để mở cửa tiến vào tương lai” (Nghị quyết TW4 - khoá 7). Để
phát triển xã hội, điều quan trọng hàng đầu là sự phát triển con người. Đảng ta
khẳng định: con người là mục tiêu, là động lực của sự phát triển. GD&ĐT có
chức năng phát triển xã hội chủ yếu thông qua phát triển con người mà con
người là giá trị cao nhất, giá trị sáng tạo mọi giá trị. Hiểu được tầm quan
trọng, nên Đảng và nhà nước ta nói chung và tỉnh Thanh Hoá nói riêng đến
nay cơ bản đã giải quyết được vấn đề thiếu GVMN. Tuy nhiên, ĐNGV vẫn
còn bất cập về cơ cấu, một số trường giáo viên trình độ tay nghề, năng lực sư
phạm của đội ngũ giáo viên không tương xứng với trình độ chuyên môn được
đào tạo và đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục. Đội ngũ GVMN hiện còn
gặp khá nhiều khó khăn, như điều kiện làm việc, CSVC, trang thiết bị dạy,
thời gian làm việc còn nhiều so với quy định, định biên số trẻ trên cô quá
đông nhưng giáo viên phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ. GDMN là
nhận thức rõ vị trí, vai trò to lớn của đội ngũ giáo viên là yếu tố cơ bản mang tính
quyết định để hoàn thành mục tiêu phổ cập GDMN, đối với sự phát triển và đảm
3
bảo chất lượng đào tạo Chỉ thị số 40/2004/CT- TW, ngày 15/6/2004 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã nêu rõ: “Mục tiêu xây dựng đội ngũ
nhà giáo và CBQLGD được chuẩn hoá đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ
cấu, đặc biệt nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống, lương tâm, tay
nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có
hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực,
đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”.
Những năm gần đây, cùng với giáo dục cả nước nói chung, ngành giáo
GD&ĐT tỉnh Thanh Hoá nói riêng đang có những khởi sắc mới, xây dựng
ĐNGV và cán bộ quản lý GDMN đủ về số lượng, được đào tạo để giáo viên
đạt chuẩn, củng cố, mở rộng mạng lưới trường, lớp, bảo đảm nhu cầu gửi trẻ
tại các nhà trẻ, nhóm trẻ. CSVC các trường được nâng cấp, cải tạo và xây
mới, số trường lớp được xây dựng mới theo chuẩn quốc gia ngày càng tăng,
chất lượng GD&ĐT có tiến bộ rõ rệt. Song bên cạnh đó vẫn còn những mặt
tồn tại, yếu kém, bất cập cả về quy mô, cơ cấu và đặc biệt là hiệu quả
GD&ĐT chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi ngày càng cao về nguồn nhân lực
cho công cuộc hội nhập kinh tế, quốc tế. Vì vậy trong Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XV đã nêu rõ: “Phát huy truyền thống hiếu
học, cũng cố thành quả giáo dục đạt được, khắc phục những yếu kém trong
công tác quản lý giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT toàn diện”.
Nằm trong hệ thống GD&ĐT tạo chung của cả tỉnh nên GD&ĐT huyện
Đông Sơn cũng có đầy đủ những ưu điểm đã nêu trên. Bên cạnh những ưu
điểm đó, Giáo dục huyện Đông Sơn còn bộc lộ một số mặt hạn chế, yếu kém
cụ thể như sau:
- Chuyên môn nghiệp vụ còn yếu, còn nhiều bất cập về chất lượng, số
lượng và cơ cấu; chưa có sự đồng bộ, còn lạc hậu và chậm đổi mới, thiếu
động lực tự, chưa bắt kịp yêu cầu của đổi mới giáo dục.
giáo dục, học tập thường xuyên và học tập suốt đời.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên mầm non huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa” để
nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học, tính khả thi để nâng
cao chất lượng đội ngũ GVMN huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, từ đó đua
ra giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN trong giai đoạn hiện nay.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN huyện Đông
Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp có cơ sở khoa học và có
tính khả thi thì có thể nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN huyện Đông Sơn,
tỉnh Thanh Hóa.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
GVMN.
5.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
GVMN huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
5.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN
huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
6
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
giáo viên mầm non huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
mầm non huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin thì con người vừa
là điểm khởi đầu vừa là sự kết thúc, là trung tâm của sự biến đổi lịch sử, là
chủ thể chân chính của quá trình xã hội. Người thầy giáo trong đội ngũ nhà
giáo với tư cách là chủ thể trong đổi mới GD&ĐT yêu cầu cần phải giỏi về
chuyên môn, nghiệp vụ, tâm huyết với nghề, tận tụy với công việc, có sức
khoẻ và đạo đức tốt.
Trên phương diện nghiên cứu lý luận và thực tiễn giáo dục, các nhà xã
hội học, đặc biệt là giáo dục học đã có nhiều công lao to lớn trong việc nghiên
cứu, hoàn chỉnh hệ thống lý luận về công tác quản lý xã hội nói chung trong
đó có hệ thống lý luận về xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên nói riêng.
Hiện nay các công trình nghiên cứu về phát triển chất lượng đội ngũ giáo viên
là một trong những nội dung vô cùng quan trọng và không thể thiếu được
trong công tác QLGD.
Các nhà nghiên cứu QLGD của Liên Xô trước đây (ngày nay là Liên
bang Nga) cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất
nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội
ngũ giáo viên”.
V.A Xu-khôm-lin-xki (1984) đã khẳng định: “Một trong những giải
pháp hữu hiệu nhất để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là
đề cập tới chất lượng ĐNGV. Vấn đề nâng cao chất lượng ĐNGV mầm non
10
đã có một số công trình nghiên cứu và cũng đã khẳng định chất lượng ĐNGV
là điều kiện quyết định đến chất lượng và hiệu quả giáo dục. Tuy nhiên chưa
có công trình nghiên cứu nào đánh giá thực trạng đội ngũ nhà giáo một cách
toàn diện và sâu sắc. Mặc dầu các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra được
một số giải pháp cơ bản, song còn chưa đầy đủ, chưa có tính hệ thống và
mang tính chiến lược để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo. Hiện nay,
nước ta đang trên đà phát triển CNH, HĐH tiến hành sự nghiệp đổi mới và
phát triển giáo dục. Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra cho giáo dục những cơ hội
và thách thức mới. Giáo dục ở nước ta nói chung và GDMN nói riêng đã đi
vào chiều sâu và được triển khai có bài bản trên quy mô lớn, trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. ĐNGV là người trực tiếp truyền đạt những kỹ năng
sống, kiến thức cho học sinh chính vì vậy hoạt động của giáo viên trong quá trình
giáo dục quyết định đến kết quả, quá trình học và hình thành nhân cách của học
sinh.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng công tác phát triển
giáo dục về mọi mặt và là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, phát
triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cả về chất lượng lẫn số
lượng. Nhận thấy rõ được tầm quan trọng của người thầy giáo trong quá trình phát
triển giáo dục, người thầy đào tạo ra những nhân lực có tài, có đức cho đất nước để
tạo điều kiện tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, thời gian qua, Đảng
và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều Chỉ thị, Nghị quyết đúng đắn, kịp thời, để chỉ đạo
tăng cường công tác xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học, nhà
nghiên cứu cụ thể như sau:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng ( khóa
IX ) đã đề cập: “ Tập trung chỉ đạo để nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục và
đào tạo mà giải pháp then chốt là đổi mới và nâng cao năng lực quản lý Nhà
nước trong giáo dục và đào tạo” [13].
11
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI một lần nữa đã khắng định “Phát
triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục
Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội
nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ
giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” [15]. Nội dung văn kiện "phần
IV- Định hướng phát triển KT-XH, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại
nền kinh tế” mục 9 đã nêu “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới
toàn diện và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo”: Phát triển và nâng cao
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến
lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển ứng dụng khoa học, công nghệ,
cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh
quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. đặc biệt
coi trọng phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị
doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu
đàn. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ
và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề [15].
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành văn bản dưới luật như: Điều
lệ trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở Đây là những văn bản quy
phạm pháp luật chỉ đạo hoạt động thống nhất của hệ thống giáo dục quốc dân,
đồng thời giúp đội ngũ giáo viên thực hiện có hiệu quả công tác của mình và
cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi, đạt
được những kết quả khả quan như: Cẩm nang công tác GDMN giai đoạn 2010 -
2015, do Nguyễn Hà Thanh sưu tầm và tuyển soạn (2010), nhà xuất bản lao
động [18].
“Tiếp tục đổi mới công tác QL, nâng cao chất lượng CSGD trẻ” của
13
TS. Lê Minh Hà (2011), Vụ GDMN [16].
“Chương trình GDMN - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS.
Trần Thị Ngọc Châm [09].
“Hoạt động sáng kiến kinh nghiệm của trường MN” của TS. Nguyễn
lực lượng” tuy nhiên khái niệm đội ngũ sử dụng rộng rãi trong các tổ chức
như đội ngũ cán bộ công nhân viên, đội ngũ cán bộ khoa học, đội ngũ thợ cơ
khí… Khái niệm đội ngũ được xuất phát từ thuật ngữ quân sự, đó là tổ chức
gồm có nhiều người tập hợp thành một lực lượng hoàn chỉnh. Vì vậy, đội ngũ
có thể được hiểu là tập hợp một số người có cùng chức năng, nhiệm vụ và
nghề nghiệp. Tuy các quan niệm về đội ngũ có khác nhau nhưng chúng đều
thống nhất ở chỗ đội ngũ là tập hợp một số người thành một lực lượng, thực
hiện một hay một số chức năng, nhiệm vụ nhất định để đem về kết quả cụ thể
nào đó.
Đội ngũ giáo viên mầm non: Đội ngũ GVMN là tập thể giáo viên làm
nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ
thực hiện chương trình giáo dục mầm non. Đội ngũ GVMN là một bộ phận
rất quan trọng trong một tập thể sư phạm của trường mầm non; là lực lượng
chủ yếu để tổ chức quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục học sinh. Trong
nhà trường, chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục học sinh đạt hiệu quả
cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ giáo viên.
1.2.2. Chất lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non.
1.2.2.1. Chất lượng
Theo từ điển Tiếng Việt, chất lượng là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị
của một con người, một sự việc, sự vật” [20; tr.01], hoặc là “cái tạo nên bản
chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” [ 20; tr.01].
15
Theo TCVN ISO 8402: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một
thực thể (đối tượng), tạo cho thực thể đó có khả năng thoả mãn những nhu
cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”. Vậy chất lượng là một khái niệm mang
tính tương đối, mỗi vị trí khác nhau người ta thường đánh giá chất lượng ở
các khía cạnh khác nhau.
1.2.2.2. Chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non.
Chất lượng ĐNGV mầm non có rất nhiều định nghĩa phổ biến như sau:
Chất lượng giáo dục mầm non được thể hiện với đặc trưng sản phẩm là con
giải pháp không phù hợp có thể không đến được đích mà ta mong muốn
Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái
niệm trên nhưng nó cũng có điểm riêng. Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này
là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó
khăn nhất định. Trong một giải pháp có thể bao gồm nhiều biện pháp.
1.2.3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV là hệ thống các cách thức đổi
mới tổ chức, điều khiển hoạt động nâng cao chất lượng ĐNGV nhằm làm cho
hoạt động này đạt hiệu quả cao hơn.
Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV thực chất là
đưa ra các cách thức đổi mới tổ chức, điều khiển hoạt động nâng cao chất
lượng ĐNGV nói chung, đội ngũ GVMN nói riêng.
1.3. Người giáo viên mầm non trong bối cảnh hiện nay
1.3.1. Vị trí, vai trò của người giáo viên mầm non
1.3.1.1. Vị trí của người giáo viên mầm non
Theo Mạnh Tử đứng trên quan điểm xã hội học, bản chất con người:
“Nhân chi sơ, tính bản thiện. Tính tương cận, tập tương viễn”. Nghĩa là, con
17
người khi mới sinh ra bản chất vốn lương thiện, nhưng khi lớn lên, do môi
trường sống khác nhau mà tính cách cũng khác nhau.
Tuân Tử thì dựa trên quan điểm tiến hóa, không đồng ý với ý kiến trên
ông cho rằng: “Nhân chi sơ, tính bản ác. Lý tính hậu, lai tập đắc.” ý là con
người lúc mới sinh ra còn mang những đặc điểm của động vật nên bản chất
hung dữ và độc ác, nhưng lớn lên do được học tập mà có lý trí, biết được
đúng sai, phải trái. Tuy quan điểm về con người có chỗ khác nhau nhưng học
thuyết của hai nhà Đại Nho gia lại cùng gặp nhau ở một điểm, đó là họ cùng
khẳng định ví thế vô cùng to lớn của giáo dục trong việc hình thành nhân cách
con người.
Từ những quan điểm đó ta nhận thấy giáo dục không chỉ là việc cung
cấp, bồi dưỡng tri thức, kĩ năng hay nâng cao năng lực con người, mà hơn hết
dân gian uyển chuyển. Tất cả những con người ấy đều tồn tại trong một
GVMN, có thể trong mắt mọi người không tài năng nào của họ có thể trở
thành chuyên nghiệp, nhưng đối với trẻ đó là chuẩn mực tuyệt vời nhất để
chúng noi gương và học tập, bắt chước theo. Chính điều đó đã khẳng định vai
trò của những người quản lý, những GVMN với sự nghiệp giáo dục nói chung
và công tác chăm sóc nuôi dạy trẻ nói riêng.
Là người con của dân tộc Việt Nam, ai cũng hiểu và tôn vinh tầm quan
trọng, vị trí của người giáo viên, đặc biệt là người GVMN. Người công an
trên mặt trận phòng chống tội phạm, người lính thì ở trên mặt trận tiền tuyến,
còn người giáo viên lại là người chiến sỹ ở mặt trận tư tưởng văn hoá truyền
đạt cho học sinh về truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm, nhân cách
văn hoá đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc và dạy cho các em những tri thức
19
khoa học, kỹ năng sống tự lập, kỹ năng phát triển nghề nghiệp bước vào đời
với những bước đi tự tin, vững chãi. Là nền tảng đầu tiên trong hệ thống giáo
dục. Mục tiêu của GDMN là chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ 0 - 6 tuổi giúp
trẻ phát triển toàn diện về 5 lĩnh vực: Thể chất, trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm kĩ
năng xã hội, thẩm mĩ. Hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, và
chuẩn bị những tâm thế tốt nhất cho trẻ trước khi bước vào học trường phổ
thông. Hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lý, năng lực
phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa
tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho
việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học suốt đời.
1.3.1.2. Vai trò của người giáo viên mầm non
Trong bối cảnh hiện nay, giáo viên là người trực tiếp tổ chức quá trình
dạy học trên lớp và quá trình giáo dục theo nội dung chương trình của Bộ
GD&ĐT với phương pháp sư phạm nhằm đạt mục tiêu giáo dục của các cấp
học và của nhà trường, đồng thời người giáo viên là lực lượng quyết định đến
chất lượng giáo dục. GDMN là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và
tài trí, đạo đức, hình thành nhân cách, tạo kỹ năng sống cho thế hệ trẻ trước
khi bước vào đời. Lời nói, hành động, cuộc sống lao động sư phạm của người
GVMN có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của các em học
sinh.
Từ đó chúng ta có thể xác định được vai trò của GVMN:
+ GVMN là nhân tố quan trọng trong việc phát triển bậc mầm non trở
thành bậc nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, tạo điều kiện cơ bản nâng
21
cao dân trí và trang bị những cơ sở ban đầu hết sức quan trọng trong việc hình
thành và phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam trong tương lai.
+ GVMN giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát
triển nhân cách trẻ, quyết định sự phát triển đúng hướng của trẻ, ấn tượng đẹp
về người GVMN mãi giữ trong ký ức của các trẻ. Trẻ mầm non tiềm ẩn nhiều
khả năng phát triển, song do chưa có kinh nghiệm chọn lọc về cuộc sống nên
trẻ tiếp thu không chọn lọc được cái gì tốt, cái gì xấu trong xã hội. GVMN là
người có uy tín, là “thần tượng” đối với trẻ. Lời cô là sự thuyết phục, cử chỉ
của cô là mẫu mực, cuộc sống lao động của cô là tấm gương với các em.
+ Để phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý học và nét truyền thống từ
xưa đến nay, mỗi lớp mầm non chủ yếu có một giáo viên làm chức năng “Ông
thầy tổng thể” tương ứng với cả một ê kíp giáo viên bậc học khác. Do đặc thù
của ngành học mầm non như vậy, nên GVMN là nhân tố quyết định về chất
lượng của mỗi lớp mầm non của từng học sinh mầm non. Vì vậy, GVMN
phải được tuyển chọn, sàng lọc, đào tạo bồi dưỡng theo tiêu chuẩn đạo đức,
tác phong chuyên môn, nghiệp vụ do Nhà nước quy định.
1.3.2. Yêu cầu về phẩm chất, năng lực đối với người giáo viên mầm
non.
1.3.2.1 Yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.
- Nhận thức tư tưởng chính trị, thực hiện trách nhiệm của một công dân,
một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc:
Tham gia học tập, nghiên cứu các Nghị Quyết của Đảng, chủ trương
Trung thực trong báo cáo kết quả chăm sóc, giáo dục trẻ và trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ được phân công.
23
Đoàn kết với mọi thành viên trong trường, có tinh thần hợp tác với đồng
nghiệp trong các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ.
Có thái độ đúng mực và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cha mẹ trẻ.
Chăm sóc, giáo dục trẻ bằng tình thương yêu, sự công bằng và trách
nhiệm của nhà giáo.
1.3.2.2. Yêu cầu về trình độ, kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ:
- Yêu cầu về trình độ tào tạo:
- Yêu cầu về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ.
Hiểu biết về đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi mầm non, Trẻ khuyết tật, mục
tiêu, nội dung chương trình GDMN.
- Kiến thức về chăm sóc sức khoẻ cho trẻ lứa tuổi mầm non.
Hiểu biết về an toàn, phòng tránh và sử lý ban đầu các tệ nạn thường
gặp ở trẻ. Có kiến thức về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và giáo dục kỹ
năng tự phục vụ cho trẻ. Hiểu biết về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm,
giáo dục dinh dưỡng cho trẻ.
Các kiến thức về chuyên ngành như: Phát triển thể chất, phát triển
nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển thẩm mỹ, phát triển tình cảm xã
hội
- Kiến thức về phương pháp giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non …
Thực hiện tốt các chuyên đề trong năm do trường và phòng mở.
Tích cực dự giờ, rút kinh nghiệm, có đánh giá, nhận xét xếp loại cho đồng
nghiệp.
- Kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế văn hoá xã hội và giáo dục
của địa phương nơi công tác.
Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục.
Thực hiện tốt các cuộc vận động do ngành phát động: Cuộc vận động
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Cuộc vận động hai