Sử dụng một số biện pháp sư phạm để nâng cao chất lượng dạy học các bài thực hành sinh học 11 THPT - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG THỊ QUỲNH HƯƠNG
SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM
ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
CÁC BÀI THỰC HÀNH SINH HỌC 11 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG THỊ QUỲNH HƯƠNG
SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM
ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
CÁC BÀI THỰC HÀNH SINH HỌC 11 THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN ĐÌNH NHÂM
NGHỆ AN - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là khách quan, trung thực và chưa từng
được công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Tác giả
Hoàng Thị Quỳnh Hương
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Đình Nhâm, người
đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1. Cơ sở lí luận của việc sử dụng các biện pháp sư phạm để dạy học thực
hành Sinh học 8
1.1.1. Khái niệm thực hành Sinh học 8
1.1.2. Vai trò của TH Sinh học trong dạy học sinh học 9
1.1.3. Các biện pháp sư phạm được sử dụng trong dạy học thực hành
Sinh học 10
1.2. Cơ sở thực tiễn của dạy học thực hành Sinh học 17
1.2.1. Thực trạng dạy và học Sinh Học ở Trường THPT 17
1.2.2. Nguyên nhân của thực trạng dạy - học Sinh học 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2 SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP SƯ PHẠM ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ DẠY HỌC CÁC BÀI THỰC HÀNH SINH HỌC 11 - CƠ BẢN
24
2.1. Phân tích cấu trúc nội dung các bài thực hành Sinh học 11 24
2.2. Xác định mục tiêu bài học dựa trên cơ sở mục tiêu của chương trình. 29
2.3. Qui trình tiến hành thí nghiệm và cải tiến các thí nghiệm 32
2.4. Sử dụng các biện pháp trong dạy học thực hành Sinh học 11 33
2.4.1. Sử dụng câu hỏi, bài tập để dạy các bài thực hành Sinh học 11 33
2.4.2. Sử dụng phiếu học tập để dạy các bài thực hành Sinh học 11 42
2.4.3. Sử dụng sơ đồ để dạy các bài thực hành Sinh học 11 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52
iii
3.1. Mục đích thực nghiệm 52
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 52
3.3. Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 52
3.3.1. Lựa chọn đối tượng thực nghiệm 52
3.3.2. Các bước thực nghiệm 53
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm 53

Trung học phổ thông
Thực nghiệm
Thực vật
Phiếu học tập
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
BT
CH
ĐC
ĐT
ĐV
GD- ĐT
GV
HS

tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một
cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp. Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được
xem như là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển.
Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồm
các yếu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học,
phương pháp dạy học. Phương pháp dạy học (PPDH) là khâu rất quan trọng bởi lẽ
PPDH có hợp lý thì hiệu quả của việc học mới cao, phương pháp có phù hợp thì
mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người học. Bởi vậy, việc
đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới PPDH.
1.1.1 Xuất phát từ chủ trương của Đảng và Nhà Nước
Để phát triển đất nước, hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà Nước ta đã chú trọng
phát triển Giáo dục và Đào tạo, xem Giáo dục và Đào tạo là Quốc sách hàng đầu.
1
Mục tiêu của giáo dục Việt Nam là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách
phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc” [ 1].
Vấn đề này được thể hiện trong nhiều nghị quyết Trung ương và các văn bản khác:
Luật giáo dục 2005 khoản 2, điều 28 nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học: bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh” và “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo
nguyên tắc học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lý luận
gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường phải kết hợp với giáo dục gia đình và
giáo dục xã hội”.
Để đạt được mục tiêu đã đặt ra, ngành Giáo dục và Đào tạo đang ra sức thực
hiện công cuộc đổi mới giáo dục ở mọi cấp học, đổi mới đồng bộ cả nội dung,
phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức và kiểm tra đánh giá. Đặc biệt, chú

đổi cách dạy và người học cũng phải thay đổi cách học chủ động, tích cực hơn…
Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, định hướng cho học sinh tự tìm tòi,
khám phá những kiến thức hiện đại, đồng thời tạo cho các em niềm tin vào khoa
học. Đặc biệt việc sử dụng các biện pháp dạy học tích cực để dạy các bài thực hành
là một vấn đề cấp thiết.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng
một số biện pháp sư phạm để nâng cao chất lượng dạy học các bài thực hành
Sinh học 11 THPT”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Sử dụng một số biện pháp sư phạm: Sử dụng câu hỏi - bài tập; Phiếu học tập;
Sơ đồ, để tổ chức dạy học các bài thực hành Sinh học 11 THPT nhằm góp phần
nâng cao chất lượng dạy học Sinh học.
3. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu sử dụng các biện pháp dạy học tích cực để dạy các bài thực hành Sinh học
11 hợp lí, phù hợp với nội dung và năng lực của học sinh thì sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả dạy học các bài thực hành Sinh học11 nói riêng và sinh học phổ thông nói chung.
3
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng các biên pháp sư
phạm để tổ chức dạy học các bài thực hành Sinh học 11.
4.2. Nghiên cứu nội dung chương trình các bài thực hành Sinh học 11
4.3. Điều tra tình hình dạy học thực hành Sinh học 11 ở một số trường THPT
Nghệ An.
4.4. Sử dụng các biện pháp sư phạm: sử dụng câu hỏi - bài tập; phiếu học tập;
sơ đồ để tổ chức dạy thực hành Sinh học 11.
4.5. Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của các biện pháp dạy các
bài thực hành Sinh học 11.
5. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp sư phạm dùng trong dạy học các bài thực hành Sinh học

7.3. Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi với các chuyên gia trong lĩnh vực mà mình nghiên cứu, từ đó
có những định hướng cho việc nghiên cứu đề tài.
Trao đổi trực tiếp với giáo viên dạy học Sinh học 11 về các biện pháp, kĩ thuật
dạy học, quy trình làm thí nghiệm, cách tổ chức tiến hành dạy bài thực hành làm cơ
sở để chỉnh sửa và hoàn hiện giáo án thực hành phần Sinh học cơ thể - Sinh học 11.
7.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Mục đích thực nghiệm: Xác định tính hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp
dạy trong giảng dạy các bài thực hành Sinh học 11 để kiểm tra tính khả thi của giả
thuyết khoa học.
Tiến hành thực nghiệm ở các trường THPT, Nghệ An nhằm đánh giá hiệu quả
của việc sử dụng biện pháp dạy học tích cực trong dạy các bài thực hành Sinh học
11.
-Phương pháp tiến hành:
+ Tiến hành thực nghiệm ở các trường THPT khu vực Thị xã Cửa Lò, Nghi
Lộc, Nghệ An. Mỗi trường chọn 2 lớp, một lớp TN và một lớp ĐC.
+ Trong quá trình thực nghiệm chúng tôi có gặp gỡ, dự giờ thăm lớp, trao đổi
và phát phiếu thăm dò để lấy ý kiến của các GV, HS về nội dung nghiên cứu.
+ Tiến hành theo phương pháp thực nghiệm song song.
+ Lớp TN và lớp ĐC có sĩ số gần bằng nhau, trình độ và chất lượng học tập
ngang nhau.
5
+ Lớp thực nghiệm (TN): giáo án thiết kế theo cách sử dụng các biện pháp tích cực
+ Lớp đối chứng (ĐC): giáo án thiết kế theo phương pháp truyền thống.
+ Các lớp TN và ĐC của mỗi trường cùng một giáo viên giảng dạy, đồng đều
về thời gian, nội dung kiến thức, bài kiểm tra đánh giá.
Từ kết quả thu được đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp dạy học
tích cực.
7.5. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán học để xử lý số liệu nghiên cứu.

S
100%
+ Cv = 0 - 10% : dao động nhỏ, độ tin cậy cao.
+ Cv = 10 - 30% : dao động trung bình.
+ Cv = 30 - 100% : dao động lớn, độ tin cậy nhỏ.
Trong đó:
X
i
: giá trị của từng điểm số (theo thang điểm 10)
n
i
: số bài có điểm X
i
n: tổng số bài kiểm tra
- Kiểm định độ tin cậy sai khác giữa 2 giá trị trung bình:
t
d
=
21
2121
.X
nn
nn
S
X
d
+

với S
d

là phương sai của mỗi phương án.
n
i=1
6
Sau khi tính được t
d,
ta so sánh với giá trị t
α
được tra trong bảng phân phối
Studen với mức ý nghĩa α=0,05 và bậc tự do f= n
1
+n
2
-2.
+ Nếu t
d
≥t
α
: Sự khác nhau giữa
1
X

2
X
là có ý nghĩa thống kê.
+ Nếu t
d
< t
α
: Sự khác nhau giữa

Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: “Thực hành là làm để áp dụng thuyết vào
thực tế”. Người ta có thể hiểu TH theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng:
Theo nghĩa hẹp: TH được hiểu là hình thức luyện tập gắn liền với từng bộ
môn, từng chuyên đề. Chúng được tiến hành sau những giờ lý thuyết (thường sau
những bài giảng hoặc một chương, một phần của chương trình bộ môn), với mục
đích rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng tri thức đã học dưới các hình thức: làm bài
tập, bài toán, làm thí nghiệm, quan sát…
Theo nghĩa rộng: được coi là hình thức TH bộ môn. Qua thực hành bộ môn
HS có điều kiện kết hợp học tập với lao động sản xuất theo ngành nghề, với thực
nghiệm và nghiên cứu khoa học.[internet]
1.1.1.2. Khái niệm thực hành sinh học
Như vậy thực hành Sinh học được hiểu chung quy là hình thức luyện tập môn
Sinh học, được tiến hành sau giờ học lý thuyết một bài hoặc một chương, một phần
của môn Sinh học. Với mục đích rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng tri thức đã học
dưới các hình thức như trên, đặc biệt là làm bài tập, quan sát và làm thí nghiệm Sinh
học. Qua đó HS thực hiện được nguyên tắc học đi đôi với hành, vận dụng một cách
sáng tạo tri thức đã học để phục vụ đời sống và liên hệ với thực nghiệm và nghiên
cứu khoa học.
Trong dạy học Sinh học, TH được tiến hành chủ yếu là phương pháp quan sát
và thí nghiệm Sinh học.
Quan sát là phương pháp nghiên cứu các đối tượng và hiện tượng có sẵn trong
tự nhiên.
Thí nghiệm sinh học là gây ra một hiện tượng, một sự biến đổi nào đó trong
điều kiện xác định để tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra hay chứng minh. Thí nghiệm là
8
phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học, vì vậy nó cũng được sử dụng trong
dạy học Sinh học.[16],[17]
1.1.2. Vai trò của TH Sinh học trong dạy học sinh học
“… Không thể hình dung được việc giảng dạy Sinh vật học trong nhà trường
mà lại không có quan sát, không có thí nghiệm học tập.” B.P. Exipốp (trong cuốn

hiện nay của sự nghiệp giáo dục [16],[17]
1.1.3. Các biện pháp sư phạm được sử dụng trong dạy học thực hành
Sinh học
1.1.3.1 Khái niệm biện pháp
Theo từ điển Tiếng Việt thì biện pháp là cách thức xử lí công việc, cách
giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó.
1.1.3.2. Khái niệm biện pháp sư phạm
Biện pháp sư phạm là bao gồm các kĩ thuật dạy học phù hợp với nội dung bài
học, với trình độ nhận thức của HS để nâng cao chất lượng dạy và chất lượng học.
1.1.3.3. Các biện pháp sư phạm
Cụ thể được dùng trong dạy học thực hành Sinh học 11.Bao gồm: câu
hỏi, bài tập; Phiếu học tập (PHT), sơ đồ.
a. Câu hỏi, bài tập
- Khái niệm về câu hỏi:
Những nghiên cứu về bản chất CH đã xuất hiện từ thời triết học cổ Hy
Lạp, Aristotle là người đầu tiên phân tích CH dưới góc độ logic, tư tưởng quan
trọng bậc nhất của ông còn nguyên giá trị đến nay đó là: “Câu hỏi là một mệnh
đề trong đó chứa đựng tất cả cái đã biết và cái chưa biết”.
Khái niệm CH còn được diễn đạt dưới dạng khác nhau như: “Câu hỏi là
dạng cấu trúc ngôn ngữ, diễn đạt một nhu cầu, một đòi hỏi hay một mệnh lệnh
cần được giải quyết”.[32].
-Khái niệm về bài tập:
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2000): “Bài tập là bài
giao cho HS làm để vận dụng những điều đã học được”.
Theo các nhà lý luận học Liên Xô cũ thì: “Bài tập đó là một dạng bài làm
gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi mà
trong khi hoàn thành chúng, HS nắm được một tri thức hay một số kĩ năng nhất
định hoặc hoàn thiện chúng”.
10
Bài tập có thể là một câu hỏi, một thí nghiệm, một bài toán, một bài toán

11
+ Xác định ý nghĩa hay giá trị của kiến thức.
-Vai trò của câu hỏi, bài tập trong dạy học:
Khi CH, BT được GV sử dụng để tổ chức cho HS tìm lời giải thì chúng
được coi là công cụ “mã hóa” nội dung dạy học mà hoạt động tìm câu trả lời của
HS là hoạt động “giải mã”.
Khi xác định mục tiêu bài học, câu hỏi, bài tập góp phần cụ thể hóa mục
tiêu và cũng là phương tiện để thực hiện mục tiêu dạy học, giúp lượng hóa mức
độ đạt được của mục tiêu đề ra, giúp kiểm tra, đánh giá kết quả đạt được của mục
tiêu và điều chỉnh quá trình học tiến tới mục tiêu dạy học. Mục tiêu đặt ra là cái
đích mà HS phải đạt được, là những nội dung học tập mà HS phải lĩnh hội được
cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ, hành vi.
Khi thiết kế CH, BT cho một nội dung dạy học phải bám vào mục tiêu dạy
học để sau khi HS trả lời CH hay giải BT đó cho phép ta có thể định lượng được
mức độ và chất lượng lĩnh hội tri thức của HS. Như vậy, có thể xem CH, BT vừa
là nội dung, vừa là phương tiện, phương pháp, biện pháp tổ chức quá trình dạy
học đạt được mục tiêu.
Đối với một đơn vị kiến thức, cần thiết và sử dụng đồng bộ những CH, BT
ứng với các khâu của quá trình dạy học, từ khâu nghiên cứu tài liệu mới, đến
khâu củng cố hoàn thiện và kiểm tra, đánh giá mức độ, chất lượng lĩnh hội kiến
thức. Các CH, BT đóng vai trò là phương tiện để tổ chức, chỉ đạo hoạt động nhận
thức cho HS. Việc trả lời CH, BT của HS là thể hiện quá trình tư duy tìm tòi,
phát hiện tri thức mới để đạt được những mục tiêu bài học. CH, BT được thiết kế
trong mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp sẽ giúp đánh giá hiệu
quả của quá trình dạy - học. Trên cơ sở đó mà điều chỉnh hoạt động dạy học cho
phù hợp, giúp thực hiện tốt mục tiêu đề ra.
Câu hỏi, bài tập là phương pháp, khi CH, BT được giải quyết sẽ mang lại
kiến thức chủ yếu, nó quyết định giải quyết vấn đề học tập giúp HS tự chiếm lĩnh
kiến thức mới. Có trường hợp CH, BT chỉ hỗ trợ khi kết hợp nó với các phương
tiện dạy học nào đó trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, làm tăng hiệu quả của

dung.[28]
-Vai trò của biện pháp sơ đồ hóa trong dạy- học.
+Đối với giáo viên.
Với đặc trưng riêng của môn Sinh học (môn học nghiên cứu đối tượng sống
bao gồm: nghiên cứu đặc điểm cấu tạo, các quá trình sinh lí,hóa sinh, các mối quan
13
hệ giữa các tổ chức sống với nhau và với môi trường, sự vận động của thế giới sống
qua không gian và thời gian) thì phương pháp chuyển tải bằng sơ đồ thường mang
lại hiểu quả cao. Vì trong quá trình dạy học Sinh học, nếu giáo viên dung sơ đồ để
chuyển tải tri thức thì học sinh không chỉ tiếp thu qua lời giảng của giáo viên mà
còn được tận mắt nhìn một cách tường minh mối quan hệ giữa các nội dung lí
thuyết qua những dấu hiệu trực quan.
Trong quá trình dạy học Sinh học, sử dụng biện pháp sẽ giúp giáo viên:
- Thường xuyên nhận được thong tin liên hệ ngược từ học trò để điều chỉnh
hoạt động dạy học phù hợp và kịp thời.
- Điều chỉnh tối ưu quá trình tư duy của học sinh.
- Nắm bắt nhanh, chính xác năng lực tư duy và trình độ nhận thức của học
sinh,từ đó đưa ra những biện pháp giúp đỡ phù hợp.
- Phát hiện kịp thời những học sinh tiến bộ rõ rệt hoặc sút kém đột ngột để có
biện pháp động viên hoặc kịp thời giúp đỡ.
+ Đối với học sinh.
Trong quá trình học, biện pháp sơ đồ hóa mang lại hiệu quả cơ bản sau:
- Đây là một trong những biện pháp giúp học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo,
thực hiện các thao tác tư duy và biện pháp logic, đồng thời rèn luyện kĩ năng độc
sách và tự nghiên cứu tài liệu sách giáo khoa.
- Góp phần nâng cao nhu cầu nhận thức và tinh thần trách nhiệm của học sinh
trong học tập.
- Bên cạnh giúp học sinh lĩnh hội được tri thức, sơ đồ hóa còn giúp học sinh
có được phương pháp tái tạo kiến thức cho bản than, rèn luyện cho học sinh biết
cách tự tìm kiếm tri thức,phát triển năng lực tự học để có thể học suốt đời.

PHT có ưu thế hơn câu hỏi, bài tập ở chỗ khi muốn xác định một nội dung
kiến thức nào đó thỏa mãn nhiều tiêu chí hoặc xác định nhiều nội dung từ các
tiêu chí khác nhau, nếu diễn đạt bằng câu hỏi thì dài dòng. Ta có thể thay bằng
một bảng có các tiêu chí thuộc các cột, các hàng khác nhau. HS căn cứ vào tiêu
chí ở cột và hàng để tìm ý điền vào ô trống cho phù hợp. Như vậy giá trị lớn nhất
của PHT là với một nhiệm vụ học tập phức tạp được định hướng rõ ràng, diễn đạt
ngắn gọn bằng một bảng gồm có các hàng, cột ghi rõ các tiêu chí cụ thể.
Trong dạy học truyền thống, giáo viên là trung tâm hoạt động, trong một
giờ học hoạt động của giáo viên chiếm phần lớn, giáo viên trình bày giảng giải,
15
làm thí nghiệm, biểu diễn phân tích, tổng hợp minh họa…Còn HS ngồi nghe, ghi
chép, nhìn quan sát một cách thụ động, khi giáo viên nêu những câu hỏi thì HS
trả lời, nhưng chỉ có một vài HS được hoạt động vì thời gian có hạn, còn hầu hết
HS khác ngồi nghe câu trả lời của các bạn, của giáo viên. Vì vậy không được
hoạt động, không được rèn luyện kĩ năng, bộc lộ kĩ năng hoạt động, ảnh hưởng
tích cực hoạt động của HS. Giáo viên chỉ đánh giá thông qua gọi kiểm tra và ở
một số HS hay trả lời câu hỏi.
Bằng việc sử dụng các PHT, chuyển hoạt động của GV từ trình bày, giảng
giải, thuyết minh sang hoạt động hướng dẫn, chỉ đạo. Mọi HS được tham gia
hoạt động tích cực, không còn hiện tượng thụ động nghe giảng.
Như vậy bằng việc hoàn thành PHT, HS tự đánh giá được hoạt động tích
cực, tạo được hứng thú trong giờ học, kích thích tư duy của HS.
Khi dùng PHT, giáo viên có thể kiểm soát đánh giá được trình độ của HS
và từ đó có những điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với đối tượng và tăng hiệu
quả dạy học.[10]
*Cấu trúc phiếu học tập:
- Thành phần cấu tạo của PHT:
Về giá trị dạy học, thì PHT là tài liệu hướng dẫn học, nghĩa là hướng dẫn
HS trình tự thực hiện các thao tác, để tìm ra được kết quả học tập. Do vậy thành
phần cấu tạo của PHT phải là:

Thầy (cô)có lập kế hoạch giáo
dục không?
30 100 00 00 00 00
2
Thầy (cô)có thực hiện kế hoạch
giáo dục không?
30 100 00 00 00 00
3
Thầy (cô)có dạy các thực hành
ở mức độ nào?
25 83.33 5 16.67 00 00
Bảng 1.2. Điều tra về nguyên nhân dẫn đến hạn chế của việc
thực hiện dạy học thực hành
STT Nội dung
Ý kiến
Đồng ý
Không
đồng ý
Ý kiến
khác
SL TL% SL TL% SL TL%
1 Thiếu thiết bị thực hành 25 83.33 00 00 5 16.67
2
Thời gian tiết học quá ngắn để
dạy một bài thực hành
30 100 00 00 00 00
3 Thói quen và trình độ còn hạn chế 20 66.67 10 33.33 00 00
4
Chưa xác định được phương
pháp dạy phù hợp

Do thói quen của GV 2 6,67
Do trình độ và thói quen
của HS
1 3,33
Do SGK 3 10,00
Do thiếu phương tiện dạy
học
15 50,00
Do quỹ thời gian hạn chế
của tiết học
5 16,66
Do chưa hiểu rõ bản chất
của phương pháp này
2 6,67
3
Theo thầy cô nếu sử dụng
tôt nhóm các biện pháp
trong dạy học thực hành
thì sẽ đưa lại những kết
quả nào cao nhất trong
các mặt giáo dục sau?
Phát triển năng lực tư duy
logic của HS
6 20,00
Kích thích hứng thú học
tập, khả năng nghiên cứu
độc lập của HS
20 66,66
Rèn luyện tính tích cực tự
giác, sáng tạo của HS


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status