BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGÔ THỊ QUỲNH VÂN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA VINH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHUYÊN NG"NH : LL V" PPDH B& MÔN GD CH(NH TRỊ
MÃ SỐ: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn: TS. Đinh Thế Định
NGHỆ AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi
đã nhận được sự động viên, giúp đỡ quý báu của nhiều đơn vị, cá nhân.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Giáo dục Chính trị,
phòng Đào tạo Sau đại học, cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học
Vinh đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức lý luận chính trị
quý báu, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc đến TS. Đinh Thế Định, Trưởng khoa
Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Vinh đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo, phòng
Công tác Học sinh Sinh viên, các bạn đồng nghiệp, các em sinh viên trường Đại
học Y Khoa Vinh, gia đình và bạn bè đã động viên tạo mọi điều kiện cho tôi
trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Ngô Thị Quỳnh Vân
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH : Ban giám hiệu
Các cơ sở giáo dục chuyên ngành Y khoa không chỉ là nơi đào tạo những
tay nghề y - bác sĩ có năng lực chuyên môn mà còn là nơi trang bị cho đội ngũ
này những phẩm chất cao quý của người thầy thuốc. Bởi mỗi SV ngành y không
chỉ là một trí thức tương lai mà còn là một y - bác sĩ, điều dưỡng tương lai. Vì
thế đối với SV ngành y, giỏi về chuyên môn chưa đủ, còn cần phải có một y đức
sáng, trong sạch, tận tâm với nghề, với người bệnh. Do đó, hầu hết ở các trường
đào tạo chuyên ngành Y khoa trên cả nước, vấn đề y đức, đạo đức nghề nghiệp
luôn được quan tâm và đưa vào giảng dạy và bước đầu đã đạt được những thành
quả đáng ghi nhận như: SV đạt kết quả cao trong học tập ngày càng nhiều; chấp
hành nội quy, quy chế nhà trường, chấp hành pháp luật Nhà nước tốt hơn, SV có
sự yêu nghề, say mê học tập hơn…
Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ, khoa học kĩ thuật… đã giúp Y
học có những bước tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên sự phát triển của xã hội cũng đã
tạo ra sự ảnh hưởng không nhỏ về nhân cách, phẩm chất của một bộ phận đội
ngũ y, bác sỹ trong lĩnh vực này. Sự tha hoá về bản chất, thiếu tận tâm với nghề
đã gây nên những hậu quả không nhỏ ảnh hưởng đến người dân và xã hội. Do
đó, giáo dục đạo đức nghề nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng và
hàng đầu đối với các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp về Y
khoa trên cả nước. Bên cạnh việc đào tạo một đội ngũ thế hệ trẻ có kiến thức
chuyên môn giỏi, tay nghề cao thì vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp cũng là
một trong những ưu tiên hàng đầu để đào tạo ra thế hệ trẻ vừa hồng vừa chuyên
cho đất nước, là nguồn nhân lực có chất lượng, phát huy năng lực nghề nghiệp
và đạo đức nghề nghiệp như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "Có đức mà không có
tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì vô dụng".
Đối với các trường Đại học Y trong cả nước nói chung và Đại học Y
Khoa Vinh nói riêng, vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV được đưa
vào giảng dạy và là một trong những môn học bắt buộc. Trong quá trình giảng
dạy còn tồn tại một số hạn chế, tuy nhiên đã gặt hái được nhiều thành quả nhất
định. Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, vấn đề y đức mang tính cấp thiết và
đang được xã hội quan tâm. Trong mối quan hệ đó, để từng bước nâng cao hiệu
các CBYT làm việc phải có phẩm chất, phải tâm huyết và tận tâm với nghề, phải
yêu thương, chăm sóc bệnh nhân. Trong Di chúc Người viết: "Đảng ta là một
đảng cầm quyền. Mỗi cán bộ và đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách
mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta
thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của
nhân dân" .
Vấn đề đạo đức nghề nghiệp trong những năm gần đây luôn là một vấn đề
được xã hội quan tâm, trong thời gian vừa qua đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh
6
vực y tế là vấn đề bức xúc, có nhiều tiêu cực, tác động trực tiếp đến tính mạng
con người. Vì thế vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực này càng
được chú trọng và quan tâm. Liên quan đến vấn đề giá trị đạo đức nghề nghiệp
tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của các tác giả:
PGS.TS Nguyễn Xuân Uẩn - ĐHQG Hà Nội: "Xây dựng lối sống và đạo
đức mới cho sinh viên Đại học sư phạm phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH”. Công
trình đã đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm xây dựng lối sống và đạo đức mới
cho sinh viên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
PGS,TS Bùi Minh Hiền: giảng viên trường ĐHQG Hà Nội có công trình
nghiên cứu: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho
sinh viên trường ĐHQG Hà Nội” đã nêu ra thực trạng đạo đức và đề xuất một
số giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho SV
trường ĐHQG Hà Nội.
Ngày 21/12/2012, Viện nghiên cứu giáo dục - Trường Đại học Sư phạm
TP Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo khoa học Giáo dục đạo đức cho sinh viên
trường Cao đẳng, Đại học Việt Nam, hội thảo đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu,
nhà khoa học, nhiều học giả tham gia với các tham luận có ý nghĩa cả về lý luận
lẫn thực tiễn, các tham luận đã phân tích tương đối toàn diện về giáo dục đạo
đức cho SV.
TS. Nguyễn Tĩnh Gia, Tạp chí nghiên cứu lý luận, 2/1997, Sự tác động
hai mặt của cơ chế thị trường đối với đạo đức người cán bộ quản lý; TS. Hoàng
(2012) "Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh
trường Trung cấp Việt - Anh tỉnh Nghệ An", Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo
dục, Đại học Vinh.
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khác có liên quan. Mỗi
công trình nghiên cứu đều có một mục đích riêng và đều đề cập đến những khía
cạnh khác nhau của vấn đề đạo đức, hay đạo đức nghề nghiệp. Và trong mỗi
8
công trình nghiên cứu đều có những giải pháp nhằm tạo hiểu quả cao trong việc
nâng cao giá trị đạo đức cho học sinh - sinh viên.
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu nêu trên mới
chỉ đề cập đến từng mặt, từng khía cạnh dưới nhiều góc độ khác nhau. Hiện chưa
có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, chuyên sâu và có hệ thống về
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Đại học Y Khoa Vinh trong
giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, những công trình đó đã tạo điều kiện thuận lợi giúp
tác giả có sự kế thừa, phát triển để hoàn thành tốt luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nghề nghiệp nói riêng và chất
lượng giáo dục toàn diện cho SV trường ĐHYK Vinh trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV
trường ĐHYK Vinh.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp
cho SV trường ĐHYK Vinh trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
đạo đức nghề nghiệp cho SV trường ĐHYK Vinh giai đoạn hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh,
Việc bồi dưỡng, giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV, giúp SV nhận
thức đúng đắn về hành vi, về bản chất nghề nghiệp. Từ đó trang bị cho các em
những phẩm chất đạo đức cao quý của người thầy thuốc, làm cho các em thêm
yêu ngành, yêu nghề, có trách nhiệm và tâm huyết với nghề, phát huy được
10
truyền thống tốt đẹp của nghề y. Từ đó tạo nên niềm say mê học tập để xây dựng
đội ngũ y, bác sỹ có phẩm chất tốt, tay nghề giỏi… đúng với khẩu hiệu “Lương
y như từ mẫu”.
7. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy ở
trường cũng như việc nghiên cứu, học tập và nâng cao chất lượng dục đạo đức
nghề nghiệp cho SV các trường ĐHYK ở nước ta.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên trường Đại học Y Khoa Vinh.
Chương 2: Thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức nghề nghiệp của sinh
viên trường Đại học Y Khoa Vinh hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Đại học Y Khoa Vinh trong giai
đoạn hiện nay.
11
B. N&I DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ
NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA
1.1. Đạo đức và đạo đức nghề nghiệp
1.1.1. Đạo đức
1.1.1.1. Khái niệm
lợi ích của người khác và toàn thể xã hội [6; 48-49].
Trong tâm lý học, "đạo đức" có thể định nghĩa theo các khía cạnh sau:
Theo nghĩa hẹp: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các
quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nhờ nó con người tự giác điều chỉnh
hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với
tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân-cá nhân và quan hệ cá nhân-xã hội.
Theo nghĩa rộng: Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực biểu hiện
sự tự giác trong quan hệ con người với con người, con người với cộng đồng xã
hội, với tự nhiên và với cả bản thân mình.
Theo nghĩa rộng hơn: Đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực
nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ
xã hội và quan hệ với tự nhiên.
Đạo đức có thể định nghĩa như sau: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã
hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh
và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với
xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức
mạnh của dư luận xã hội” [18; 8].
13
Như vậy trên cơ sở khai thác nội hàm và ngoại diên của khái niệm “Đạo
đức”, đã có nhiều cách lý giải khác nhau trên những phương diện khác nhau,
điểm chung giữa họ là đều dựa trên thế giới quan khoa học và phương pháp luận
biện chứng để xem xét. Qua định nghĩa đó có thể nhận dạng “Đạo đức” có
những đặc trưng sau:
Thứ nhất: Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn
tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống xã hội, ý thức xã hội của con người là
phản ánh tồn tại xã hội của con người. Các hình thái ý thức xã hội khác nhau tùy
theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác động riêng biệt đối với đời sống
xã hội, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt
trong tồn tại xã hội của con người.
Thứ hai: Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người.
Có chăng chỉ là sự thay đổi về cách nhìn nhận đánh giá những giá trị đó. Trong
cuộc sống, nếu cá nhân con người không lấy đạo đức làm nền tảng định hướng
hành vi của bản thân, thì không thể xây dựng được một xã hội theo đúng nghĩa
tên gọi của nó. Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, Cuộc sống hiện đại đã
làm cho con người có những cách nhìn mới về những giá trị đạo đức. Sự tiến bộ
của khoa học kỹ thuật tân tiến mang lại cho con người nhiều tiện nghi thoải mái.
Tuy nhiên, nó cũng mang lại cho con người nhiều nỗi phiền toái, và còn lấy mất
khỏi con người nhiều giá trị cao đẹp - vốn là những điều quan trọng trong việc
hình thành nhân cách, lý tưởng sống của con người.
Những phương tiện khoa học kỹ thuật vốn không tốt cũng không xấu. Nó
tốt hay xấu là phụ thuộc vào người sử dụng nó. Thế nhưng, những phương tiện
khoa học kỹ thuật, hay nói một cách nôm na hơn là cuộc sống hiện đại đã làm
cho con người, nhất là những người trẻ, có những thay đổi cách nhìn về giá trị
đạo đức. Giới trẻ ngày nay có cách nhìn về cuộc sống, con người, thời đại và về
những giá trị đạo đức khác những người xưa nhiều. Đạo đức truyền thống đối
15
với họ không phải là điều bắt buộc nữa. Thứ đạo đức đó đối với họ đã trở thành
những món đồ cổ rồi. Phải chăng bây giờ lớp trẻ đang sống thiếu đạo đức ? Một
vấn nạn không dễ trả lời. Đạo đức ngày nay bao gồm nhiều lãnh vực, chứ không
gói gọn trong cách học làm người: Đạo đức sinh học, đạo đức trong kinh doanh,
đạo đức trong chính trị, đạo đức trong nhà trường, đạo đức trong tôn giáo… mỗi
một trong những nền đạo đức này nói lên một khía cạnh nào đó của cuộc sống
con người. Giá trị của chúng khác nhau, tuy nhiên, chúng có một điểm chung là
con người. Giá trị đạo đức thực là cái bảo đảm cho một cuộc sống hạnh phúc
hơn, sung mãn hơn.
Vai trò của đạo đức thể hiện ở chức năng của nó:
- Chức năng điều chỉnh hành vi: Đạo đức là một phương thức điều chỉnh
hành vi. Sự điều chỉnh hành vi làm cá nhân và xã hội phát triển, đảm bảo quan
hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng. Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức
điều chỉnh hành vi trong đó có chính trị, pháp quyền và đạo đức. Điều chỉnh
thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức. Ý thức đạo đức phải được
thể hiện bằng hành động thì mới đem lại những lợi ích xã hội và loại trừ cái ác.
Đối với ngành Y tế, đạo đức chính là Y đức của người CBYT. Đó là
những tiêu chuẩn, nguyên tắc được xã hội thừa nhận, nó quy định hành vi trong
mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, với đồng nghiệp. Cũng như nghề
thầy giáo, nghề thầy thuốc lấy con người là đối tượng công tác nhưng đặc điểm
nghề nghiệp của người thầy thuốc còn nhạy cảm hơn nhiều. Chức năng nghề
nghiệp của ngành Y tế là chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người, đó là vốn quý
nhất của con người và xã hội. Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, trước thực
trạng đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận CBYT đang xuống dốc thì việc học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết. Phấn đấu
trở thành người thầy thuốc cách mạng có đức độ, bao dung, gần gũi, thương yêu
17
người bệnh như mẹ hiền, vừa là mục tiêu chiến đâu của chiến sĩ quân y và cũng
là yêu cầu, mong muốn của người bệnh.
1.1.2. Đạo đức nghề nghiệp
Trong xã hội có rất nhiều nghành nghề khác nhau, mỗi nghành nghề có
đặc thù riêng, tính chất công việc riêng, cho nên có vai trò và vị trí khác nhau
trong nền kinh tế quốc dân. Khi bàn về khái niệm nghề nghiệp có một số quan
điểm khác nhau. Theo Từ điển Việt Nam: “Nghề nghiệp là một công việc mà
người ta thực hiện trong suốt cả cuộc đời” [46; 698]. Ví dụ; nghề kiến trúc sư,
nghề kỹ sư Theo quan điểm Mác-Lênin thì nghề là một hiện tượng xã hội có
tính lịch sử, tức là có quá trình ra đời, phát triển và suy vong. Đặc điểm để có
nghề là phải lao động, lao động là một hoạt động sáng tạo của con người, đồng
thời cũng là tiền đề, là cơ sở để xuất hiện nhiều nghành nghề hơn trong lịch sử
loài người.
Trong các lớp từ vựng của tiếng Việt, từ "nghề nghiệp" nằm ở vị trí khá
khiêm tốn. Khái niệm và đặc điểm của nghề nghiệp ít được đề cập đến. Trong
một số tài liệu về ngôn ngữ học, những quan niệm hiện có về từ nghề nghiệp
vẫn chưa có định nghĩa nào làm thỏa mãn sự hiểu biết của chúng ta về bản chất
một hệ thống những chuẩn mực giá trị đạo đức xã hội phù hợp với đặc thù của
từng ngành, từng nghề nhất định. Đạo đức nghề nghiệp xuất hiện theo sự phân
công trong lao động sản xuất. Trong xã hội có bao nhiêu nghề thì có bấy nhiều
đạo đức nghề nghiệp. Trong bất cứ giai đoạn và hoàn cảnh lịch sử nào thì đạo
đức nghề nghiệp luôn luôn là đạo đức xã hội, chịu sự chi phối của đạo đức xã
hội.
Đạo đức nghề nghiệp là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, những
chuẩn mực đạo đức xã hội mang tính đặc thù của một bộ phận xã hội nhất định
19
nhằm định hướng và điều chỉnh hành vi ứng xử và giải quyết những mối quan
hệ giữa các thành viên và xã hội, chịu sự chế ước cả pháp luật trong xã hội.
1.2. Nội dung cơ bản của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên trường y trong giai đoạn hiện nay
1.2.1. Giáo dục chuẩn mực đạo đức nghề y
Ở Việt Nam, nghề y và đạo đức nghề y ra đời từ rất sớm và chịu ảnh
hưởng lớn của đạo đức truyền thống phương Đông, thích ứng với nền sản xuất
nhỏ, tự cung tự cấp. Lý luận về đạo đức nghề y được xây dựng trên cơ sở đạo
đức của Nho giáo và Phật giáo. Sự tự giác rèn luyện theo các chuẩn mực đạo
đức của đạo Nho và đạo Phật tạo nên những nét riêng trong đạo đức nghề y Việt
Nam. Các tên tuổi lớn gắn với nghề y trong lịch sử có Phạm Công Bân, Nguyễn
Bá Tĩnh thời nhà Trần; Đào Công Chính, Lê Hữu Trác thời nhà Lê, Nguyễn Gia
Phan thời Tây Sơn… Từ khi đất nước giành được độc lập, đạo đức xã hội nói
chung, đạo đức nghề y nói riêng, được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác –
Lênin và tinh hoa đạo đức truyền thống của dân tộc. Qua thực tiễn của cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới, đạo đức nghề y đã hình thành
rõ nét, được các nhà khoa học bàn luận nhiều, khái quát lại, y đức có nghĩa
chung là những nguyên tắc phẩm hạnh và các chuẩn mực phẩm hạnh của người
thầy thuốc (đại diện cho nghề y) trong quan hệ với bệnh nhân, với công việc, với
y học, với đồng nghiệp và với xã hội. Y đức là một phẩm chất tốt đẹp của những
người tham gia hoạt động trong ngành y, đó là tinh thần trách nhiệm, là sự tận
4. Khi tiếp xúc với bệnh nhân và gia đình họ phải có thái độ niềm nở, tận
tình, trang phục chỉnh tề, sạch sẽ tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích
tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác chữa
bệnh; phổ biến cho họ về chế độ chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người
bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi
21
phục. Trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa
chăm sóc đến cùng, đồng thời báo cho gia đình người bệnh biết.
5. Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử lý kịp thời không được
đùn đẩy người bệnh.
6. Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý,
an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất,
thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh.
7. Không được rời khỏi vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử lý
kịp thời các diễn biến của người bệnh.
8. Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều
trị, tự chăm sóc và giữ gìn sức khỏe.
9. Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng
dẫn gia đình họ làm các thủ tục cần thiết.
10. Thật thà, đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn
sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau.
11. Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình,
không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước.
12. Hăng hái tham gia tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch
bệnh, cứu chữa người bị tai nạn, ốm đau tại cộng đồng, gương mẫu thực hiện
nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường sống trong sạch [40].
Khi xây dựng các quy định về Y đức cần xác định 4 mối quan hệ mật thiết
đó là
Thứ nhất: Mối quan hệ của người cán bộ Y tế với đồng nghiệp
Thứ hai: Mối quan hệ của người cán bộ Y tế với người bệnh
2. Giáo dục ý thức chấp hành các chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước.
23
3. Giáo dục thái độ tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội, phân
biệt đánh giá các sự kiện chính trị, xã hội, nhận ra và phê phán các âm mưu, thủ
đoạn chính trị của các thế lực thù địch.
Để thực hiện nội dung trên cần:
1. Tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện các quy định về công tác giáo
dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh , sinh viên.
2. Lựa chọn, lồng ghép, tích hợp các nội dung giáo dục chính trị, đạo đức,
lối sống thích hợp vào hoạt động giảng dạy, học tập của chương trình chính
khóa.
3. Tổ chức các hoạt động nhân dịp ngày lễ, kỷ niệm các sự kiện trọng đại
của đất nước, địa phương và nhà trường, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể
thao, các hoạt động, phong trào tình nguyện trong học sinh, sinh viên.
4. Tổ chức tuần sinh hoạt công dân học sinh, sinh viên đầu khóa, cuối
khóa, đầu năm học.
5. Tổ chức các hoạt động giáo dục theo chuyên đề, bao gồm:
a) Giáo dục pháp luật;
b) Giáo dục phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm;
c) Giáo dục môi trường, kỹ năng sống;
d) Giáo dục truyền thống, đạo đức nghề nghiệp
đ) Giáo dục phòng, chống tham nhũng
e) Giáo dục an toàn giao thông
g) Giáo dục truyền thống nghề nghiệp
h) Tư vấn tâm lý, nghề nghiệp và các vấn đề xã hội
i) Hội nhập với thế giới
6. Tổ chức các hoạt động đối thoại với học sinh, sinh viên, thực hiện quy
chế dân chủ trong nhà trường
7. Tổ chức các hoạt động hỗ trợ học tập, rèn luyện cho học sinh, sinh viên
25