BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ MAI HUỲNH
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG MỀM CHO
HỌC SINH TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP
QUA DẠY HỌC VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN VĂN VÀ TIẾNG VIỆT
MÃ SỐ: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN HẠNH
NGHỆ AN, 2014
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
1 TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
2 VHNN : Văn học nước ngoài
3 KNS : Kỹ năng sống
4 HS : Học sinh
5 GV : Giáo viên
6 SGK : Sách giáo khoa
7 SGV : Sách giáo viên
8 PPDH : Phương pháp dạy học
9 THCS : Trung học cơ sở
10 THPT : Trung học phổ thông
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Hệ thống trường Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) không chỉ dạy
các kỹ năng nghề mà còn dạy các môn văn hóa nhằm trang bị cho người học
những tri thức toàn diện. Trong đó, môn văn giữ vai trò quan trọng trong việc
tài liệu này người biên soạn nhằm giúp cho giáo viên tiểu học có thêm hiểu
biết chung về KNS và nội dung, cách thức giáo dục KNS cho học sinh qua
các môn học Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học. Cũng đi theo hướng đó là cuốn
Giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS
[37]. Cuốn sách này biên soạn nhằm giúp giáo viên THCS có thêm hiểu biết
chung về kỹ năng sống và nội dung, cách thức giáo dục KNS cho học sinh.
Các cuốn Bài tập thực hành kỹ năng sống 6 [47] , Bài tập thực hành kỹ năng
sống 7 [48], Bài tập thực hành kỹ năng sống 8 [49], Bài tập thực hành kỹ
năng sống 9 [50] của Lưu Thu Thủy chủ biên định hướng cho học sinh rèn
luyện các kỹ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi. Đặc biệt, nhóm tác giả
còn thiết kế những dạng bài tập nhẹ nhàng, phong phú, đa dạng để giúp các
em rèn luyện KNS có hiệu quả qua các giờ học.
Ngoài những cuốn sách kể trên, còn có nhiều bài báo liên quan đến
vấn đề giáo dục KNS cho lứa tuổi học sinh. Cụ thể, bài viết Chương trình
giáo dục kỹ năng sống trong thực tiễn đổi mới giáo dục hiện nay của Tiến sĩ
Trần Anh Tuấn [58] đã nói đến việc triển khai chương trình giáo dục kỹ năng
sống được đưa vào trường học vào năm 2010-2011 và đưa ra một số nội
dung, biện pháp cơ bản về giáo dục kỹ năng sống ở trường phổ thông; tác giả
Phan Thanh Vân có bài viết Tích hợp mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp [64], đề cập đến vấn đề giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh phổ thông theo quan điểm giáo dục tích hợp, đặc biệt
là hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; trên Tạp chí Giáo dục có bài Một số
điểm hạn chế trong kỹ năng sống của sinh viên các trường đại học tại thành
phố Hồ Chí Minh của Huỳnh Văn Sơn [43] cho rằng: “việc trang bị những kỹ
năng sống cho sinh viên trước khi họ bước vào đời là một việc làm hết sức
3
cấn thiết”, đồng thời tác giả đã đưa ra những điểm hạn chế còn tồn tại trong
kỹ năng sống của sinh viên, từ đó đề xuất một số giải pháp để công tác giáo
dục kỹ năng sống có hiệu quả; cũng theo hướng đó, Trần Minh Hằng trong
bài Giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên hiện nay [7] đã đề cập đến một số
giảng viên đại học, Tạ Quang Thảo có bài Phát triển kỹ năng mềm cho sinh
viên các trường đại học, cao đẳng, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
trong giai đoạn hiện nay [45] cho rằng, trong quá trình tuyển dụng lao động,
ngoài kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm cần được các nhà tuyển dụng coi
trọng, nó trở thành đòi hỏi tất yếu đối với các trường đại học, cao đẳng trong
quá trình đào tạo.
2.2. Những ý kiến bàn về rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh qua
giờ dạy, học văn học
Rèn luyện kỹ năng mềm qua giờ dạy, học văn thực chất là lồng ghép
hay tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào bài học. Điều này đã ít nhiều được
thể hiện qua một số công trình, bài viết. Trong cuốn Giáo dục kỹ năng sống
trong môn Ngữ văn ở trường THCS [38], các tác giả đã định hướng cho giáo
viên những hiểu biết chung về kỹ năng sống và nội dung, cách thức giáo dục
KNS cho học sinh trong môn Ngữ văn ở trường THCS. Trong cuốn Giáo dục
kỹ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THPT [39], các tác giả đã chia
thành hai phần: Phần thứ nhất là một số vấn đề chung về KNS cho HS ở trong
nhà trường phổ thông. Nội dung cơ bản của phần này gồm: Quan niệm về kỹ
năng sống, phân loại kỹ năng sống, tầm quan trọng của việc giáo dục KNS
cho HS và định hướng giáo những giáo dục KNS cho học sinh. Phần hai là
giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường THPT. Nội dung cơ bản của phần
hai các tác giả đi vào phân tích khả năng, mục tiêu giáo dục KNS cho HS
trong môn Ngữ văn ở trường THPT, giới thiệu một số nội dung và địa chỉ các
tiết học/bài học tiêu biểu có thể thực hiện giáo dục KNS cho từng lớp, một số
bài soạn tham khảo về giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường THPT. Bài
viết Tích hợp giáo dục những vấn đề khoa học xã hội – nhân văn trong dạy
học Ngữ văn của Vũ Thị Thịnh [46] cho rằng tích hợp giáo dục chủ yếu trong
môn Ngữ văn là tích hợp trong và tích hợp ngoài bộ môn hay là tích hợp theo
5
chiều ngang và tích hợp theo chiều dọc. Theo bài viết, việc tích hợp giáo dục
ngoài môn Ngữ văn chưa được chú ý đúng mức cả về nội dung và phương
Thứ ba, thiết kế một số giáo án thể nghiệm.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ chế tâm, sinh lý và quá trình rèn
luyện kỹ năng mềm cho học sinh TCCN trong dạy học văn học nước ngoài ở
trường TCCN.
Phạm vi khảo sát là phần văn học nước ngoài trong chương trình môn
văn trường TCCN và thực tế giảng dạy ở một số trường TCCN ở thành phố
Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp lý
thuyết và thực nghiệm khoa học.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2. Một số kỹ năng mềm cơ bản và nguyên tắc, phương pháp
rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh TCCN qua dạy học văn học nước ngoài.
Chương 3. Giáo án thể nghiệm
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Mục tiêu giáo dục TCCN
Giáo dục luôn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất
nước. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định phát triển
giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhằm “đào tạo con người Việt Nam phát triển
toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành
với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng
nhân cách, phẩm chất, năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ Quốc.”[31,6]. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ,
Theo Luật giáo dục, hệ “Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến
bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai
năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.”[31,21]. Mục
tiêu của giáo dục chuyên nghiệp là “đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề
nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều
kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp
tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế- xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.”[31,21]. Trong đó, mục
tiêu của TCCN được xác định là “đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ
năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính
sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc.” [31,22 ]. Như vậy có thể thấy,
rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh TCCN là đòi hỏi khách quan của thực
tiễn đời sống, được luật hóa trong mục tiêu giáo dục.
1.1.2. Sự cần thiết của kỹ năng mềm cho học sinh TCCN
Ngày nay trình độ học vấn và các bằng cấp chưa đủ để quyết định
trong việc tuyển dụng lao động. Các nhà tuyển dụng còn dựa vào các yếu tố
cá nhân như: kỹ năng, sự nhạy bén trong xử lý công việc và giao tiếp của mỗi
người lao động, các yếu tố này được người ta gọi là “kỹ năng mềm”. Thực tế
9
cho thấy, hiện nay các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng hay đại học
chuyển tải rất nhiều kiến thức cho học sinh, sinh viên, nhưng khi ra trường
phần lớn họ phải đào tạo lại hoặc làm trái ngành nghề đã chọn, người học gặp
nhiều khó khăn khi tìm việc. Có rất nhiều nguyên nhân cho vấn đề này, trong
đó việc học sinh ra trường còn thiếu hụt kỹ năng mềm là nguyên nhân chủ
yếu. Thực tế cho thấy người thành đạt chỉ có 25% là do kiến thức chuyên
môn, còn 75% được quyết định bởi những kỹ năng mềm mà họ được trang bị.
Thực tế đó cho thấy bên cạnh kiến thức chuyên môn được đào tạo
chính quy, học sinh, sinh viên cần phải trang bị cho mình một số kỹ năng
mềm, như: giao tiếp, làm việc nhóm, quản lý xung đột và khủng hoảng, làm
Với những đặc điểm tâm sinh lý đó, có thể thấy đây là lứa tuổi các em
có cơ thể phát triển cân đối, hài hòa và đẹp nhất, nhạy cảm với cái mới, có
khả năng tiếp nhận cái mới.
1.1.3.2. Sự phát triển nhân cách, trí tuệ của học sinh TCCN
Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển
nhân cách của thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát
triển tâm lí ở lứa tuổi thanh niên.
Sự phát triển tự ý thức của học sinh TCCN có một số đặc điểm sau:
Đầu tiên là ý thức về hình ảnh cơ thể. Ngay từ tuổi thiếu niên các em đã chú ý
đến hình dáng bên ngoài của mình và đến tuổi thanh niên các em vẫn còn chú
ý. Thái độ này được duy trì trong suốt thời kì thanh niên. Thứ hai là khả năng
tự đánh giá bản thân. Cũng như thiếu niên, thanh niên khao khát muốn biết họ
là người như thế nào? có năng lực gì ? Vì vậy tự đánh giá là một nét tâm lí
điển hình của lứa tuổi này. Cuối cùng là tính tự trọng. Đây là một trong những
tính cách nổi bật của tuổi thanh niên so với các lứa tuổi khác. Mức độ tự trọng
ở thanh niên có từ mức độ cao và mức độ thấp. Tự trọng cao là sự đánh giá
đúng mức về bản thân, biết bảo vệ danh dự của mình một cách phù hợp trong
hoàn cảnh cụ thể. Tính tự trọng thấp là sự coi thường, thiếu tin tưởng vào bản
thân, tự hạ thấp mình. Những thanh niên có tính tự trọng thấp thường gặp
nhiều khó khăn trong giao tiếp và cản trở sự phát triển nhân cách của lứa tuổi
này. Cách tốt nhất để giúp những thanh niên này không phải là phê phán họ
11
mà cần tổ chức cho họ hoạt động và giao tiếp, để thông qua đó chúng có thể
trãi nghiệm thực tế. Bằng con đường tự trải nghiệm họ sẽ có thái độ đúng đắn
về bản thân mình.
Sự phát triển trí tuệ ở học sinh TCCN gần giống như học sinh phổ
thông trung học. Lúc này trí tuệ của học sinh TCCN có tính chủ định được
phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức. Về tri giác, thanh niên có độ
nhạy cảm cao, tri giác có mục đích đạt tới mức độ rất cao. Quan sát trở nên có
hệ thống và toàn diện hơn. Thanh niên có thể điều khiển được hoạt động của
với các lứa tuổi trước đó. Sự chuyển đổi đó được thể hiện trong quan hệ gia
đình và xã hội.
Trước tuổi thanh niên, hầu hết các hoạt động đều được điều khiển,
quản lí và kiểm soát của người lớn. Khi các em gặp sự cố trong quan hệ,
thường có sự can thiệp trực tiếp của ông bà, cha mẹ; đồng thời họ sẽ quyết
định hành vi của các em. Nhưng sang tuổi thanh niên vấn đề đã thay đổi,
thanh niên được tự quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống của mình, ngay cả các
vấn đề quan trọng như chuyện học hành, tình yêu, chọn ngành nghề Sự can
thiệp của người lớn không còn có ý nghĩa quyết định như các giai đoạn trước.
Nếu nghỉ học, các em phải làm một nghề nào đó để kiếm sống, hoặc phụ giúp
cha mẹ chăm sóc nhà cửa, chăm lo các em. Ở những gia đình neo đơn hoặc
khó khăn, các em phải đảm nhận trách nhiệm như là trụ cột trong gia đình.
Trong quan hệ xã hội, tuổi thanh niên được đánh dấu bởi sự xuất hiện
vai trò mới - vai trò của một công dân, điều mà trước đó chưa có ở thiếu niên.
Ví như gia nhập Đoàn thanh niên, được cấp giấy chứng minh nhân dân, được
hưởng quyền lợi và trách nhiệm dân sự, quyền bầu cử và ứng cử, quyền kết
hôn. Một số bộ phận sau khi học xong THCS, THPT hoặc các trường nghề đã
tham gia vào guồng máy lao động sản xuất của xã hội, tự lập về kinh tế.
Những điều đó giúp thanh niên xác lập được địa vị xã hội mới - địa vị của
người trưởng thành.
1.1.3.4. Hoạt động giao tiếp của học sinh TCCN
Giao tiếp của học sinh TCCN được thể hiện rõ nhất là giao tiếp với
gia đình và bạn bè, xã hội. Trong giao tiếp ở gia đình, quan hệ dựa dẫm, phụ
13
thuộc vào cha mẹ của các em trước đó đã dần dần được thay thế bằng quan hệ
bình đẳng, tự lập. Các em không còn thích làm nũng, không quấn quýt mà đòi
được thức khuya, ăn mặc, sinh hoạt theo ý thích. Nhiều lúc các em cảm thấy
thất vọng, ấm ức vì cho rằng cha mẹ chưa nhận thấy các em đã lớn, vẫn coi là
trẻ con, cha mẹ không cho các em thể hiện được những suy nghĩ, tâm tư tình
cảm của mình, các em không còn tâm sự với cha mẹ nhiều như hồi còn bé.
khiếm khuyết. Một là, về chất lượng lao động “rất hạn chế về trình độ chuyên
môn nghề nghiệp, kỹ năng lao động, thể lực và văn hóa lao động công
nghiệp.”[20,30]. Đại bộ phận lao động nước ta chưa được đào tạo đầy đủ, số
người đào tạo chiếm tỉ lệ thấp. Ngoài ra người lao động Việt Nam còn hạn
chế về thể lực. Hai là, “lao động phổ thông dư thừa, lao động kỹ thuật thiếu
chuyên gia thì rất hiếm” [20,30]. Nhìn chung nền kinh tế quốc dân còn thiếu
nhiều lao động và cán bộ có tay nghề và trình độ kỹ thuật - nghiệp vụ cao, đặt
biệt ở các thành phố lớn, nơi có nhiều cơ quan, doanh nghiệp, khu chế xuất-
khu công nghiệp. Ba là, “cơ cấu đào tạo không phù hợp với nhu cầu lao động
trong xã hội.”[20,31]. Trên thực tế, mối quan hệ giữa đào tạo và thị trường lao
động hiện nay rất lỏng lẻo, bên đào tạo và bên sử dụng rất ít có quan hệ với
nhau. Điều này dẫn đến hiện tượng các trường cứ đào tạo theo chủ quan mà
không tính tới nhu cầu xã hội cần bao nhiêu lao động và ở loại ngành nghề
nào, nghĩa là đào tạo theo khả năng “cung” của mình chứ chưa thực sự đào
tạo theo “cầu” của người sử dụng. Bốn là, “chất lượng và hiệu quả đào tạo
thấp.”[20,31]. Một mặt chưa tiếp cận với trình độ tiên tiến trong khu vực và
trên thế giới, nhất là về kỹ năng thực hành, năng lực giao tiếp, trình độ ngoại
ngữ và năng lực tự đào tạo tiếp tục. Mặt khác chưa đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội, nhà trường chưa chuẩn bị tốt cho người tốt nghiệp gia nhập
thị trường lao động. Chính vì thế người ra trường gặp không ít khó khăn trong
tìm kiếm việc làm.
Song song với những điểm yếu về nguồn nhân lực, giáo dục TCCN
còn gặp nhiều khó khăn trước mắt. Đầu tiên là “nhận thức về giáo dục nghề
nghiệp còn giới hạn, chưa đầy đủ, từ các cấp quản lí đến các tầng lớp xã hội.”
[20,93]. Bên cạnh đó, giáo dục TCCN còn khó khăn ở “công tác tổ chức,
15
quản lý, chỉ đạo giáo dục nghề nghiệp chưa thống nhất, còn phân tán, chưa
tạo nên sức mạnh chung của một hệ thống giáo dục có tác động trực tiếp đến
sự phát triển xã hội.”[20,93]. Ngoài ra còn gặp khó khăn về việc làm của học
sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Để khắc phục những khó khăn trên, giáo
thành lập các đơn vị chuyên cung cấp các thông tin dự báo về nhu cầu sử
dụng lao động của xã hội. Theo tôi, nếu làm được như thế thì sẽ không có tình
trạng thất nghiệp như hiện nay. Thứ năm, đào tạo phải đảm bảo về chất lượng.
Như vậy các trường TCCN đào tạo học sinh khi ra trường phải có kỹ năng tay
nghề, thái độ lao động và tác phong công nghiệp, có tính thích ứng cao với thị
trường lao động và có thể cạnh tranh với lao động trong khu vực và thế giới.
Đồng thời, nhà trường cần có chính sách kết nối giữa nhà trường và doanh
nghiệp và luôn cần có sự học tập, chuyển giao công nghệ, hợp tác, liên kết với
đối tác nước ngoài để luôn cập nhật những kiến thức từ thực tế sản xuất và sự
tiến bộ của kỹ thuật công nghệ hiện đại.
1.2.2. Thực trạng rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh TCCN qua
giờ dạy học văn
Môn văn từ lâu đã giữ vị trí quan trọng và thuộc vào số môn học “có
tuổi thọ” cao nhất trong nhà trường. Môn văn có khả năng bồi đắp tâm hồn,
hình thành nhân cách con người, trang bị cho các em những hiểu biết về xã
hội, văn hóa, văn học, lịch sử và đời sống… Với tính chất là môn học công
cụ, môn Ngữ văn giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ để học tập, giao tiếp.
Văn học “giúp con người hiểu biết mình hơn, thông cảm với người khác, có
một cuộc sống phong phú, tinh tế, có ý nghĩa, xứng đáng với con
người.”[9,6]. Nhờ đó, tâm hồn trở nên bớt chai sạn, bớt thờ ơ, bớt bàng quan
trước những số phận, những cảnh đời đang diễn ra xung quanh. Là môn học
có vị trí, khả năng đặc biệt trong việc hình thành tri thức, rèn luyện kỹ năng
sống cho học sinh, song hiện nay việc dạy, học môn văn ở trường TCCN đang
đặt ra nhiều vấn đề, cả về người học và người dạy.
Học sinh trường TCCN đa số vừa tốt nghiệp THCS. Những học sinh ở
đây, chỉ thích học nghề hơn thích học các môn văn hóa. Môn Ngữ văn cũng
không ngoại lệ. Điều này đã dẫn tới sự thiếu hụt tri thức Ngữ văn ở các em.
17
Đầu tiên là việc sai lỗi chính tả. Khi chấm bài kiểm tra của học sinh cho thấy
các em viết sai chính tả phổ biến. Những lỗi chính tả thường gặp là tên riêng
việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh cũng như việc chỉ ra cho người
học một con đường tích cực, chủ động để thu nhận kiến thức. Tình trạng giáo
viên thiếu thốn phương tiện thiết bị dạy học như: tranh, ảnh, sơ đồ, dụng cụ
nghe-nhìn để minh họa cho bài giảng, tài liệu tham khảo, đặc biệt là giáo viên
ở các trường học ở vùng sâu, vùng xa, miền núi đã khiến cho việc áp dụng
phương pháp dạy học mới gặp nhiều bất lợi, dẫn đến tình trạng dạy chay, học
chay. Trong giờ đọc hiểu văn bản văn học ở trường TCCN, hầu hết giáo viên
chưa có ý thức tích hợp rèn luyện kỹ năng mềm cho các em. Giờ dạy, học văn
vì vậy, chưa gắn liền cuộc sống, chưa ứng dụng vào thực tiễn. Chẳng hạn, khi
dạy bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003 của Cô-
phi An - nan giáo viên chỉ tập trung vào bài văn có sức thuyết phục mạnh mẽ,
tác giả đã kêu gọi toàn thể nhân dân thế giới hãy phòng chống đại dịch HIV/
AIDS và không phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. Việc xác định
nội dung và nghệ thuật là chính xác nhưng chưa rèn luyện kỹ năng ra quyết
định cho các em. Bài học này, kỹ năng ra quyết định là phải “xác định việc cá
nhân và xã hội cần làm để góp phần vào cuộc chiến đấu chống lại căn bệnh
thế kỉ.” [39,67]. Những vấn đề trên đã phần nào phản ánh thực trạng dạy, học
văn trong trường TCCN. Chán học văn, ngại học văn là một thực trạng đáng
lo ngại của trường TCCN.
1.2.3. Vị trí, cấu trúc VHNN trong chương trình TCCN
Môn Ngữ văn ở trường TCCN chủ yếu dành cho học sinh có bằng tốt
nghiệp THCS. Như vậy chương trình môn Ngữ văn ở TCCN, trong đó có
VHNN, tương đương chương trình cơ bản ở PTTH. Xin xem bảng thống kê
dưới đây:
Ngữ văn 10
STT Tác phẩm Tác giả
Thể
loại
Quốc gia
1
Trung Quốc
Ngữ văn 11
STT Tác phẩm Tác giả
Thể
loại
Quốc gia
1
Tình yêu và thù hận
(Trích Rô-mê-ô và Giu-
li-et)
U.Sếch-xpia Kịch Anh
2 Tôi yêu em A.X.Pu-skin Thơ Nga
3 Bài thơ số 28 R.Ta-go Thơ Ấn Độ
4 Người trong bao A.P.Sê-khốp
Truyện
ngắn
Nga
5
Người cầm quyền khôi
phục uy quyền
(trích Những người khốn
khổ)
V.Huy-gô
Tiểu
thuyết
Pháp
Ngữ văn 12
STT Tác phẩm Tác giả
Thể
loại
Đây đều là những tác phẩm “đỉnh cao nổi tiếng kim, cổ, đông, tây đã
được sàng lọc, với những áng văn thơ long lanh như châu ngọc cả về hình
thức nghệ thuật lẫn nội dung tư tưởng” [60,7], giúp các em mở rộng tầm nhìn,
mở rộng tầm tri thức để hòa mình vào ngôi nhà chung của thế giới.
1.2.4. Tính đặc thù và khả năng của phân môn VHNN trong việc
rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh TCCN
Theo báo cáo năm 1996 của Uỷ ban quốc tế về Giáo dục cho thế kỷ
XXI do Jaccque Delor làm Chủ tịch đã nêu bật tầm nhìn về 4 mục tiêu của
giáo dục hiện đại, bao gồm: Học để biết; Học để làm; Học để tự khẳng định
mình; Học để cùng chung sống. Trong 4 mục tiêu, “Học để cùng chung sống”
được coi là một trụ cột quan trọng, then chốt, giúp các dân tộc có thái độ hoà
bình, khoan dung, hiểu biết, tôn trọng lịch sử, truyền thống và những giá trị
văn hoá, tinh thần của nhau. VHNN có khả năng bồi dưỡng những công dân
toàn cầu khoan dung, hòa bình, hòa hợp trên cơ sở hiểu biết con người, hiểu
biết dân tộc mình và các dân tộc khác trên thế giới.
Nhìn vào tổng thể chương trình VHNN ở trường TCCN, các tác phẩm
được học đều thuộc các quốc gia có bề dày lịch sử, văn hóa, văn học như: Hi
Lạp, Trung Quốc, Ấn Độ, đồng thời cũng có những quốc gia tiên tiến hiện
đại của nhân loại như: Nga, Anh, Pháp, Mĩ . Mỗi một nền văn học đều hội
tụ những tinh hoa. Bộ phận VHNN được học sinh tiếp xúc đầu tiên là thể loại
21
tự sự như: sử thi, tiểu thuyết, truyện ngắn. Các tác phẩm này đa số học qua
các đoạn trích chứ không được học trọn vẹn cả tác phẩm. Mặc dù thế nhưng
học sinh vẫn hấp dẫn vì tính mới lạ và độc đáo của nó. Chẳng hạn ở thể loại
sử thi, học sinh được học qua hai đoạn trích: Uy -lít - xơ trở về và Ra - ma
buộc tội. Hai đoạn trích này người học rất hứng thú vì được tiếp xúc với hai
nền văn hóa lớn, học sinh được mở rộng tầm nhìn và phần nào hiểu được “vẻ
đẹp tâm hồn và trí tuệ của người Hy Lạp.”[27,65] và người phụ nữ Ấn có
“tình yêu trong sáng thủy chung, một lòng dũng cảm tuyệt vời, đấu tranh bảo
vệ tình yêu, hạnh phúc.”[9,238]. Hoặc đoạn trích Số phận con người của Sô-
không đơn thuần hiểu thêm về văn học, văn hóa nước ngoài mà từ VHNN có
thể đối sánh để hiểu sâu về văn học dân tộc mình. Chẳng hạn, khi dạy những
bài thơ Đường của các nhà thơ Trung Quốc, chúng ta cần liên hệ với những
bài thơ làm theo thể Đường luật của các nhà thơ Việt Nam; hay khi dạy sử thi
của Hi Lạp và Ấn Độ ta liên hệ sử thi Đăm-săn của Việt Nam. Sự liên hệ đó
giúp học sinh hiểu một cách toàn diện và sâu sắc hơn về văn học Việt Nam.
Với những đặc điểm đó, có thể thấy, phân môn VHNN trong chương
trình TCCN có khả năng riêng trong việc hình thành kỹ năng mềm cho các
em. Thông qua việc cung cấp những tri thức văn hóa, văn học mới lạ, qua giờ
dạy, học văn các em sẽ hình thành sự tự tin khi giao tiếp, không chỉ với bạn
bè trong nước mà cả ở nước ngoài trong cuộc sống, lao động. Bởi lẽ, tự tin là
yêu cầu hàng đầu trong kỹ năng giao tiếp. Tâm thế của một công dân toàn cầu
ở các em nhờ đó cũng dần dần được hình thành. Bên cạnh kỹ năng giao tiếp,
việc được học những trích đoạn văn học như Uy-lit-xơ trở về, Ra-ma buộc
tội sẽ hình thành dần trong các em kỹ năng làm chủ cảm xúc trước những
biến cố mang tính bước ngoặt trong cuộc sống đời thường. Thêm vào đó là kỹ
năng đối thoại để bàn bạc giải quyết vấn đề, và có thể còn nhiều kỹ năng khác
được hình thành qua dạy, học VHNN. Hiệu quả của vấn đề phụ thuộc nhiều
vào ý thức nghề nghiệp, năng lực sư phạm, phương pháp giáo dục của giáo
viên. Từ nhận thức đó, ở chương 2, chúng tôi đề xuất một số nguyên tắc,
phương pháp rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh TCCN qua dạy học
VHNN.