B GIO DC V ĐO TO
!"
#$%&'()%&*%+
,-./,0
1)2'%*
B GIO DC V ĐO TO
!"
#$%&'()%&*%+
3456778973:,;<3=>?3@8ABA
C=D:E'F22F'GF%%
,-./,0
Người hướng dẫn khoa học:
F,HI#
1)2'%*
,JK
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, ngoài sự nổ lực của bản thân, phải
kể đến sự hướng dẫn nghiêm túc, nhiệt tình, chu đáo của Tiến sĩ Lê Đức
Hoàng, giảng viên khoa Lịch sử, trường Đại học Vinh trong suốt thời gian tôi
làm luận văn. Tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy.
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong tổ bộ
môn Lịch sử Thế giới, Khoa Lịch sử, Phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Đại
học Vinh; bạn bè và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành
2.1.1. Giai o n 1905 - 1912đ ạ 28
2.1.2. Giai o n 1913 - 1924đ ạ 38
2.2. Chí s cách m ng Trung Qu c v i ho t ng c a Nguy n Áiĩ ạ ố ớ ạ độ ủ ễ
Qu cố
2.2.1. Giai o n 1924 - 1933đ ạ 45
2.2.2. Giai o n 1938 - 1941đ ạ 54
Ch ng 3 NH N XÉT HO T NG CÁCH M NG C A PHAN B I ươ Ậ Ạ ĐỘ Ạ Ủ Ộ
CHÂU VÀ NGUY N ÁI QU C TRUNG QU CỄ Ố Ở Ố
3.1. Vai trò chí s cách m ng Trung Qu c i v i ho t ng c a Phanĩ ạ ố đố ớ ạ độ ủ
B i Châu v Nguy n Ái Qu c Trung Qu cộ à ễ ố ở ố
3.2. Ho t ng c a Phan B i Châu v Nguy n Ái Qu c Trung Qu cạ độ ủ ộ à ễ ố ở ố
i v i cách m ng Vi t Namđố ớ ạ ệ
3.3. Ho t ng c a Phan B i Châu v Nguy n Ái Qu c Trung Qu cạ độ ủ ộ à ễ ố ở ố
i v i cách m ng Trung Qu cđố ớ ạ ố
C. K T LU NẾ Ậ
D. TÀI LI U THAM KH OỆ Ả
OF N,N
5
FPQ
%F,RST<3U7VW?9A
Từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng, chính thức xâm lược
nước ta bằng vũ lực, thì cũng là lúc phong trào đấu tranh chống Pháp liên tiếp
nổ ra. Đặc biệt là vào cuối thế kỷ XIX đã diễn ra phong trào đấu tranh chống
Pháp rất mạnh mẽ, có quy mô rộng khắp, do văn thân, sỹ phu phong kiến lãnh
đạo, với mục tiêu giúp vua cứu nước, đó là phong trào Cần Vương. Tuy
nhiên, phong trào Cần Vương cuối cùng cũng thất bại, nước ta lại rơi vào tình
trạng khủng hoảng về đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc. Lịch sử lại đặt
ra yêu cầu tìm được một con đường cứu nước đúng đắn, đưa dân tộc ta thoát
khỏi tình trạng này.
Trước bối cảnh đó, từ những năm đầu thế kỷ XX, một số văn thân, sỹ
Từ thực tế đó, chúng tôi rất có hứng thú khi tìm hiểu về hoạt động của
Phan Bội Châu và Nguyễn i Quốc trên đất Trung Quốc, trong đó đặc biệt là
mối quan hệ, những đóng góp của chí sĩ cách mạng Trung Quốc đối với quá
trình hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu và Nguyễn i Quốc trong thời
gian ở đất nước này. Trong điều kiện và năng lực cho phép, chúng tôi đã lựa
chọn đề tài "Chí sĩ cách mạng Trung Quốc với hoạt động của Phan Bội Châu
và Nguyễn Ái Quốc (1905 -1941)" làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ, xuất
phát từ một số lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất, trong suốt hành trình hoạt động cách mạng của Phan Bội
Châu cũng như của Nguyễn i Quốc thì thời gian hoạt động trên đất Trung
Quốc chiếm tỷ lệ nhiều nhất; đồng thời những kết quả mà Phan Bội Châu và
Nguyễn i Quốc hoạt động cách mạng trên đất Trung Quốc có ảnh hưởng rất
lớn và trực tiếp nhất đối với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, việc tìm hiểu cụ
thể, đầy đủ hơn về vấn đề này là một điều rất cần thiết và bổ ích.
Thứ hai, hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu và Nguyễn i Quốc
trên đất Trung Quốc có tác động lớn đối với cách mạng Việt Nam và có ảnh
7
hưởng nhất định đối với cách mạng Trung Quốc. Mặt khác, thông qua hoạt
động cách mạng của Phan Bội Châu và Nguyễn i Quốc cùng nhiều chí sĩ
yêu nước, cách mạng khác của Việt Nam trên đất Trung Quốc, nó đã trở
thành một trong những vấn đề quan trọng tạo dựng nên mối quan hệ cách
mạng tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc hồi đầu thế kỷ XX. Tuy
nhiên, theo hiểu biết của chúng tôi thì cho đến nay chưa có nhiều tác giả tập
trung khảo cứu vấn đề này một cách sâu sắc và toàn diện.
Thứ ba, nghiên cứu về hoạt động của Phan Bội Châu ở Trung Quốc,
các học giả chủ yếu tìm hiểu giai đoạn khi cụ mới xuất dương, hoạt động ở
Nhật rồi về Trung Quốc đến năm 1917, còn thời gian từ năm 1917 về sau thì
chưa được đề cập nhiều. Nghiên cứu hoạt động của Nguyễn i Quốc ở Trung
Quốc, các học giả chủ yếu nghiên cứu giai đoạn ở Quảng Châu (1924 - 1927).
Trong khi đó, thời gian Người hoạt động ở Quảng Tây những năm 1938 -
Bội Châu và Nguyễn i Quốc đã được một số tác giả đề cập trên các sách
báo, tạp chí, luận văn, các ẩn phẩm định kỳ ở trong nước cũng như ở ngoài
nước. Tuy nhiên, vì trình độ ngoại ngữ có hạn, nên chúng tôi chủ yếu mới tiếp
cận được những tài liệu tiếng Việt. Các nguồn tài liệu này chủ yếu gồm một
số sách, bài viết đăng trên các tạp chí như Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam ,
Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Cộng
sản, luận án, luận văn
2.1. Về nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, có một số công trình sau:
- Cuốn Phan Bội Châu toàn tập do tác giả Chương Thâu sưu tầm và
biên soạn (Nxb Thuận Hoá, Huế, 1990), từ trước đến nay chúng ta đã sử dụng
tác phẩm này khá phổ biến và coi nó là một tài liệu gốc rất quý về nhiều công
trình nghiên cứu hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu.
9
- Cuốn Nghiên cứu Phan Bội Châu của tác giả Chương Thâu (Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004) đã nói về cuộc đời và sự nghiệp cứu nước
của ông, trong đó có thời gian Phan Bội Châu ở Trung Quốc.
- Cuốn Phan Bội Châu cuộc đời và sự nghiệp, Hội thảo khoa học kỷ
niệm 130 năm ngày sinh Phan Bội Châu do Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức,
Hà Nội, 1998, đã phân tích và làm sáng tỏ những đóng góp và công lao to lớn
của Phan Bội Châu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta đầu
thế kỷ XX, đồng thời nêu bật những cống hiến xuất sắc của ông trong lĩnh
vực văn hoá và tư tưởng.
- Cuốn Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân
dân Việt Nam, Nxb Văn hoá, năm 1958, đã phân tích về cuộc đời của Phan
Bội Châu từ lúc sinh ra, hoạt động cách mạng và đến khi cuối đời. Đặc biệt là
thời gian mà cụ hoạt động trên đất Trung Quốc, rồi bị bắt, bị giam lỏng.
- Cuốn Cách mạng Tân Hợi 90 năm sau nhìn lại (1911 - 2001) của
Trung tâm khoa học Hà Nội, năm 2002, là cuốn sách tập hợp những bài
viết trong Hội thảo khoa học chào mừng 90 năm Cách mạng Tân Hợi.
Cuốn sách đã có những bài phân tích về những vấn đề cụ thể trong chủ
Người bị bọn Tưởng bắt, giam giữ. Song, với nghị lực phi thường, Hồ Chủ
Tịch đã vượt qua bao khó khăn, thử thách. Qua đó, bạn đọc hiểu rõ thêm về
một chặng đường gian khổ và đầy quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Có thể kể đến các bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan: Nguyễn Ái
Quốc và vụ án Hồng Kông năm 1931 (Nxb Trẻ, 2004), hay cuốn Hồ Chí
Minh biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự do nhóm nghiên cứu gồm
nhiều tác giả trong nước (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990) Các bài
viết đã nêu lên khá đầy đủ về hoạt động cách mạng của Bác Hồ.
11
- Một số bài viết của tác giả Lê Đức Hoàng đăng tải trên chuyên san,
tạp chí như: "Hoạt động cách mạng của Bác Hồ ở Quảng Tây với thắng lợi
Cách mạng tháng Tám 1945" (Khoa học và Công nghệ Nghệ An, số 11 -
2012); "Về sự kiện Bác Hồ đi Trung Quốc tháng 8/1942" (Khoa học xã hội và
Nhân văn Nghệ An, số 5, tháng 5/2014); "Hoạt động cách mạng của Bác Hồ
ở Quế Lâm với quan hệ Việt - Trung" (Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 9,
năm 2011); "Nhìn nhận của Hồ Chí Minh về Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa
Tam dân" (Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5, năm 2012); "Nhìn lại chủ
trương bồi dưỡng cán bộ cách mạng của Bác Hồ trên đất Trung Quốc" (Tạp
chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 6, năm 2013)
- Ngoài ra, có thể kể thêm các tác phẩm bằng tiếng Trung được Tiến sĩ
Lê Đức Hoàng cung cấp như: Cuốn Hồ Chí Minh với Trung Quốc, tác giả
Hoàng Tranh, Nxb Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, kể nhiều chi tiết quan
trọng trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh; Lịch sử quan hệ Việt -
Trung thời cận đại; Giản biên sử quan hệ Trung - Việt; Hồ Chí Minh với Tĩnh
Tây Các tài liệu tiếng Trung này được Tiến sĩ Lê Đức Hoàng - người hướng
dẫn dịch giúp.
Tuy rất phong phú về số lượng, phản ánh cụ thể các sự kiện và có nhiều
cách đánh giá, nhận xét sâu sắc, song những tài liệu đó chưa tổng hợp một cách
hệ thống về cách mạng Trung Quốc đối với hoạt động của Nguyễn i Quốc,
càng không đề cập cụ thể về đóng góp, giúp đỡ của chí sĩ cách mạng Trung
Việt Nam mà còn có tác động đối với cách mạng Trung Quốc.
Với nhiệm vụ đó, đề tài đề cập đến mối quan hệ này trên nhiều lĩnh vực
mà chí sĩ cách mạng Trung Quốc tạo điều kiện cho hoạt động của Phan Bội
Châu và Nguyễn i Quốc về một số phương diện; những dấu ấn mà Phan Bội
13
Châu và Nguyễn i Quốc để lại trên đất Trung Hoa; tác động, ảnh hưởng của
nó đến cách mạng Trung Quốc, góp phần tạo nên quan hệ tốt đẹp giữa hai
nước này hồi nửa đầu thế kỷ XX.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu những sự kiện thuộc về
lịch sử Trung Quốc và Việt Nam trong khoảng 40 năm đầu thế kỷ XX; có liên
hệ đến một số sự kiện ở khu vực và thế giới.
- Về thời gian: Đề tài chủ yếu đề cập đến vấn đề chí sĩ cách mạng
Trung Quốc đối với hoạt động của Phan Bội Châu và Nguyễn i Quốc trong
những năm từ 1905 đến 1941. Đối với Phan Bội Châu thì tính từ năm 1905
đến 1924, còn đối với Nguyễn i Quốc thì tính từ 1924 đến 1941 (tuy
khoảng thời gian ấy Nguyễn i Quốc không liên tục ở Trung Quốc).
Chúng tôi lấy mốc năm 1905 là tính từ khi Phan Bội Châu trên đường
sang Nhật trong phong trào Đông Du, có đặt chân lên một số nơi của Trung
Quốc, sau đó tiếp xúc với Lương Khải Siêu và Tôn Trung Sơn ở Nhật năm
1905, mở ra nhiều vấn đề trong quan hệ cách mạng Việt - Trung; còn lấy mốc
năm 1941 là năm Nguyễn i Quốc kết thúc giai đoạn hoạt động cách mạng ở
Trung Quốc 1938 - 1941, trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước
ngoài (1911 - 1941).
- Về nội dung: Các sự kiện về hoạt động cách mạng của Phan Bội
Châu và Nguyễn i Quốc trên đất Trung Quốc; mối quan hệ giữa các chí sĩ
cách mạng Trung Quốc với các chí sĩ cách mạng Việt Nam, trong đó tập
trung vào việc chí sĩ cách mạng Trung Quốc có những đóng góp, tạo điều
kiện thuận lợi cho Phan Bội Châu và Nguyễn i Quốc hoạt động trên đất
Trung Quốc.
Phan Bội Châu và Nguyễn i Quốc ở Trung Quốc.
EF!D<[<<ghd4i7Yj7
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Lý do Phan Bội Châu và Nguyễn i Quốc đến hoạt động
cách mạng ở Trung Quốc
Chương 2. Chí sĩ cách mạng Trung Quốc đối với hoạt động của Phan
Bội Châu và Nguyễn i Quốc
Chương 3. Nhận xét hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu và
Nguyễn i Quốc ở Trung Quốc
16
!Fk
3ce78%
,lk !"#
P
%F%Fm8n78oAYW_p?V;hdR
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có "núi liền núi, sông
liền sông". Giao thông qua lại giữa hai nước bằng đường bộ và đường biển rất
thuận lợi, dễ dàng và nhanh chóng. Đường biên giới trên đất liền giữa Việt
Nam và Trung Quốc đã được hình thành qua quá trình lịch sử và tồn tại một
cách tương đối ổn định. Giữa Việt Nam và Trung Quốc có nhiều cửa khẩu
như: Cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh), cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn), Tà
Nùng (Cao Bằng), Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai Vì vậy, hai nước này rất dễ
thông thương, giao lưu, quan hệ, qua lại, trao đổi tin tức, hàng hóa Điều đó
cũng giải thích tại sao mà các chí sĩ cách mạng Việt Nam lại chọn Trung
Quốc làm nơi hoạt động của mình, mà cụ thể ở đây là Phan Bội Châu và
Nguyễn i Quốc.
Trong lịch sử, nhiều người dân Việt Nam vì những nguyên nhân khác
nhau, đã đi ra định cư làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Trong đó, có
một bộ phận không nhỏ người Việt Nam đến định cư, sinh sống, học tập và
chung vì độc lập dân tộc và phục hưng đất nước. Trước hết là các phong trào
đấu tranh theo phương thức phong kiến. Sau khi bị thất bại, thì ở Việt Nam và
Trung Quốc đều xuất hiện phong trào Duy tân cải cách nhằm phục hưng đất
nước, trên cơ sở đó mà có sức mạnh thực lực đánh đuổi đế quốc. Người lãnh
đạo phong trào này lúc đầu là văn thân, sỹ phu yêu nước tiến bộ như Lương
18
Khải Siêu (ở Trung Quốc), Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh (Việt Nam).
Đầu thế kỷ XX, cả hai nước đều tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đánh phong kiến
và đế quốc, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ, sau đó chuyển sang giai
đoạn cách mạng vô sản do Đảng Cộng sản lãnh đạo mà lãnh tụ tiêu biểu là
Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam và Mao Trạch Đông ở Trung Quốc.
Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước cho thấy, Việt Nam
và Trung Quốc có nhiều tương đồng về văn hoá. Là một nước nằm ngay bên
cạnh, chúng ta đã tiếp thu và kế thừa một cách có chọn lọc và sáng tạo nền
văn hoá Trung Hoa. Hơn nữa, nước ta từng bị ách đô hộ hàng nghìn năm của
phong kiến phương Bắc nên càng ảnh hưởng hơn bao giờ hết về nhiều mặt từ
kẻ đi xâm lược. Cả hai nước đều có nhiều phong tục tập quán, tín ngưỡng
tương tự nhau như đều có tết Nguyên Đán (âm lịch), tết Nguyên Tiêu, tết
Trung Thu, tết Thanh Minh (tháng ba) Về chữ viết, Trung Quốc dùng chữ
Hán và Việt Nam trước đây cũng vậy. Cả Việt Nam và Trung Quốc đều in
đậm sự tồn tại của hiện tượng tam giáo đồng nguyên: Nho giáo, Phật giáo,
Đạo giáo. Không những thế, ngay cả phong cách sinh hoạt, sản xuất, lối tư
duy cũng có nhiều nét tương đồng.
Sự tương đồng về văn hoá cũng có nhiều nguyên nhân, trong đó có
mặt địa lý. Việt Nam và Trung Quốc có sự giao thoa văn hoá liên tục suốt
mấy nghìn năm lịch sử. Quá trình giao thoa văn hoá đã để lại những dấu ấn rõ
nét. Tuy vậy, sự giao thoa văn hoá ấy không phải lúc nào cũng mang tính tiếp
nhận mà không hiếm khi chúng ta đóng vai trò là người truyền bá. Ngoài ra,
cả Việt Nam và Trung Quốc đều nằm trong vòng ảnh hưởng của văn hoá
phương Đông nên việc có sự tương đồng về văn hoá là điều dễ hiểu. Sự tương
văn hoá ở khu vực này. Nơi đây tập trung nhiều khu công nghiệp lớn, bến
20
cảng thông thương quốc tế, đồng thời cũng tập trung số lượng lớn công nhân
với bề dày đấu tranh mạnh mẽ. Quảng Đông cũng là quê hương của Tôn Dật
Tiên, nhà cách mạng dân tộc, dân chủ vĩ đại của nhân dân Trung Quốc.
Khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Trung Quốc thì ngay
sau đó đã xuất hiện những tiểu tố cộng sản. Sau khi Đảng Cộng sản Trung
Quốc được thành lập, nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân đã nổ ra, như ở
Hương Cảng nổ ra cuộc bãi công của thuỷ thủ, mở đầu cho cuộc đấu tranh
của công nhân Trung Quốc. Sau khi hình thành mặt trận Quốc - Cộng, Đảng
Cộng sản thành lập, phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân Trung
Quốc phát triển hơn nữa, đặc biệt là ở Quảng Đông. Điều này chính là cơ sở
chính trị mạnh mẽ cho sự tồn tại của chính phủ cách mạng Quảng Đông.
"Ngày 30/5/1925, phong trào công nhân Trung Quốc bùng lên bắt đầu
từ cuộc bãi công của công nhân Thượng Hải. Cuộc bãi công có quy mô lớn
nhất và ảnh hưởng rộng nhất phản đối vụ đổ máu ở Thượng Hải đã nổ ra ở
Quảng Châu, Hương Cảng vào ngày 19/6/1925. Công nhân Hương Cảng
cũng phối hợp với phong trào ở Quảng Châu tổ chức một cuộc bãi công với
25 vạn người tham gia và hình thành một Uỷ ban bãi công Quảng Châu -
Hương Cảng. Cuộc bãi công này kéo dài hơn 16 tháng, là một sự kiện vĩ đại
trong lịch sử cách mạng Trung Quốc và là một cuộc bãi công lớn ít thấy
trong lịch sử phong trào công nhân thế giới lúc bấy giờ" [48; 39].
Mặc dù cuộc khởi nghĩa Quảng Châu thất bại nhưng tinh thần đấu tranh
anh dũng của giai cấp công nhân và nông dân Quảng Châu đã nêu lên một
tấm gương cách mạng không chỉ đối với nhân dân Trung Quốc, các nước
thuộc địa và phụ thuộc châu , mà còn gây tiếng vang lớn trên thế giới.
Nhiều nhà cách mạng châu đã tới Quảng Châu học tập và hoạt động. Chính
vào thời điểm cách mạng sôi động này, sau khi tới Quảng Châu, Nguyễn i
Quốc đã bắt tay vào những hoạt động làm xoay chuyển phương hướng phát
21
niềm xót thương vô hạn, cụ đã làm nhiều câu đối như sau: "Chí tại Tam
dân, đạo tại Tam dân, nhớ hai lần nói chuyện ở Trí Hoà Đường Hoành
Tân, để lại tinh thần cho người chưa chết. Lo vì thiên hạ, vui vì tiên hạ, bị
nhiều năm áp bức do bọn đế quốc chủ nghĩa, cùng chia nước mắt khóc
tiên sinh" [7; 71].
Với Nguyễn i Quốc, ngay thời gian hoạt động ở nước ngoài đã có mối
quan hệ tương đối thân cận với một số chí sĩ cách mạng Trung Quốc. Ví như
thời gian hoạt động ở Pháp, Nguyễn i Quốc đã biết đến và có sự giao thiệp
với Lý Phú Xuân, Triệu Thế Viêm, Thái Hoà Sâm, Vương Nhược Phi, Thái
Xướng, đặc biệt là đồng chí Chu Ân Lai. Khi đó, các chí đồng chí này của
Trung Quốc sang Pháp vừa làm, vừa học để tìm đường cứu nước; tiếp thu nền
văn hoá, khoa học, kỹ thuật tiên tiến của các nước phương Tây; học tập kinh
nghiệm phong trào cách mạng các nước. Khi họ tới Pháp hoạt động thì
Nguyễn i Quốc đã sống ở Thủ đô Pari được mấy năm và những hoạt động
của Người đã có tiếng vang trong phong trào cộng sản thế giới.
Cũng giống như Nguyễn i Quốc, Chu Ân Lai là một thanh niên thông
minh và giàu nghị lực, từ những ngày còn rất trẻ, ông đã quyết chí hiến thân
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Trung Quốc. Do có cùng chí
hướng như vậy, cho nên, với Chu Ân Lai, được gặp Nguyễn i Quốc là một
niềm tự hào và qua mỗi lần gặp gỡ đều in đậm những kỷ niệm sâu sắc. Chu
Ân Lai được gặp Nguyễn i Quốc lần đầu tiên vào đầu năm 1922 ở Pari trong
một chuyến tàu điện ngầm. Chu Ân Lai được Nguyễn i Quốc tạo điều kiện,
giúp đỡ và giới thiệu gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Chính Chu Ân Lai đã
từng mong rằng: "Giấc mơ của tôi là phấn đấu để có một cuộc đời như cuộc
đời của Hồ Chí Minh" [76].
23
Khi hoạt động ở Pháp, Nguyễn i Quốc đã gửi đến hội nghị Vécxây
bản yêu sách của nhân dân An Nam đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các
quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Chính vì có
những hoạt động sôi nổi như vậy, vào năm 1922, nhiều thanh niên Trung
Trong thời gian hoạt động ở Mátxcơva, Nguyễn i Quốc đã kết thân
với Trương Thái Lôi, một chiến sĩ cộng sản nổi tiếng của Trung Quốc, quê tại
Quảng Đông. Ngày 3/10/1923, Nguyễn i Quốc đã từng có cuộc hội kiến với
Tưởng Giới Thạch, trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ Tôn Dật Tiên, vừa từ
Quảng Châu đến Mátxcơva để nghiên cứu về chính trị, quân sự và đảng vụ,
đồng thời bàn vấn đề Liên Xô viện trợ cho cách mạng Trung Quốc. Khi về
hoạt động tại Trung Quốc, Người luôn thiết lập được mối quan hệ thân thiết,
chân thành và để lại ấn tượng tốt đẹp với các đồng chí cách mạng và nhân dân
Trung Quốc. Nhờ vậy mà tạo được điều kiện thuận lợi cho các chiến sĩ cách
mạng Việt Nam hoạt động và biến Trung Quốc trở thành căn cứ địa chủ chốt
ở nước ngoài cho cách mạng nước nhà. Đó cũng chính là cơ sở quan trọng
dẫn đến sự thắng lợi của phong trào cách mạng Việt Nam và cũng là cơ sở tốt
đẹp của mối quan hệ hai nước Việt - Trung sau này.
Có thể nói, nhờ những quan hệ gần gũi, vốn có với những người cách
mạng Trung Quốc mà Phan Bội Châu và Nguyễn i Quốc đã tranh thủ được
sự giúp đỡ thiết thực cho cách mạng Việt Nam và cũng thông qua đó, cũng đã
góp phần vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân Trung Quốc.
%F(F 3h7!vA3w4Y9845x7A4D<VW4_4D773i7=mg783v
?{`3\h<L<3_a78q4784D<
Từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam đầu thế kỷ XX, đã
có biết bao thế hệ người con yêu nước của Việt Nam đứng lên đấu tranh tìm
25