Rèn luyện kĩ năng mềm cho học sinh THPT qua dạy học văn học nước ngoài - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THIẾT HÙNG

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC SINH THPT
QUA DẠY HỌC VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THIẾT HÙNG
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC SINH THPT
QUA DẠY HỌC VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
Chuyên ngành: LL & PPDH bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số: 60. 14. 01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN VĂN HẠNH
NGHỆ AN - 2014
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 13
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 13
5. Phương pháp nghiên cứu 14
6. Cấu trúc của luận văn 14
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1. Tính cần thiết của kỹ năng mềm đối với học sinh THPT 15
1.1.1. Khái niệm kỹ năng mềm

2.2.4. Ứng dụng công nghệ thông tin và hoạt động ngoại khóa
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1. Mục đích, yêu cầu của hoạt động thực nghiệm 70
3.1.1. Mục đích thực nghiệm
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm
3.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 70
3.2.1. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
3.2.2. Thời gian thực nghiệm
3.3. Thiết kế giáo án thực nghiệm 72
3.3.1. Giáo án TN1: (Tiết 44)
3.3.2. Giáo án TN 2: (Tiết 65 - 66)
3.3.3. Giáo án TN 3: (Tiết 80 - 81)
3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm 93
3.4.1. Nội dung thực nghiệm
3.4.2. Hình thức thực nghiệm
3.4.3. Kết quả thực nghiệm
3.4.4. Đánh giá chung
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 111
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT : Công nghệ thông tin
ĐC : Đối chứng
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
KNM : Kỹ năng mềm
KNS : Kỹ năng sống
Nxb : Nhà xuất bản

đối chứng 97
Bảng 3.2. Mức độ nhận thức KNM của HS ở lớp TN và lớp ĐC 97
Biểu đồ 3.1. So sánh kết quả mức độ nhận thức kỹ năng mềm của HS ở lớp TN và lớp ĐC
98
Bảng 3.3. Bảng kết quả điểm số bài kiểm tra kỹ năng mềm của học sinh lớp thực nghiệm
và lớp đối chứng 99
Bảng 3.4. Mức độ nhận thức KNM của HS ở lớp TN và lớp ĐC 99
Biểu đồ 3.2. So sánh kết quả mức độ nhận thức kỹ năng mềm của HS ở lớp TN và lớp ĐC
100
Bảng 3.5. Bảng kết quả điểm số bài kiểm tra KNM của học sinh lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng 101
Bảng 3.6. Mức độ nhận thức KNM của HS ở lớp TN và lớp ĐC 101
Biểu đồ 3.3. So sánh kết quả mức độ nhận thức kỹ năng mềm của HS ở lớp TN và lớp ĐC
101
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Con người đang đối diện với những thách thức to lớn từ môi trường sống của
mình. Giáo dục cần phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã
hội, đào tạo con người vừa có nhân cách đạo đức, tri thức khoa học, vừa có kỹ
năng làm việc. Tuy nhiên, trên thực tế, việc rèn luyện kỹ năng mềm (KNM) ở
trường trung học phổ thông (THPT) vẫn còn nhiều bất cập.
1.2. Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn,
bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh năng lực sử dụng
tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn chương, môn Ngữ văn còn giúp học sinh có
được những hiểu biết về xã hội, văn hóa, lịch sử, đời sống nội tâm của con
người. So với nhiều môn học khác, môn Ngữ văn, trong đó có văn học nước
ngoài, có ưu thế trong việc rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh.
1.3. Xuất phát từ những nhận thức nói trên, chúng tôi lựa chọn đề tài
Rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh THPT qua dạy học văn học nước ngoài

2010-2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức đưa giáo dục kỹ năng sống
(KNS) vào chương trình giảng dạy trong nhà trường trên phạm vi cả nước,
nhằm cụ thể hóa mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục đã được nêu
trong Luật giáo dục (2005), sửa đổi, bổ sung 2009. Về mục tiêu chung của
giáo dục được quy định tại khoản 2 như sau: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,
8
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” [47]. Mục tiêu
của giáo dục phổ thông được quy định rõ tại khoản 1, điều 27 như sau: “Mục
tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh
tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc” [47].
Về nội dung, khoản 1, điều 5 quy định: “Nội dung giáo dục phải bảo
đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo
dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp,
bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự
phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học” [47]. Về phương pháp,
khoản 2, điều 5 quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học
năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.”
[47]. Cuốn Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và
trường phổ thông có nhiều cấp học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày
28 tháng 3 năm 2011 cũng quy định về các hoạt động giáo dục tại khoản 1,
điều 26 như sau: “Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên
lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về

trong nhà trường phổ thông như quan niệm về kỹ năng sống, phân loại kỹ
năng sống, tầm quan trọng của kỹ năng sống, định hướng giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh. Ở phần này, các tác giả đã chỉ ra mục tiêu, khả năng, nội
dung và một số bài minh họa.
10
Trong cuốn Giáo dục giá trị và kỹ năng sống cho học sinh trung học
phổ thông, các tác giả đã trình bày một số vấn đề chung về kỹ năng sống như
tìm hiểu các nhóm kỹ năng, tìm hiểu những kỹ năng sống nào hình thành ở
học sinh, tìm hiểu nội dung giáo dục của một số kỹ năng sống, phân loại kỹ
năng sống, nội dung giáo dục của một số kỹ năng sống, phương pháp tổ chức
hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT. Trong cuốn Hoạt động
giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THPT các tác giả trình bày
một số vấn đề lý luận cơ bản trong giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống; đặc
điểm phát triển tâm sinh lý của học sinh trung học, phương pháp giáo dục giá
trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học…
Ngoài những cuốn sách đã dẫn, trên các trang báo điện tử đã xuất hiện
một số bài viết ít nhiều có đề cập đến việc rèn luyện kỹ năng mềm cho học
sinh. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, chưa có một tài liệu mang tính
chuyên sâu bàn về rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh THPT qua dạy học
văn, trong đó có văn học nước ngoài.
Trong số những tài liệu bàn về dạy học văn học nước ngoài ở trường
phổ thông mà chúng tôi bao quát được, các tác giả chủ yếu bàn về nguyên tắc,
phương pháp tiếp nhận các văn bản văn học nước ngoài. Năm 1986, khi bàn
về vấn đề dạy học văn học nước ngoài theo đặc trưng thể loại, Nguyễn Văn
Hạnh trong bài Tiếp cận sử thi Ramayana từ những đặc trưng thể loại (Tạp
chí Văn học nước ngoài, số 2/1986) đã xem việc tiếp nhận văn bản văn học
theo đặc trưng thể loại là một nguyên tắc cơ bản. Nếu xa rời đặc trưng thể loại
việc phân tích một tác phẩm sử thi cổ đại cũng như phân tích một truyện cổ
tích, phân tích một tiểu thuyết, nó làm tầm thường hóa, dung tục hóa tác
phẩm. Với định hướng đó, tác giả đã gợi mở một số vấn đề trong tiếp nhận và

các giờ học chính khóa. Trong số đó, đáng chú ý là Luận văn của Nguyễn
12
Chính Thành với đề tài Rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh Trung học cơ sở
qua dạy học văn học nước ngoài (Trường Đại học Vinh, tháng 10/2013).
Trong Luận văn của mình, Nguyễn Chính Thành đã đề cập đến một số vần đề
lý luận và thực tiễn của việc rèn luyện kỹ năng mềm qua dạy học văn ở các
trường Trung học cơ sở. Từ đó, đề xuất một số nguyên tắc, phương pháp, mà
theo tác giả là cần thiết, hữu ích cho việc rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh
Trung học cơ sở qua dạy học văn học nước ngoài.
Điểm lại một số công trình, bài viết ít nhiều có liên quan đến phạm vi
khảo sát của đề tài, chúng tôi nhận thấy, cho đến này chưa có một công trình
nghiên cứu chuyên biệt nào bàn về phương pháp tích hợp rèn luyện kỹ năng
mềm cho học sinh THPT qua dạy học văn học nước ngoài. Tuy nhiên, đó đây
đã có những ý kiến mang tính gợi mở để chúng tôi đi sâu nghiên cứu một
cách có hệ thống về những cơ sở, nguyên tắc và phương pháp rèn luyện kỹ
năng mềm cho học sinh THPT qua dạy học văn học nước ngoài.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát phân tích và đề xuất
những giải pháp rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh THPT qua dạy học văn
học nước ngoài.
3.2. Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:
Thứ nhất, phân tích những cơ sở lý luận, thực tiễn để tích hợp rèn luyện
kỹ năng mềm cho học sinh THPT qua dạy học văn học nước ngoài.
Thứ hai, đề xuất một số nguyên tắc, phương pháp rèn luyện kỹ năng
mềm cho học sinh THPT qua dạy học văn học nước ngoài.
Thứ ba, trên cơ sở đó đề xuất một số thực nghiệm sư phạm.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ chế tiếp nhận của học sinh
THPT, đặc trưng, khả năng của phân môn văn học nước ngoài trong việc rèn
luyện kỹ năng mềm cho học sinh.

ở cấp độ quốc tế, nhân loại, buộc con người phải có phương pháp giải quyết
hữu hiệu. Điều đó đòi hỏi con người cần phải có kỹ năng mềm, thích ứng cao
với sự biến đổi của hoàn cảnh và môi trường sống hiện đại.
Kỹ năng mềm là một khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi
lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội. Ngay những năm đầu của thập kỷ 90, các tổ chức Liên Hợp Quốc
(LHQ) như WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF (Quỹ cứu trợ Nhi đồng
LHQ), UNESCO (Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa LHQ) đã chung
sức xây dựng chương trình giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên. Tuy
nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi
thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử
hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày. Trong khi
đó, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) quan niệm KNS là cách tiếp cận
giúp thay đổi và hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân
bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng. Theo Tổ chức Giáo
dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO), KNS gắn với bốn trụ
cột của giáo dục, đó là: Học để biết (Learning to know) gồm các kỹ năng tư
15
duy phê phán, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, ra quyết định, nhận thức
được hậu quả …; căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin, ; Học
để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kỹ năng xã hội
như: giao tiếp, thương lượng, hợp tác, tự khẳng định, làm việc theo nhóm, thể
hiện sự cảm thông; Học làm người (Learning to be) gồm các kỹ năng cá nhân
như kỹ năng ứng phó với căng thẳng, kiểm soát nhận thức, …; Học để làm
(Learning to do) gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như
kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm, …
Phân tích các quan niệm trên, có thể thấy, quan niệm của WHO nhấn
mạnh đến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích
nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình. Quan

về cảm xúc của mình, kiềm chế và kiểm soát cảm xúc, điều chỉnh cảm xúc bản
thân,…), kỹ năng xã hội (Giao tiếp - ứng xử, tạo thiện cảm, làm việc nhóm, ).
Theo UNESCO kỹ năng mềm chia thành 2 nhóm: Nhóm thứ nhất bao
gồm các kỹ năng: kỹ năng nhận thức, kỹ năng thể hiện cảm xúc, kỹ năng giao
tiếp, … (kỹ năng xã hội); Nhóm thứ hai gồm: nhận thức về giới tính, nhận thức
về sức khỏe, nhận thức các mối quan hệ xung quanh, … (kỹ năng chuyên biệt)
Theo UNICEF chia kỹ năng mềm thành 3 nhóm: nhóm thứ nhất là kỹ
năng tự nhận thức và sống với chính mình gồm các kỹ năng như: tự nhận thức
và đánh giá bản thân, kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc đời, kỹ năng bảo vệ
bản thân…; nhóm thứ hai: kỹ năng tự nhận thức và sống với người khác, bao
gồm các kỹ năng như: kỹ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng
làm việc nhóm…; nhóm thứ ba: kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả
bao gồm các kỹ năng như: phân tích vấn đề, nhận thức thực tế, ra quyết định,
ứng xử, giải quyết vấn đề…
17
Trong giáo dục ở Vương quốc Anh, kỹ năng mềm được chia làm 6
nhóm chính, là: hợp tác nhóm; tự quản; tham gia hiệu quả; suy nghĩ, tư duy,
bình luận, phê phán; suy nghĩ sáng tạo; nêu vấn đề và giải quyết vấn đề.
Trong khi đó, tổ chức WHO lại chia kỹ năng mềm thành 5 nhóm lớn là: kỹ
năng giao tiếp; kỹ năng nhận thức; kỹ năng xác định giá trị; kỹ năng ra quyết
định; kỹ năng ứng phó và xử lí căng thẳng. Trong mỗi nhóm kỹ năng lớn này
lại chia thành nhiều kỹ năng nhỏ khác. Chẳng hạn, kỹ năng giao tiếp gồm các
kỹ năng sau: thông cảm, lắng nghe tích cực, bày tỏ và tiếp thu ý kiến, giao
tiếp có lời và không lời, tự khẳng định và từ chối, thương lượng và xử lí mâu
thuẫn, hợp tác và làm việc tập thể, thiết lập mối quan hệ và xây dựng cộng
đồng. Hay như kỹ năng tự nhận thức lại gồm các kỹ năng sau: tự đánh giá,
xác định những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, suy nghĩ tích cực, hình
thành khả năng tự nhận thức về bản thân và cơ thể.
Ở nước ta, trong giáo dục, kỹ năng mềm được phân thành 3 nhóm lớn
dựa theo mối quan hệ. Nhóm thứ nhất là nhóm kỹ năng nhận biết và sống với

+ Sự tự nhận thức được năng lực của bản thân và vị trí của mình trong
cộng đồng dẫn đến lòng tự trọng, tự tin.
+ Việc rèn luyện khả năng tự nhận thức, thúc đẩy và phát triển lòng tự
tin, tự trọng là cần thiết trong việc giáo dục kỹ năng mềm.
Đây là một kỹ năng cơ bản của con người, là nền tảng để con người
giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác, có khả năng cảm
thông, chia sẻ với người khác.
- Kỹ năng kiểm soát cảm xúc
Kỹ năng kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm
xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được những ảnh hưởng
của cảm xúc đối với bản thân mình và người khác như thế nào, đồng thời biết
19
cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp. Kỹ năng xử lí cảm
xúc còn có nhiều tên gọi khác nhau, như: xử lí cảm xúc, làm chủ cảm xúc,
quản lí cảm xúc.
Một người biết kiểm soát cảm xúc sẽ góp phần giảm căng thẳng, giúp
giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn
đề tốt hơn.
Kỹ năng xử lí cảm xúc cần sự kết hợp với kỹ năng nhận thức, kỹ năng
ứng xử với người khác và kỹ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thời góp
phần củng cố các kỹ năng này.
- Kỹ năng ứng phó với căng thẳng
Kỹ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn
sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như một phần tất yếu của cuộc
sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả
của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi
bị căng thẳng. Kỹ năng này có được là nhờ sự kết hợp với các kỹ năng khác,
như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng giao tiếp, kỹ
năng giải quyết vấn đề.
- Kỹ năng giao tiếp

giải quyết cả mối quan hệ giữa các bên một cách hòa bình. Kỹ năng này là
một dạng đặc biệt của kỹ năng giải quyết vấn đề. Kỹ năng này nên kết hợp
cùng với các kỹ năng giao tiếp, tự nhận thức, ra quyết định, …
- Kỹ năng hợp tác
Sự hợp tác giúp moi người bổ sung hỗ trợ cho nhau tạo nên sức mạnh
trí tuệ, tinh thần và thể chất vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng hiệu quả
cao trong công việc.
Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam
kết và cùng làm việc chung có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm.
21
Biểu hiện của người có kỹ năng hợp tác:
+ Tôn trọng mục đích hoạt động, quyết định chung
+ Biết giao tiếp, đoàn kết, cảm thông, chia sẻ, hỗ trợ…
+ Nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của bản thân
+ Cùng đồng cam cộng khổ và có trách nhiệm với kết quả chung
Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều kỹ
năng mềm khác như: tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, kiên định, ứng
phó căng thẳng, …
- Kỹ năng giải quyết vấn đề
Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa
chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết
vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống. Giải quyết vấn đề có liên
quan tới kỹ năng ra quyết định, giao tiếp, tư duy sáng tạo, kiên định,
Kỹ năng giải quyết vấn đề rất quan trọng, giúp con người có thể ứng
phó tích cực và hiệu quả trước những vấn đề, tình huống của cuộc sống.
- Kỹ năng kiên định
Trong cuộc sống, mỗi người đều có thể gặp những tình huống đòi hỏi
phải ra quyết định để yêu cầu người khác làm một điều gì đó cho mình hoặc
bản thân phải nhận lời hay từ chối một điều nào đó mà người khác yêu cầu.
Tuy nhiên không phải ai cũng có thể thực hiện được những điều ấy một cách

Kỹ năng tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề
theo một cách mới, với ý tưởng mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả
năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan
điểm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ. Đây là một kỹ năng quan trọng vì trong
cuộc sống con người thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc
ngẫu nhiên xảy ra. Khi gặp những hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta phải có
tư duy sáng tạo để ứng phó một cách linh hoạt và phù hợp.
23
- Kỹ năng quản lí thời gian
Kỹ năng quản lí thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công
việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm
trong một thời gian nhất định. Kỹ năng này là một trong những kỹ năng quan
trọng trong nhóm kỹ năng làm chủ bản thân. Quản lí thời gian tốt góp phần
rất quan trọng vào sự thành công của cá nhân và nhóm.
- Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin
Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin là một kỹ năng quan trọng giúp
con người có thể có được những thông tin cần thiết một cách đầy đủ, khách
quan, chính xác, kịp thời.
Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin cần kết hợp với kỹ năng tư duy phê
phán và kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ.
1.2. Những đặc điểm nổi bật của học sinh trung học phổ thông
1.2.1. Đặc điểm tâm, sinh lý
Học sinh THPT nằm trong khoảng tuổi từ 15 đến 18. Đây là giai đoạn
đã trưởng thành về mặt thể lực, nhưng phát triển còn chưa vững chắc, các em
bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý. Sự phát triển của hệ
thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức
tạp và các chức năng của não phát triển, cấu trúc của tế bào bán cầu đại não
có những đặc điểm như cấu trúc tế bào não của người lớn, số lượng dây thần
kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần khác nhau của võ não. Điều đó tạo
tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp của võ

cách của học sinh THPT. Nó có ý nghĩa to lớn đối với phát triển tâm lý của
các em. Học sinh THPT có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm
lý của mình: quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và
25

Trích đoạn Tích hợp trong giờ đọc hiểu văn bản Phương pháp thuyết trình Phương pháp vấn đáp, đàm thoại Phương pháp hoạt động nhóm Ứng dụng công nghệ thông tin và hoạt động ngoại khóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status