Kiểm Toán Hoạt Động Tiêu Thụ Tại Công Ty cổ phần thuỷ sản Hoài Nhơn Bình Định - Pdf 29

Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU.
Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế các doanh nghiệp đã và
đang đổi mới mạnh mẽ và toàn diện cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Sự đổi mới này kéo theo sự phức tạp trong công tác quản lý cũng như công tác
kế toán và báo cáo tài chính. Sự phức tạp này đòi hỏi phải có giải pháp quản lý hữu
hiệu và đòi hỏi kỹ năng của con người phải thích ứng để đáp ứng yêu cầu của sự phát
triển mới.
Để đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý, kiểm toán hoạt động
do đó rất cần thiết đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần thuỷ sản Hoài Nhơn Bình Định,
em nhận thấy một trong những khó khăn hiện nay của công ty là giải quyết tốt khâu
tiêu thụ nhằm thu hồi vốn kinh doanh và đem lại lợi nhuận. Do đó, qua quá trình thực
tập tại công ty em đã chọn đề tài: “ Kiểm Toán Hoạt Động Tiêu Thụ Tại Công Ty
cổ phần thuỷ sản Hoài Nhơn Bình Định “ để nghiên cứu và làm chuyên đề thực tập
của mình.
Đề tài gồm 3 phần:
Phần 1: Những vấn đề cơ bản về kiểm toán và kiểm toán hoạt động tiêu
thụ tại công ty.
Phần 2: Thực trạng hoạt động tiêu thụ và kiểm soát nội bộ tại công ty.
Phần 3: Tổ chức kiểm toán hoạt động tiêu thụ tại công ty.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Ngô Hà Tấn đã tận tình hướng dẫn em hoàn
thành chuyên đề này.
Em xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đở của các anh chị ở công ty đã giúp em
trong thời gian thực tập tại công ty.
Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên Luận Văn không tránh khỏi những
thiếu sót rất mong thầy cô và bạn đọc góp ý để Luận Văn được hoàn thiện hơn.
Đà Nẵng, tháng 06 năm 2003.
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Thuỷ.
PHẦN I :
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN

Kiểm toán báo cáo tài chính là sự kiểm tra và trình bày ý kiến nhận xét
về những báo cáo tài chính của một đơn vị.
1.2.2. Phân loại theo chủ thể kiểm toán:
Theo cách phân loại này, kiểm toán chia làm ba loại: Kiểm toán nội bộ,
kiểm toán nhà nước, Kiểm toán độc lập.
a. Kiểm toán nội bộ:
Là loại kiểm toán do những kiểm toán viên nội bộ thực hiện, được thiết
lập trong một tổ chức để kiểm tra và đánh giá các hoạt động của một tổ chức
như là một hoạt động phục vụ cho tổ chức. Kiểm toán nội bộ được tổ chức
độc lập với các bộ phận khác trong đơn vị, tuy nhiên sự độc lập này chỉ mang
tính tương đối vì người tiến hành kiểm toán là nhân viên của đơn vị.
b. Kiểm toán nhà nước
Là hoạt động kiểm toán do kiểm toán viên nhà nước tiến hành, chủ yếu là
thực hiện kiểm toán tính tuân thủ, chẳng hạn như xem xét việc chấp hành luật
pháp ở đơn vị.
c. Kiểm toán độc lập
Là loại kiểm toán đươcï tiến hành bởi các kiểm toán viên độc lập thuộc
những tổ chức kiểm toán độc lập, họ thực hiện các cuộc kiểm toán báo cáo tài
chính và tuỳ theo yêu cầu của khách hàng họ còn có thể thực hiện kiểm toán

Trang 3
hoạt động, kiểm toán tuân thủ và các dịch vụ tư vấn về kế toán, thuế, tài
chính...
2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG
2.1. Khái niệm:
Trong quá trình phát triển, kiểm toán không chỉ giới hạn ở kiểm toán
báo cáo tài chính mà đã thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau như hiệu
quả của các nghiệp vụ, các hoạt động, hiệu năng của quản lý. Chính điều này
dẫn đến sự hình thành kiểm toán hoạt động.
Kiểm toán hoạt động hiện nay vẫn còn đang mới mẻ, đang tiếp tục phát

định... chứ không thống nhất như đối với kiểm toán báo cáo tài chính.

Trang 4
Chuẩn mực để đánh giá trong kiểm toán hoạt động không thể là chuẩn
mực chung như đối với kiểm toán tài chính, và cũng khó có thể xây dựng
chuẩn mực cho từng cuộc kiểm toán hoạt động thật khách quan và đúng đắn.
Trong kiểm toán hoạt động, việc kiểm tra thường liên quan đến nhiều
lĩnh vực. Vì vậy, kiểm toán hoạt động sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau: kế
toán, tài chính, kinh tế, kỹ thuật và tiêu chuẩn tốt cho một kiểm toán viên hoạt
động chủ yếu là kiến thức về lĩnh vực được kiểm toán có được đào tạo thêm
về kế toán và kiểm toán.
Báo cáo của kiểm toán hoạt động chủ yếu phục vụ cho người quản lý,
trong đó trình bày kết quả kiểm toán và đưa ra đề xuất cải tiến hoạt động.
2.4. Mối quan hệ giữa kiểm toán hoạt động và kiểm toán nội bộ.
2.4.1. Khái niệm về kiểm toán nội bộ.
Kiểm toán nội bộ là chức năng đánh giá độc lập, được thiết lập trong
một tổ chức để kiểm tra và đánh giá các hoạt động của tổ chức như là một
hoạt động phục vụ cho tổ chức.
Mục đích của kiểm toán nội bộ là giúp đỡ các thành viên trong doanh
nghiệp hoặc trong tổ chức hoàn thành trách nhiệm của họ một cách hiệu quả.
Để đạt được mục đích này, kiểm toán nội bộ cung cấp cho họ các phân tích,
đánh giá, kiến nghị và tư vấn thông tin liên quan đến hoạt động được kiểm tra
. Bộ phận kiểm toán nội bộ là một bộ phận quan trọng của một doanh nghiệp
một tổ chức thúc đẩy việc kiểm soát hữu hiệu với chi phí hợp lý.
2.4.2. Chức năng và nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
Theo chuẩn mực thực hành nghề nghiệp kiểm toán nội bộ (Standards
for professional practice of Internal Auditing) . Kiểm toán nội bộ có chức
năng kiểm tra đánh giá sự đầy đủ và hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nộ bộ
của tổ chức và chất lượng hoạt động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được
giao.

thực hiện tốt điều này thì kiểm toán viên phải có sự am hiểu sâu sắc về tình
hình thực tế tại đơn vị. Do đó, mà kiểm toán viên thực hiện kiểm toán hoạt
động thường được thực hiện bởi kiểm toán viên nội bộ mặc dù cũng có thể là
kiểm toán viên nhà nước hoặc kiểm toán viên độc lập, vì kiểm toán viên nội
bộ là những người làm việc tại đơn vị nên họ là người hiểu biết về đơn vị
nhiều nhất.
2.5. Các chuẩn mực để đánh giá trong kiểm toán hoạt động :
Trong kiểm toán hoạt động không có các chuẩn mực chung để đánh giá
như đối với kiểm toán tài chính. Song kiểm toán viên có thể sử dụng một số
nguồn sau đây để xây dựng chuẩn mực đánh giá:
Thực hiện trước đây: Cách xây dựng chuẩn mực đơn giản có thể dựa
trên các kết quả thực tế từ các kỳ trước ( Hoặc các cuộc kiểm toán trước ) để
xác định liệu sự việc có tốt hơn hoặc kém hơn trước không. Ưu điểm của tiêu
chuẩn này là dễ dàng trong xây dựng tuy vậy các chuẩn mực thuộc dạng này
kết quả đánh giá chỉ dừng lại ở sự biến động của đối tượng kiểm toán, không
cho thấy thực sự hoạt động đó như thế nào, thí dụ: Tỷ lệ phế phẩm của phân
xưởng A chỉ có thể đánh giá là tốt hơn kỳ trước chứ thực sự có tốt không thì
chưa biết, vì có thể tỷ lệ phế phẩm sau khi giảm xuống có thể vẫn còn khá cao
so với các phân xưởng khác.
Thực hiện ở các đơn vị hoạt động tương tự : Kiểm toán viên có thể
đánh giá trên cơ sở so sánh hoạt động đang kiểm tra với các hoạt động tương
tự tại một bộ phận hay đơn vị khác. Thí dụ: kiểm toán viên có thể so sánh tỷ
lệ phế phẩm của phân xưởng A với các phân xưởng khác trong đơn vị cùng
sản xuất một loại sản phẩm hoặc mở rộng hơn, kiểm toán viên có thể so sánh

Trang 6
với tỷ lệ phế phẩm của các doanh nghiệp cùng nghành. Việc so sánh này cần
chú ý đến các đặc điểm khác nhau về quy mô, trang bị kỹ thuật.
So sánh với định mức kỹ thuật hoặc dự toán: Trong nhiều trường hợp,
các định mức kỹ thuật là một tiêu chuẩn rất tốt. Thí dụ: để đánh giá sản lượng

thức kiểm toán này.
2.6.3. Kiểm toán các nhiệm vụ đặc biệt
Kiểm toán hoạt động đối với các nhiệm vụ đặc biệt phát sinh theo yêu
cầu của ban quản trị, có rất nhiều cuộc kiểm toán loại này.
Ví dụ : kiểm toán phương pháp mua sắm mới tài sản cố định, kiểm toán quá
trình góp ý để làm giảm chi phí sản xuất sản phẩm...

Trang 7
2.7. Quy trình kiểm toán hoạt động
Quy trình kiểm toán hoạt động cũng tương tự như kiểm toán báo cáo tài
chính, gồm 4 giai đoạn: chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán, báo cáo
kiểm toán và theo dõi sau kiểm toán.
Giai đoạn 1: Chuẩn bị kiểm toán
Bước 1: Xác định đối tượng kiểm toán
Đối tượng kiểm toán có thể là một bộ phận, chi nhánh của đơn vị hay
một hoạt động, một chương trình nào đó mà đơn vị đang tiến hành. Các kiểm
toán viên có thể lựa chọn đối tượng kiểm toán theo các phương pháp sau đây.
Lựa chọn một cách hệ thống: Bộ phận kiểm toán soạn ra một danh sách
các đối tượng kiểm toán sẽ được kiểm tra trong năm. Thông thường danh sách
này lập chủ yếu dựa trên cơ sở rủi ro cao sẽ được lựa chọn đưa vào chương
trình kiểm toán trước, các đối tượng rủi ro thấp hơn sẽ được đưa vào kỳ sau.
Kiểm toán các vấn đề khúc mắc: Phương pháp này dựa trên nguyên tắc
ưu tiên kiểm toán những bộ phận hay vấn đề đang có sự cố. Ban giám đốc và
hội đồng quản trị dựa vào sự xét đoán của họ mà đưa ra những vấn đề cần
phải được kiểm toán ngay. Do đó, theo phương pháp này, chính người quản lý
lựa chọn các đối tượng kiểm toán.
Kiểm toán theo yêu cầu của chính đối tượng kiểm toán: Phương pháp
này đối tượng kiểm toán được chọn xuất phát từ đối tượng. Một giám đốc các
bộ phận muốn thực hiện việc kiểm toán để đánh giá tính đầy đủ và hiệu quả
của hệ thống kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng đến hoạt động dưới sự giám sát

chính sách, báo cáo tổng hợp...
Bảng mô tả hoạt động của đối tượng kiểm toán:Kiểm toán viên phải lập
và lưu trữ trong hồ sơ kiểm toán một bảng mô tả về hoạt dộng của đối tượng
kiểm trong đó trình bày những hiểu biết của mình và qua đó làm cơ sở tham
chiếu với những đánh giá kiểm soát nội bộ của đơn vị và các thủ tục kiểm
toán viên tiến hành.
Thủ tục phân tích: Kiểm toán viên sẽ so sánh số liệu thực tê với số liệu
kế hoạch, xem xét xu hướng từ năm này sang năm khác, xem xét và ghi nhận
các chi tiết bất thường, ước tính dữ liệu trên báo cáo bằng các dữ liệu liên
quan... thủ tục phân tích không chỉ gúp kiểm toán viên lập kế hoạch các thủ
tục kiểm toán khác, chẳng hạn kết quả bất thường thông qua việc tính toán và
so sánh sẽ đặt ra những câu hỏi và cần những thủ tục kiểm toán chi tiết hơn.
Ngoài ra, các thủ tục còn cung cấp định hướng để kiểm tra và tạo bằng chứng
về sự hợp lý của các chỉ tiêu hoạt động.
Bước 4: Mô tả và phân tích hệ thống kiểm soát nội bộ.
Các kiểm toán viên mô tả hệ thống kiểm soát thông qua vẽ các lưu đồ,
trả lời các câu hỏi về kiểm soát nội bộ và các bảng tường thuật. Ngoài ra các
kiểm toán viên thực hiện các thử nghiệm sơ bộ, thử nghiệm các thủ tục kiểm
soát đối với các hệ thống thông tin...việc đánh giá hệ thống kiểm soát nộ bộ
được thông qua bảng đánh giá kiểm soát nội bộ trong đó phát thảo những phát
hiện đối chiếu với tiêu chuẩn nhận dạng các rủi ro.
Bước 5: Thực hiện các thử nghiệm mở rộng.
Thử nghiệm mở rộng bao gồm việc kiểm tra chứng từ, sổ sách, phỏng
vấn người quản lý đối tượng kiểm toán và các nhân viên khác, quan sát các
hoạt động kiểm tra tài sản, so sánh việc ghi chép với thực tế và các thủ tục
khác nhằm hiểu biết chi tiết về chất lượng hoạt động kiểm soát tại đơn vị.
Bước 6: Xử lý các phát hiện trong quá trình kiểm toán.
Khi hoàn tất việc nghiên cứu và đánh giá đối tượng kiểm toán kiểm
toán viên có thể đưa ra các phát hiện và xác định cần phải làm gì để hoàn


sự độc lập cả kiểm toán viên với quá trình thiết kế và vận hành hệ thống, vừa
tận dụng được kinh nghiệm của kiểm toán viên nội bộ.
Bước 9: Đánh giá cuộc kiểm toán.
Hoạt động sau cùng liên quan đến cuộc kiểm toán là đánh giá của chính
bản thân các kiểm toán viên. Trưởng nhóm quyết định những vấn đề liên
quan, bao gồm hiệu quả của việc kiểm toán và làm thế nào để thực hiện tốt
hơn các cuộc kiểm toán sau này.
Đồng thời mỗi kiểm toán viên kể cả nhóm trưởng kiểm toán còn phải
lập một báo cáo về công việc hoàn thành sau mỗi cuộc kiểm toán. Báo cáo
này làm cơ sở cho việc phân công đề bạt phát triển nghề nghiệp và tăng lương
sau này.

Trang 10
3. KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ.
3.1.Các hoạt động của quá trình tiêu thụ.
Quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá thường gồm một số hoạt động
chính sau đây:
3.1.1.Tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
Đây là hoạt động nhằm giải quyết vấn đề sản phẩm, hàng hoá sẽ được
tiêu thụ ở vùng thị trường nào, khách hàng nào sẽ mua sản phẩm, hàng hoá
của doanh nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp đều xác định cho mình một
vùng thị trường mục tiêu và kênh phân phối chủ đạo để tiến hành tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá. Để tìm kiếm thị trường và khách hàng tiêu thụ sản phẩm,
hàng hoá của mình thì doanh nghiệp tiến hành tìm kiếm, ký kết hợp đồng với
các đại lý tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, mở chi nhánh văn phòng đại diện,
thành lập hệ thống cửa hàng bán sản phẩm, hàng hoá trực tiếp của doanh
nghiệp.
3.1.2. Nhận đặt hàng từ khách hàng:
Trước khi đặt hàng từ phía khách hàng thì doanh nghiệp thường làm
thủ tục chào hàng, đưa ra các điều kiện bán hàng và thể hiện rõ ý định bán

+ Đảm bảo các hoạt động tiêu thụ đang được tiến hành có hiệu lực,
hiệu quả.
3.2.2. Tiêu chuẩn đánh giá của hoạt động tiêu thụ.
Khi tiến hành kiểm toán hoạt động tiêu thụ có thể sử dụng một vài tiêu
chuẩn sau để đánh giá:
+Các chỉ tiêu về hoạt động tiêu thụ như : doanh thu, chi phí bán hàng,
công nợ... của các kỳ trước, của các đơn vị cùng nghành cùng qui mô.
+Các định mức kỹ thuật hoặc dự toán được thiết lập qua quá trình phân
tích các chính sách, qui định liên quan đến hoạt động tiêu thụ.
3.3. Kiểm toán hoạt động tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá.
Hoạt động tiêu thụ được bắt đầu bằng đơn đặt hàng của khách hàng và chấm
dứt bằng sự chuyển đổi hàng hoá, dịch vụ thành một khoản thu và cuối cùng
thành tiền.
Do đó, kiểm toán hoạt động tiêu thụ là đánh giá tính kinh tế, tính hiệu
quả và hiệu lực của các hoạt động: tìm kiếm thị trường và khách hàng tiêu thụ
sản phẩm, xử lý đơn đặt hàng của khách hàng, kiểm soát tín dụng và quản lý
con nợ, định giá sản phẩm, hệ thống bán hàng của doanh nghiệp, chính sách
marketing.
3.3.1. Tìm kiếm thị trường và khách hàng tiêu thụ sản phẩm, hàng
hoá:
Để hoạt động tiêu thụ đạt hiệu quả tốt, sản phẩm hàng hoá của doanh
nghiệp được khách hàng chấp nhận thì hoạt động tìm kiếm thị trường tiêu thụ
giữ một vai trò vô cùng quan trọng.
Những yêu cầu cần thiết để tiến hành hoạt động tìm kiếm thị trường và
khách hàng tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá có hiệu quả:
Ban quản lý nên có một đội ngũ, phòng nghiên cứu thị trường, tiếp cận
thị trường, thu thập thông tin về thị trường: nhu cầu thị hiếu của khách hàng
vềø sản phẩm hàng hoá, sức mua của thị trường, sản phẩm của đối thủ cạnh
tranh ( về số lượng, chất lượng, giá cả...).

xuyên cập nhật thông tin về hàng dự trữ, qui cách sản phẩm và giá cả...). Ở
những công ty có cơ sở dữ liệu về nhóm sản phẩm trên máy có thể cung cấp
một lợi thế cạnh tranh trong việc phục vụ khách hàng.
Sự hoàn tất một đơn đặt hàng có thể phụ thuộc vào tốc độ tiến hành kiểm
tra tín dụng, kiểm tra chi tiết đơn đặt hàng, xác định hàng hoá tồn kho và nhập
vào máy đơn đặt hàng.
Công ty cần phải có kế hoạch hoàn tất các đơn đặt hàng tạm thời dựa
trên các yêu cầu qua điện thoại của những khách hành được xác minh, có các
phương tiện giúp kiểm soát nhanh tín dụng khách hàng, xác định những chậm
trễ có thể xảy ra trong việc giao hàng và rà xót thường xuyên những đơn đặt
hàng còn tồn đọng.
3.3.3. Kiểm soát tín dụng và quản lý con nợ:
Mục đích của hoạt động này là đồng vốn của doanh nghiệp bỏ ra phải
được chu chuyển nhanh tức là nhận tiền thanh toán từ khách hàng đầy đủ,

Trang 13
đúng hạn để hạn chế thấp nhất chi phí tín dụng mà không làm cản trở việc bán
hàng có thể đem lại lợi nhuận.
Những chi phí kéo dài thời gian tín dụng cho khách hàng gồm những
chi phí sau:
- Chi phí tiền vốn kẹt lại ở con nợ
- Chi phí nhân viên quản lý sổ sách bán hàng
- Chi phí đòi nợ
- Chi phí cho nhân viên trong khi làm việc: In ấn, điện thoại, bưu
phí...
- Nợ không có khả năng thanh toán
Những chi phí này có thể phát sinh khác nhau đối với những đơn vị
kinh doanh khác nhau. Tuy nhiên để kiểm soát tín dụng có hiệu quả có thể
tiến hành qua 4 giai đoạn sau:
- Thẩm định và xem xét khả năng cho vay tín dụng an toàn đối với

cách phù hợp tuỳ từng trường hợp khách hàng và phải thường xuyên rà soát
lại, thường dựa vào khối lượng mậu dịch lớn nhất mà khách hàng có thể thực
hiện (Ví dụ: không đáng bỏ ra 1.000$ cho một khách hàng mà người ta không
thể mua hàng với giá trị trên 5.000$) và uy tín của khách hàng. Việc xem xét
lại thường xuyên cũng rất quan trọng để tránh đánh mất việc bán hàng khi
khách hàng đạt đến mức nợ giới hạn, hoặc ngược lại để giảm bớt giới hạn đối
với những khách hàng không mấy hài lòng.
Cần có sự liên kết chặt chẽ giữa bộ phận kế toán, quản lý tín dụng, bộ
phận bán hàng và phân phối hàng. Khi một con nợ bất ngờ bị lâm vào hoàn
cảnh khó khăn về tài chính, việc giao hàng có thể ngưng lại và tất cả cácù
nhân viên bán hàng vận chuyển cũng nên được báo trước và trường hợp cho
phép giao hàng thì tất cả các nhân viên bán hàng và vận chuyển phải biết để
tránh đánh mất việc bán hàng.
3.3.4. Địùnh giá sản phẩm và khả năng sinh lời từ sản phẩm.
Đối với sản xuất cũng như các ngành công nghiệp dịch vụ, chính sách
định giá sản phẩm và theo dõi khả năng sinh lời từ sản phẩm là nền tảng trong
việc chiếm vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp và hoạt động tài chính.
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá sản phẩm và khảø năng sinh
lời từ sản phẩm bao gồm:
- Kết cấu chi phí của công ty
- Chiến lược cạnh tranh và xác định vị trí sản phẩm trên thị trường
- Mức độ phục vụ
- Khả năng nhận biết giá cả, kết cấu, bản chất của các thị trường thuộc
công ty
- Khả năng xuất hiện các mặt hàng thay thế
- Chất lượng sản phẩm
3.3.5. Hệ thống bán hàng.
Không có một hệ thống kiểm soát đầy đủ, tiền mặt phát sinh do bán
hàng có thể bị mất hay bị gian lận, mối quan hệ với khách hàng có thể bị suy
thoái vì giao hàng không đúng hoặc trể, hoặc những con nợ còn tồn đọng có

Công tác tổ chức phân công các nhiệm vụ trong hệ thống bán hàng phải
phù hợp không được chồng chéo đồng thời giữa các khâu phải có mối liên hệ
hợp tác với nhau,hỗ trợ cho nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ.
3.3.6. Chính sách Marketing.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp kinh doanh trong
môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Để khẳng định được chỗ đứng
của mình trên thị trường, mỗi doanh nghiệp không những cạnh tranh về chất
lượng, giá cả, mẫu mã mà còn cạnh tranh trên mọi phương diện: quảng cáo,
tiếp thị, khuyến mãi... chính vì vậy mà việc xác định một chính sách
marketing phù hợp hiệu quả, hiệu lực là rất quan trọng để đẩy mạnh hoạt
động tiêu thụ.
Một số vấn đề quan trọng trong hoạt động này:
- Phải hiểu được tâm lý của khách hàng mà có hình thức quảng cáo,
tiếp thị phù hợp để không những giữ được khách hàng đã mua mà còn tìm
kiếm đến khách hàng chưa mua, muốn mua và sẽ mua.
- Tuỳ từng loại hình kinh doanh mà mở những đợt quảng cáo phù hợp
trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Trang 16
- Phải cho khách hàng thấy được lợi ích mang lại cho khách hàng nhiều
hơn những đôí thủ cạnh tranh khác khi quyết định mua hàng hoá của doanh
nghiệp.
- Tuỳ từng giai đoạn, thời kỳ cũng như từng loại sản phẩm hàng hoá mà
có những đợt khuyến mãi phù hợp.
- Vấn đề quan trọng không kém là việc bày biện, trang trí cửa hàng, đội
ngũ nhân viên bán hàng về cách ăn mặc, ứng xử đối với khách hàng.
- Cuối cùng là việc so sánh giữa chi phí bỏ ra với kết quả thu được.
Tuy nhiên, hoạt động này mang tính lâu dài, có thể trong thời gian ngắn kết
quả thu được chưa cao nhưng trong tương lai sẽ thu được kết quả cao so với
chi phí bỏ ra.

1.2. Chức năng nhiệm vụ của công ty.
Công ty có các nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đông thời quản lý khai thác có
hiệu quả các nguồn vốn đảm bảo đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh theo
phương thức đa dạng, không ngừng đổi mới trang thiết bị, bù đắp chi phí cân
đối thu chi và làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước. Công ty có trách nhiệm
bảo toàn và phát triển vốn.
Đầu tư liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần tuỳ theo khả năng của cán
bộ công nhân viên công ty.
Nghiên cứu các biện pháp đổi mới mặt hàng, nâng cao chất lượng và
gia tăng số lượng các mặt hàng.

Trang 18
Tự chủ trong hoạt động quản lý tài sản, quản lý tài chính và chính sách
cán bộ theo luật định, thực hiện nguyên tắt phân phối theo lao động đảm bảo
công bằng xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động ,
bồi dưỡng và nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và chuyên môn
nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên.
Ghi chép sổ sách kế toán theo đúng pháp luật và qui định hiện hành,
chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính.
Trong chế biến thực hiện tốt khâu vệ sinh an toàn thực phẩm, toàn bộ
hải sản trước khi nhập kho và xuất bán ra ngoài đều qua khâu kiểm tra chất
lượng nằm đảm bảo tuyệt đối cho sức khoẻ của người tiêu dùng. Thực hiện
tốt công tác bảo hộ an toàn lao động, bảo vệ môi trường.
1.3. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty
Công ty vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị kinh doanh lĩnh
vực sản xuất kinh doanh của công ty gồm: thu mua chế biến, nuôi trồng thuỷ
sản, nông sản nội địa và xuất khẩu.
Kinh doanh xuất nhập khẩu các loại hải sản, vật tư, trang thiết bị và
dịch vụ hậu cần nghề cá.

thuỷ sản
XN chế biến thuỷ
sản Tam Quan
Các chi nhánh
(QNhơn,TPHCM)
Ghi chú: Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Quan hệ hổ trợ
Trang 20
soát có thể 2 hoặc 3 người do đại hội Cổ đông bầu ra và bãi miễn nhiệm với
đa số phiếu bằng thể thức trực tiếp hoặc bỏ phiếu kín.
Giám đốc: là người đại diện pháp nhân cho Công ty trong mọi giao
dịch, giám đốc là người điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hàng
ngày của công ty. Giám đốc chịu trách nhiệm trước đại hội Cổ đông và Hội
đồng quản trị về trách nhiệm điều hành Công ty.
Phòng tài vụ: Có nhiệm vụ tổ chức công tác hạch toán kế toán toàn
Công ty, xác định kết quả kinh doanh, thực hiện các nhiệm vụ thu chi và quản
lý các khoản tiền vốn, tiền vay, tiền gởi, đồng thời theo dõi sát sao tình hình
công nợ để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đồng thời tham mưu
cho ban lãnh đạo công ty về những thông tin tài chính quan trọng.
Phòng kinh doanh: Tham mưu cho giám đốc về công việc kinh doanh
thị trường, vật tư hàng hoá giúp cho giám đốc ký kết những hợp đồng mua
bán tiêu thụ sản phẩm, định giá mua, bán ở từng thời điểm theo sự biến động
của thị trường.
Các xí nghiệp và chi nhánh: có nhiệm vụ tổ chức sản xuất, tổ chức
quản lý ở từng xí nghiệp, định kỳ báo cáo kết quả ( hàng tháng ) cho phòng kế
toán tài vụ.

Trang 21
1.5. Tổ chức kế toán tại công ty.

Kế toán xí nghiệp
xây dựng thuỷ sản
Kể toán công nợ
tiêu thụ, thanh toán
Kế toán xí nghiệp
chế biến đông lạnh
Kế toán trưởng
(kiêm kế toán tổng hợp
Trang 22
Thủ quĩ: Trực tiếp thu chi quĩ tiền mặt và bảo quản tiền mặt, ghi chép
sổ quĩ và hàng tháng lập báo cáo thu chi tiền quĩ.
Kế toán các chi nhánh, các xí nghiệp: là người theo dõi chung trong
chi nhánh xí nghiệp từ việc thu chi, tạm ứng. Hàng tháng lập các báo cáo,
bảng kê gửi lên cho phòng kế oán tập trung để tập hợp số liệu lập báo cáo tài
chính.
1.5.2. Hình thức kế toán áp dụng tại công ty:
Với mô hình đặc điểm sản xuất kinh doanh, trình độ nhân viên kế toán
tại công ty, công ty đã áp dụng hình thức kế toán : Chứng từ ghi sổ
Hiện nay, công ty đã vận dụng máy vi tính vào việc xử lý thông tin kế
toán.
(1)
(1)
(2)
(2)
(3) (3)
(4) (4)

(5)
(5)
Ghi chú: Ghi hàng ngày

được chổ đứng cho mình trên thị trường. lãnh đạo của công ty đã từng bước
chứng tỏ được năng lực của mình từ khi chuyển sang hình thức cổ phần hoá.
Công ty đã đi vào hoạt động có hiệu quả, điều này thể hiện qua một số chỉ
tiêu trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh như sau:
Bảng 1: Một số chỉ tiêu thể hiện tình hình tiêu thụ sản phẩm, hàng
hoá tại công ty.
Đvt: tr đồng
Tổng doanh thu 100.224 117.602 146.246
Doanh thu hàng xuất khẩu 0 176 6.900
Giảm trừ 0 0 0
Giá vốn hàng bán 97.813 113.454 139.472
Lợi nhuận gộp 2.411 4.148 6.774
Chi phí bán hàng 946 2.070 4.945
Chi phí quản lý 628 531 487
Lợi nhuận thuần 836 1.546 1.333
Qua bảng số liệu phân tích ta có thể thấy doanh thu của Công ty qua
mỗi năm đều tăng lên đáng kể tương ứng với mức lợi nhuận trước thuế cũng
tăng. Qua đó, ta có thể kết luận rằng: công ty đã từng bước thâm nhập thị
trường, đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. Nhìn vào bảng số
liệu ta thấy xu hướng phát triển của công ty trong những năm sắp tới.
Trước đây công ty chỉ thu mua một số mặt hàng thuỷ sản rồi sau đó bán
lại mà chủ yếu là thu mua cá Ngừ đại dương. Hiện nay, Công ty đã đầu tư đưa
máy móc thiết bị kỹ thuật hiện đại vào để chế biến một số mặt hàng thuỷ sản
để bán và xuất khẩu.Có thể nêu 1 số mặt hàng thuỷ sản chính của Công ty như
sau:

Trang 24
Bảng 2: Một số mặt hàng thuỷ sản chính của công ty.
STT Tên mặt hàng
1 Cá Ngừ đại dương

sau:
Nhìn vào số liệu bảng 3, ta thấy doanh thu tiêu thụ hai lĩnh vực kinh
doanh xăng dầu và thuỷ sản của Công ty nhìn chung là tăng qua các năm.

Trang 25
Trong đó, tình hình tiêu thụ một số mặt hàng thuỷ sản tăng nhanh năm 2001.
Điều này cho thấy việc kinh doanh lĩnh vực thuỷ sản đã bắt đầu đi vào hoạt
động có hiệu quả từ khi chuyển sang hình thức cổ phần hoá. Đến năm 2002
doanh thu có tăng nhưng chậm hơn, thậm chí mặt hàng cá ngừ đại dương lại
giảm so với năm 2001( vì đây là mặt hàng xuất khẩu nên gặp nhiều khó
khăn). Tuy nhiên doanh thu các mặt hàng thuỷ sản của công ty đều tăng qua
ba năm.
Còn đối với lĩnh vực kinh doanh xăng dầu thì doanh thu tăng đều qua
các năm và ổn định.
Nhìn chung doanh thu hai lĩnh vực chính của công ty đạt được trong ba
năm qua là thể hiện bước đầu thành công trên con đường đổi mới của công ty.
Qua đó cho ta thấy xu hướng tăng trưởng và ổn định về tăng trưởng hàng hoá
và ổn định trong những năm sắp đến.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status