Tiểu luận môn quản trị rủi ro
CÁC THÀNH VIÊN
1. Vũ Khánh Từ
2. Nguyễn Thanh Tú
3. Nguyễn Thị Cẩm Tú
4. Nguyễn Hoàng Vân
5. Nguyễn Thị Thanh Trúc
6. Nguyễn Thị Yến
7. Thân Uyên Yến Thy
8. Nguyễn Thành Tuấn
Quản trị rủi ro đối với hoạt động của Ngành
nuôi trồng và xuất khẩu Tôm Việt Nam
Nhóm 9 -1-
Tiểu luận môn quản trị rủi ro
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu hướng quốc tế nền kinh tế thế giới diễn ra mạnh mẽ, các doanh nghiệp của
các quốc gia sẽ phải đối mặt với nhiều tác động từ mọi phía hay nói cách khác doanh
nghiệp có thể bị rủi ro nhiều hơn trong kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp đầu tư dự
án tại nước ngoài, họ sẽ phải đánh giá rất nhiều rủi ro trong đó có rủi ro từ tác động của
môi trường đầu tư tác động. Trong bài viết này, chúng ta cùng đi xem xét những rủi ro do
môi trường tác động vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và liên hệ với việc
quản trị những rủi ro đối với hoạt động của Ngành nuôi trồng và xuất khẩu Tôm Việt
Nam.
Nhóm thực hiện
32i26
Nhóm 9 -2-
Tiểu luận môn quản trị rủi ro
3331
MỤC LỤC
Chương 1. Sơ Lược Hoạt Động Xuất Khẩu Tôm Trong Vài Năm Trước 8
Chương 2. Nhận Dạng – Biện Pháp Khắc Phục, Phòng Ngừa Rủi Ro 13
Nguồn cung tôm từ Vịnh Mexico, nguồn cung cấp tôm chủ yếu cho Mỹ, bị suy giảm vì
sự cố tràn dầu đã giúp nhu cầu nhập khẩu tôm tại thị trường Mỹ tăng lên. Bên cạnh đó,
các nước xuất khẩu tôm lớn như Ấn Độ, Thái Lan bị mất mùa nên cũng là cơ hội cho xuất
khẩu tôm của Việt Nam qua Mỹ gia tăng cả sản lượng và giá cả.
Nhật Bản vẫn tiếp tục là thị trường nhập khẩu tôm số 1 của Việt Nam, tăng 13.4%
về lượng và tăng 17.5% về giá trị trong giai đoạn 01/01/2010 đến 15/09/2010.
Nhóm 9 -4-
Tiểu luận môn quản trị rủi ro
Thị trường xuất khẩu tôm
01/01-15/09/2010
Nguồn: Vasep
Thị trường Mỹ có tốc độ tăng trưởng cao. EU là thị trường xuất khẩu lớn nhất của
thủy sản Việt Nam trong giai đoạn từ 01/01/2010 đến 15/09/2010, chiếm 23.8% tổng
kim ngạch xuất khẩu. Mỹ đứng vị trí thứ 2 với 18.7% và Nhật đứng vị trí thứ 3 với 18.3%.
So với cùng kỳ năm 2009, Mỹ là thị trường có tốc độ tăng trưởng cao nhất, tăng 22.2% về
sản lượng và 34.4% về giá trị.
Tình trạng thiếu nguyên vật liệu tiếp tục tái diễn. Tình trạng thiếu nguyên vật liệu
đang tạo áp lực lớn lên các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản. Nhiều nhà máy
chế biến chỉ đang hoạt động khoảng 50-60% công suất, đặc biệt là các nhà máy chế biến
tôm xuất khẩu. Trong quý 4, mùa thu hoạch tôm rộ hơn sẽ giúp nguồn cung nguyên liệu
dồi dào so với trước đây. Tuy vậy, về dài hạn, nguồn nguyên liệu tôm vẫn tiềm ẩn rủi ro
thiếu hụt trở lại do nhu cầu tôm trên thế giới đang tăng cao.
Nhu cầu tiêu thụ tôm tiếp tục gia tăng. Có thể thấy, kim ngạch xuất khẩu tôm liên
tục tăng trong khoảng thời gian từ 2007 đến nay, bất chấp ảnh hưởng của khủng hoảng
kinh tế. Thêm vào đó, vụ tràn dầu tại Vịnh Mexico vào tháng 4/2010 khiến nhu cầu tôm
tại thị trường Mỹ không ngừng gia tăng. Với những lợi thế này, xuất khẩu tôm kỳ vọng sẽ
tiếp tục tăng trưởng mạnh trong thời gian tới.
Xuất khẩu tôm đối mặt rủi ro mất thị trường Nhật Bản. Nhật Bản là thị trường xuất
khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam trong thời gian qua (chiếm 29.2%) và được xem là thị
Nhóm 9 -5-
(%)
Nhật
67,425 62,586 27,4 +18,3 607,202 25,3 +4,5
Mỹ
47,352 54,472 23,8 +37,9 558,526 23,3 +1,3
EU
30,701 31,871 13,9 -11,1 412,890 17,2 +20,3
Đức
8,494 11,643 5,1 +1,2 113,136 4,7 +24,5
Anh
6,318 6,180 2,7 +14,9 73,031 3,0 +45,3
Bỉ
3,376 3,240 1,4 -35,5 52,163 2,2 +10,5
TQ và HK
17,508 22,301 9,8 +20,7 223,664 9,3 +54,9
Hồng
Kông
5,032 6,336 2,8 +26,0 58,989 2,5 +66,1
Nhóm 9 -6-
Tiểu luận môn quản trị rủi ro
Hàn Quốc
18,265 17,032 7,4 -15,1 157,572 6,6 +23,0
Canađa
5,538 8,318 3,6 -14,7 82,986 3,5 +17,2
Ôxtrâylia
6,859 8,467 3,7 +22,5 80,403 3,4 -6,1
Đài Loan
5,396 8,032 3,5 +67,8 73,627 3,1 +18,1
ASEAN
5,443 5,266 2,3 +24,1 48,184 2,0 +54,7
Tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết xuất khẩu thủy
sản của nước ta trong tháng 2-2012 tăng khá cao, đến 65% so với cùng kỳ năm ngoái.
Cũng theo VASEP, xuất khẩu tôm từ 1/1 đến 15/2/2012 đạt giá trị 184 triệu USD, tăng
3,2% so với cùng kỳ năm 2011. Số liệu thống kê cho thấy Những thị trường xuất khẩu
thủy sản của Việt Nam đều tăng giá trị xuất khẩu từ 10%- 66%. Tuy nhiên các thị trường
khối EU tiếp tục sụt giảm, không chỉ với mặt hàng tôm mà còn có cả mặt hàng cá tra của
Việt Nam, trong đó Đức giảm mạnh nhất 36,3%, Pháp giảm 21,1%.
Thị trường xuất khẩu tôm từ 1/1 đến 15/2/2012
Thị trường
Trung Quốc 13,6%
Hàn Quốc 7,8%
Canada 4,6%
EU 12,8%
Mỹ 19,4%
Nhật Bản 25,8%
Các thị trường khác 16%
Triển vọng mới năm 2012
Nhóm 9 -8-
Tiểu luận môn quản trị rủi ro
Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, với con số xuất khẩu đạt trên 6 tỷ USD, có thể
khẳng định, thủy sản năm 2011 được mùa, được giá. Đây cũng là năm đầu tiên nước ta
thực hiện Chiến lược phát triển thủy sản giai đoạn 2011 - 2020, do vậy con số trên báo
hiệu những triển vọng mới của ngành thủy sản.
Bước sang tháng đầu tiên của năm 2012, xuất khẩu thủy sản tiếp tục có những bứt
phá mới. Ngay từ những ngày đầu năm, nhiều doanh nghiệp thuỷ sản đã bắt tay thực
hiện các hợp đồng xuất khẩu mới. Nhờ đó, xuất khẩu thủy sản tháng 1-2012 tiếp tục
tăng, đặc biệt là với một số mặt hàng thủy sản chính như: tôm và cá tra, kết thúc tháng 1-
2012, xuất khẩu cá tra đạt 160 triệu USD, tăng gần 16% so với cùng kỳ năm 2011.
Tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản được thể hiện ở tất cả các thị trường tiêu thụ lớn,
điển hình như Mỹ, Đức, Nhật Hiện, lượng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị
Cải tạo ao:
Dọn sạch các loại cây cỏ xung quanh ao.
Tiến hành tát cạn nước sên vét lớp bùn đáy ao, lắp hang cua, lổ mọi.
Diệt tạp bằng cách bón vôi bột ở xung quanh bờ và đáy ao với liều lượng 10 - 15
kg/100 m2. Đối với ao mới đào phải rửa phèn nhiều lần trước khi bón vôi.
Phơi khô đáy ao từ 3 - 5 ngày.
Tiến hành lấy nước vào hệ thống nuôi thông qua lưới lọc nhằm hạn chế địch hại và
trứng các loài cá tạp vào ao nuôi, khi mức nước trong ao đạt 1,2m, 2 - 3 ngày sau tiến
hành thả giống.
Kiểm tra, bảo trì hệ thống quạt nước và hệ thống cung cấp oxy. Lấy nước đã xử lý từ
ao lắng vào ao nuôi (nên qua túi lọc), chiều cao nước: 0,8 - 1,2m.
Xử lý nguồn nước
Nhóm 9 -10-
Tiểu luận môn quản trị rủi ro
Tôm sú thích ứng rộng với độ muối từ 0.2 – 40‰, thích hợp là 15 - 30‰.Tôm
trưởng thành lột xác ít hơn, thời gian giữa hai lần lột xác phụ thuộc rất lớn vào nồng độ
muối. Nồng độ muối thích hợp cho tôm sú là 15-20‰
Phạm vi pH thích ứng của tôm là 7,5- 9
O
2
: Tôm rất nhạy cảm với hàm lượng oxy hòa tan trong nước, phạm vi giới hạn từ 3
- 11mg/lít.
CO
2
: Hàm lượng CO
2
thích hợp là 10mg/lít.
H
2
S: Hàm lượng H
nuôi tôm nuốn đạt năng suất cao cũng cần phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình sản xuất.
Để có được giống tốt, bà con nên chọn mua giống có nguồn gốc rõ ràng. Nếu khai
thác trong môi trường tự nhiên thì phải qua kiểm dịch. Thông thường, tôm khỏe mạnh là
những con râu không bị đứt gãy, mình không xây xước, khi cầm trên tay nhảy mạnh.
Riêng với tôm sú, chọn giống tại những trại thật sự tin tưởng, được kiểm dịch, giống có
nguồn gốc rõ ràng, mật độ thả từ 20 - 25 con/m2.
Thả tôm
Sau giai chuẩn bị, khi các chỉ tiêu pH, độ mặn, độ trong, màu nước đạt yêu cầu, có
thể thả tôm giống.
Sau khi thả tôm xong, cần theo dõi hàng ngày để tính tỉ lệ sống, xác định lượng tôm
có trong ao để điều chỉnh thức ăn khi nuôi.
Nên thả tôm lúc thời tiết mát mẻ, tốt nhất là thời điểm từ 5 - 7 giờ sáng hoặc 4 - 6
giờ chiều. Không nên thả tôm lúc trời sắp mưa hoặc đang mưa to.
Mật độ thả tuỳ phương thức nuôi: quảng canh cải tiến (dưới 5 con/m2), bán thâm
canh (10 - 20 con/ m2), thâm canh (trên 25 con/m2) ngoài ra còn thùy thuôc vào kích cỡ
tôm thả nuôi, mùa vụ sản xuất.
Chăm sóc tôm
Cho ăn
Giai đoạn đầu không được cho tôm ăn thức ăn tươi sống như cá, nhuyễn thể, trứng
nghiền, vì tôm con chưa ăn được mà còn tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh, có hại
phát triển, vô tình phá vỡ cơ cấu sinh thái nước ao.
Nhà cung cấp thức ăn công nghiệp phải cung cấp bảng hướng dẫn cho ăn, trong đó
gồm:
Số lần cho ăn trong ngày
Tỉ lệ thức ăn theo các bữa trong ngày
Lượng thức ăn tỉ lệ theo tuổi và trọng lượng của tôm. Tỉ lệ thức ăn cho vào vó
(sàng ăn).
Thời gian kiểm tra vó sau khi cho ăn.
Có thể sử dụng thêm các thức ăn tăng cường sinh trưởng cho tôm phối trộn chung
với thức ăn.
Sục khí chạy máy sục khí thường xuyên vào ban đêm, vào những ngày có mưa hay ít
nắng, thời gian chạy sục khí cũng tăng theo tuổi tôm
Thu hoạch tôm
Thời điểm
Nhóm 9 -13-
Tiểu luận môn quản trị rủi ro
Tùy theo thị trường, và môi trường ao nuôi, tình hình sức khoẻ của tôm mà quyết
định thu hoạch. Trọng lượng tôm lí tưởng khi thu hoạch là ≥ 25g/con
Cách thu hoạch
Thu tôm bằng phương pháp xả cống hoặc kéo cào (xung điện).
2.1.1.2 Các rủi ro trong quy trình kỹ thuật nuôi tôm & giải pháp khắc phục:
Quy trình Rủi ro Giải pháp
Chuẩn bị ao
lắng & ao nuôi
tôm
-Đất trong ao nhiễm độc, nhiều
khí tụ
-Trứng của các loài địch hại:
trứng cá tạp, cua trong ao
-Hệ thống quạt nước và cung
cấp oxy gặp trục trặc kỹ thuật.
-Sau mỗi mùa vụ phải vét sạch đáy bùn tạo
nền đáy ao sạch, cứng; tháo rửa ao nhiều lần
giúp quá trình sử dụng được lâu dài.
-Bờ phải cao, không rò rỉ, xung quanh bờ có
lưới chắn để hạn chế địch hại từ bên ngoài
vào ao nuôi. Tiến hành tát cạn nước sên vét
lớp bùn đáy ao, lắp hang cua, lỗ các loài địch
hại.Tiến hành lấy nước vào hệ thống nuôi
thông qua lưới lọc nhằm hạn chế địch hại và
thay đổi đột ngột (tôm nhợt
nhạt), đôi khi tôm nhảy cả lên
bờ.
-Tôm bị chết vì ngạt thở, bít
mang do hàm lượng các chất vô
cơ không hòa tan (cát, bùn) quá
80mg/lít
-Các chất khí hoà tan có nồng độ
vượt mức khiến tôm bị
ngộp.Quá trình phân hủy của
các hợp chất hữu cơ thường kéo
dài, tạo môi trường thuận lợi
cho sự phát triển của các loại vi
sinh vật, trong đó có các vi sinh
vật có thể gây bệnh cho tôm, tạo
ra các chất độc như NH
3
hay
NO
2
có khả năng khiến bệnh tật
phát sinh, bùng phát các bệnh
virus như bệnh tôm trắng.
-Nhiệt độ dưới 20 độ C hay trên
30 độ C tôm giảm bắt mồi và ở
nhiệt độ dưới 15 độ C hay trên
35 độ C thì tôm ngừng hẳn hoạt
động bắt mồi. Tôm là động vật
máu lạnh, nhiệt độ cơ thể tôm
thay đổi theo môi trường xung
không chỉ đối với ngành nuôi tôm mà còn
nhiều ngành kinh tế khác nói chung. Cần nhất
Nhóm 9 -15-
Tiểu luận môn quản trị rủi ro
nếu nhiệt độ khác biệt quá
nhiều tôm sẽ yếu và chết.
-Sông Cửu Long, là nguồn nước
chính để núôi tôm, chạy qua một
khu vực rộng lớn dọc theo bờ
biển từ Mũi Cà Mau đến tp.Hồ
Chí Minh. Khu vực này có các
vùng rừng ngập mặn lớn vốn
được coi là khu vực sinh thái
nhạy cảm với đa dạng sinh học
cao và là nơi sinh sống của các
loài tôm bản địa từ nhiều thế kỷ
nay. Trong số các nguồn gây ô
nhiễm, khu công nghiệp khí-
điện- đạm hiện đang được xây
dựng tại cà mau sẽ thực sự trở
thành mối đe dọa lớn cho nuôi
trồng thủy sản ở vùng châu thổ
có sản lượng tôm lớn nhất
nước. trên thực tế, loại hình
công nghiệp này được coi là có
nguy cơ cao cho môi trường vì
khả năng ô nhiễm liên quan đến
hoạt động của hệ thống đường
ống được dùng để chuyên chở
khí từ vùng khai thác dầu thô
Tôm khỏe sẽ bơi ngược dòng nước, đuôi xòe
ra hoặc bám vào thành và đáy thau. Tôm yếu
sẽ bị trôi theo chiều nước hoặc tập trung ở lại
giữa chậu. Đàn tôm dự tính được nuôi được
coi là tôm khỏe khi số lượng tôm bị trôi theo
chiều nước hoặc tập trung ở giữa chậu chiếm
ít hơn 5% trên số lượng tôm kiểm tra.
-Thuần hoá tôm giống để thích nghi với nước
trong ao trong vòng 1 - 3 giờ . Tôm giống mới
vận chuyển về nên thả túi xuống ao chừng 15
- 30 phút để nhiệt độ giữa nước trong túi tôm
và nhiệt độ nước trong ao cân bằng. _Nên thả
tôm lúc thời tiết mát mẻ, tốt nhất là thời điểm
từ 5 - 7 giờ sáng hoặc 4 - 6 giờ chiều. Không
nên thả tôm lúc trời sắp mưa hoặc đang mưa
to, tôm chưa thích nghi khi thả ra thường bơi
nổi trên mặt nước, vẻ yếu ớt và dễ chết.
Sau khi thả tôm xong, cần theo dõi hàng ngày
để tính tỉ lệ sống, xác định lượng tôm có trong
ao để điều chỉnh thức ăn khi nuôi.
Chăm sóc tôm -Cơ cấu sinh thái nước ao bị phá
vỡ do cho tôm ăn thức ăn tươi
sống như cá, nhuyễn thể, trứng
-Thực hiện tốt bứơc gây nứơc màu tạo nguồn
thức ăn tự nhiên ban đầu đầy đủ cho tôm con.
-Tôm là loài thích ánh sáng yếu, cường độ bắt
Nhóm 9 -17-
Tiểu luận môn quản trị rủi ro
nghiền. Ở giai đoạn đầu, tôm
con chưa ăn được và còn tạo
cũng diễn ra vào ban đêm. Cần chọn thời
điểm cho tôm ăn vào thời điểm ánh sáng
tương đối yếu, đồng thời vẫn cần đảm bảo đủ
độ sáng cho tôm lột xác.
-Kiểm ra tôm thừơng xuyên bằng cách vớt vó
và quan sát tôm.Thay nước nhiều và không
tái sử dụng nước khiến cho mô hình nuôi bị
lây nhiễm các tác nhân gây bệnh có trong
nguồn nước hoặc ở các ký chủ trung gian
(nhất là với những vùng có mật độ ao nuôi
dày đặc).
-Hạn chế việc cho ăn thừa
-Tăng cường hệ thống quạt nước, oxy đáy
ao.Kiểm tra độ đục của nước: nước đục
thường do các vi sinh vật phát triển quá
nhiều (khi nước đục do chất sét hay các vật vô
sinh sẽ làm cản trở sự xuyên qua của ánh
sáng, giảm khả năng sản xuất của ao, hồ);
ngược lại có nghĩa nước quá nghèo chất dinh
dưỡng.
Nhóm 9 -18-
Tiểu luận môn quản trị rủi ro
2.1.1.3 Các rủi ro khác
Giá nguyên liệu đầu vào cao
Giá tôm nguyên liệu ở Việt Nam đang cao hơn so với các nước trong khu
vực 1,0 – 1,5 USD/kg, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động chế biến XK và khả năng
cạnh tranh của tôm Việt Nam trên thế giới.
Nhưng do sản xuất chưa ổn định và nghề nuôi còn kém bền vững, nên có nghịch
lý là người nuôi tôm lại không thật sự được hưởng lợi từ mức giá cao này.
Có thể nêu một số nguyên nhân chính gây nên tình trạng này, gồm chất lượng tôm
lớn cho các nhà sản xuất giống.
Nuôi tôm manh mún, kỹ thuật nuôi thấp
Nghề nuôi tôm thực chất là một nghề nông nghiệp kỹ thuật cao, hay chính xác
hơn là một hoạt động công nghiệp, đòi hỏi mức đầu tư tương đối lớn và trình độ
quản lý kỹ thuật, tài chính cao hơn so với các ngành nông nghiệp khác. Trong khi
đó, hoạt động nuôi tôm của Việt Nam lại rất manh mún, làm ăn nhỏ lẻ với hàng triệu
hộ gia đình nuôi, mỗi hộ một vài ao. Do vậy sẽ khó có điều kiện áp dụng kỹ thuật cao để có
kết quả ổn định và bền vững. Việc sản xuất nhỏ lẻ làm cho giá thành sản xuất cao, nên
mặc dù giá bán tôm nguyên liệu cao, người nuôi vẫn chỉ có lợi nhuận rất thấp và nhiều
rủi ro.
Qui hoạch nuôi tôm không bài bản và chưa được đầu tư đúng mức (ví dụ, thiếu
đầu tư cho thủy lợi). Do vậy, việc quản lý vùng nuôi và kiểm soát chất thải gây ô
nhiễm và dịch bệnh gần như không thể thực hiện được.
Đồng thời, tôm nguyên liệu gom từ nguồn manh mún như vậy sẽ có chất lượng
không đồng nhất, rất khó kiểm soát dư lượng hóa chất, kháng sinh bị cấm và không
thể truy xuất được nguồn gốc. Nguồn nguyên liệu như vậy rất khó sử dụng để chế biến
hàng XK cao cấp nên hiệu quả chế biến XK không cao, làm cho các nhà chế biến XK khó
đạt hiệu quả tốt.
Giá thức ăn tôm luôn tăng, không được kiểm soát
Đây là yếu tố rất quan trọng làm tăng giá thành tôm nuôi của Việt Nam. Giá
thức ăn nuôi tôm ở Việt Nam cao hơn hầu hết các nước trong khu vực và lĩnh vực này
gần như hoàn toàn nằm trong tay các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Giá thức ăn
Nhóm 9 -20-
Tiểu luận môn quản trị rủi ro
liên tục tăng mà chưa thấy có biện pháp quản lý nào hiệu quả để bảo vệ người nuôi
tôm.
Cạnh tranh không lành mạnh trong thu mua
Do khó khăn trong khâu nguyên liệu, các nhà máy phải cạnh tranh khốc liệt,
đồng thời phải không ngừng cải tiến kỹ thuật chế biến hiệu quả hơn để tồn tại và phát
triển. Tuy nhiên, không phải ai cũng làm được như vậy. Một số nhà máy có hành vi
nhằm đảm bảo an toàn cho tôm nuôi. Đối với những hộ vi phạm quy định sẽ bị xử phạt
nghiêm và cấm không cho nuôi. Những hộ tuân thủ các quy định nếu tôm nuôi xảy ra dịch
bệnh sẽ được hỗ trợ theo chính sách của Nhà nước.
Các vấn đề môi trường của nuôi tôm bắt nguồn từ việc phát triển nuôi một cách
tràn lan, thiếu quy hoạch. Về phương diện nhà nước, các dự án phát triển phải tiến hành
đánh giá tác động môi trường hoặc lập bản kê khai môi trường trong trường hợp quy
mô nhỏ. Nhưng hầu như các quy phạm pháp luật của Chính phủ đã không điều chỉnh
được vấn đề quản lý môi trường, đánh giá tác động môi trường trong nuôi tôm ven biển.
Đa số các hộ nông dân phát triển trại nuôi tôm như là một giải pháp đa dạng nguồn thu
nhập với quy mô nhỏ, không hình thành dự án do vậy quy định đánh giá tác động môi
trường của Chính phủ đã không điều chỉnh được. Điều đáng quan tâm là khi nhiều hộ
cùng phát triển trang trại nuôi tôm ở trên 1 khu vực thì tác động cộng hưởng của các
vấn đề môi trường rất lớn. Việc mở rộng diện tích nuôi tôm đồng nghĩa với việc thu hẹp
rừng ngập mặn trong khi công tác quản lý của nhà nước còn yếu kém, kéo theo việc huỷ
diệt nguồn lợi sinh vật biển, phá hoại đa dạng sinh học.
Giải pháp
Mặc dù có nhiều thách thức như đã nêu, chúng ta cũng vẫn có rất nhiều lợi thế
và cơ hội để phát triển nếu có định hướng và đầu tư đúng đắn.
Thứ nhất, cần có chiến lược phát triển lâu dài để chủ động nguồn tôm bố mẹ và nâng
cao hiệu quả của nghề nuôi tôm Việt Nam. Cụ thể là:
Khuyến khích phát triển và đẩy nhanh các chương trình gia hóa và chọn lọc di
truyền cho cả 2 đối tượng tôm nuôi chủ lực là tôm sú và TCT.
Giảm số lượng, nâng cao công suất trại giống, vì chỉ những trại lớn mới đủ sức
đầu tư nâng cấp kỹ thuật để sản xuất ra con giống chất lượng cao, sạch bệnh, đồng thời
việc quản lý chất lượng giống đơn giản và hiệu quả hơn.
Nhóm 9 -22-
Tiểu luận môn quản trị rủi ro
Chuẩn hóa các thủ tục hành chính trong quản lý, bảo đảm chặt nhưng không cản
trở việc sản xuất của các công ty giống.
Chuẩn hóa hệ thống phòng xét nghiệm bệnh tôm để tránh gây những tổn thất
Bước 1: Tiếp nhận nguyên liệu
Bước 2: Rửa lần 1
Bước 3: Bảo quản nguyên liệu
Bước 4:Phân cỡ, phân hạng
Bước 5: Sơ chế,rút chỉ
Bước 6: Rửa lần 2
Bước 7: Cân
Bước 8: Xếp khay
Bước 9: Châm nước
Bước 10: Cấp đông
Bước 11: Tách khuôn, mạ băng
Bước 12: Vào túi PE
Bước 13: Rà kim loại
Bước 14: Đóng thùng
Bước 15: Bảo quản
Thuyết minh quy trình :
Tiếp nhận nguyên liệu
Tôm được vận chuyển đến nhà máy bằng các xe tải lạnh. Đến công ty sẽ được kiểm
tra các chỉ tiêu về độ tươi của nguyên liệu, hàm lượng các chất bảo quản. Sau đó tôm sẽ
được đưa vào nhà máy cà chuyển qua các công đoạn khác.
Rửa 1:
Sau khi được tiếp nhận tôm sẽ được đưa vào các nhà máy để rửa
Mục đích: loại bỏ phần tạp chất cà một số vi sinh vật còn dính bám trên thân tôm.
Yêu cầu: nhiệt độ nước rửa <= 6
o
C, nồng độ chlorine= 70ppm
Phân cỡ, phân hạng
Tôm sau khi được rửa sẽ được đổ lên bàn để công nhân thực hiện thao tác phân cỡ,
phân hạng.
Mục đích: phân chia thành cỡ hạng để sản xuất các sản phẩm có giá thành và chất
Loại bỏ tạp chất còn dính bám trên thân tôm. Dùng nước rửa có nồng độ chlorine là
20ppm. Tiến hành thy nước sau khi đã rửa được khoảng 50kg
Xếp khay
Tiến hàng cân mỗi rổ 0.5 kg rồi đem đi xếp khay. Khay có kích thước 20x15cm. Xếp
xong tiến hành châm nước và cho vào tủ đông tiếp xúc để làm đông.
2.1.2.2 Các rủi ro trong quy trình chế biến – bảo quản
Nguyên vật liệu bị hư hỏng
STT HIỆN TƯỢNG NGUYÊN NHÂN
Nhóm 9 -25-