Xây dựng và sử dụng một số công thức tổng quát để giải nhanh bài tập trắc nghiệm khách quan môn hóa học ở trường trung học phổ thông (phần hóa học hữu cơ) - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH PHAN THỊ THU HÀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ CÔNG THỨC TỔNG
QUÁT ĐỂ GIẢI NHANH BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN MÔN HOÁ HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(Phần Hoá học hữu cơ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC TP. HỒ CHÍ MINH - 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH PHAN THỊ THU HÀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ CÔNG THỨC TỔNG

Cô Lê Thị Hằng, giáo viên trường THPT Nguyễn Huệ, Tp. Vũng Tàu, Tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu.
Thầy Nguyễn Đức Hải, giáo viên trường THPT Cẩm Mỹ, Huyện Cẩm Mỹ, tỉnh
Đồng Nai.
Cô Phan Thị Huyền, giáo viên trường THPT Chu Văn An, Huyện Krongpo, tỉnh
Gia Lai.
Tập thể giáo viên bộ môn Hoá học trường THPT Vũng Tàu, Tp. Vũng Tàu.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2014
Phan Thị Thu Hà

Luận văn cao học GVHD: PGS. TS. Cao Cự Giác

Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 1 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7
1. Lí do chọn đề tài 7
2. Mục đích nghiên cứu đề tài 8
3. Nhiệm vụ của đề tài 8
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8
5. Phạm vi nghiên cứu 8
6. Giả thuyết khoa học 8
7. Phương pháp và phương tiện nghiên cứu 9
8. Đóng góp mới của đề tài 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 10

2.1. Các nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 42
2.1.1. Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học 42
2.1.2. Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học 42
2.1.3. Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng 42
2.1.4. Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính phân hóa và tính vừa sức 43
2.1.5. Hệ thống bài tập phải góp phần củng cố kiến thức cho học sinh ở các mức độ
hiểu, biết, vận dụng 43
2.1.6. Hệ thống bài tập phải phát huy tính tích cực nhận thức, năng lực sáng tạo
của học sinh 43
2.2. Kỹ thuật xây dựng một bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn 44
2.2.1. Nguyên tắc xây dựng 44
2.2.2. Kỹ thuật xây dựng câu dẫn 45
Luận văn cao học GVHD: PGS. TS. Cao Cự Giác

Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 3 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

2.2.3. Kỹ thuật xây dựng các phương án trả lời 46
2.3. Xây dựng một số công thức để giải nhanh các bài tập trắc nghiệm khách quan 48
2.3.1. Nguyên tắc xây dựng một số công thức tổng quát 48
2.3.2. Áp dụng xây dựng các công thức để giải nhanh các bài tập trắc nghiệm
khách quan 48
2.3.2.1. Công thức tính số lượng các đồng phân 48
2.3.2.2. Công thức tính số ete tạo bởi hỗn hợp n ancol đơn chức 55
2.3.2.3. Công thức tính số triglixerit (trieste, chất béo) tối đa tạo bởi glixerol với
n axit béo 58
2.3.2.4. Công thức tính số đi, tri, tetra, penta, … n peptit tối đa tạo bởi hỗn hợp
chứa x amino axit khác nhau 61
2.3.2.5. Công thức tính số liên kết π của hợp chất hữu cơ mạch hở A có công
thức C
x

trước và sau khi dẫn qua bột Ni
nung nóng… 92
2.3.2.13. Công thức tính hiệu suất phản ứng hiđro hoá anken 98
Luận văn cao học GVHD: PGS. TS. Cao Cự Giác

Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 4 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

2.3.2.14. Công thức tính số mol Br
2
tối đa phản ứng được với hỗn hợp các chất
thu được sau phản ứng cộng hiđro của một hỗn hợp gồm các hiđrocacbon và H
2
102
2.3.2.15. Công thức tính số liên kết ba đầu mạch của hiđrocacbon A dựa vào
phản ứng thế bởi dung dịch AgNO
3
trong NH
3
108
2.3.2.16. Công thức xác định phân tử ancol no, mạch hở dựa vào tỉ lệ mol giữa
ancol và O
2
trong phản ứng cháy 113
2.3.2.17. Công thức tính khối lượng ancol đơn chức, no (hoặc hỗn hợp ancol đơn
chức no) dựa vào sản phẩm của phản ứng oxi hoá hoàn toàn 116
2.3.2.18. Công thức xác định khối lượng phân tử ancol đơn chức dựa trên phản
ứng tách nước tạo thành ete 119
2.3.2.19. Công thức xác định công thức phân tử của ancol dựa vào phản ứng tách
nước với xúc tác H
2


Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 5 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

2.3.2.27. Công thức tính khối lượng aminoaxit A (chứa n nhóm NH
2
và m nhóm
COOH) biết khi cho aminoaxit A vào dung dịch chứa a mol NaOH, sau đó cho
dung dịch thu được sau phản ứng tác dụng vứa đủ với b mol HCl 151
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 155
3.1. Mục đích thực nghiệm 155
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm 155
3.3. Đối tượng thực nghiệm 155
3.4. Tiến hành thực nghiệm 156
3.4.1. Chuẩn bị thực nghiệm 156
3.4.2. Tiến hành thực nghiệm 157
3.5. Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 158
3.6. Kết quả thực nghiệm sư phạm 160
3.6.1. Kết quả định lượng thu được qua bài kiểm tra của học sinh 160
3.6.2. Nhận xét của giáo viên giảng dạy các lớp thực nghiệm 170
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ 171
TÀI LIỆU THAM KHẢO 173
PHỤ LỤC 177 Luận văn cao học GVHD: PGS. TS. Cao Cự Giác

Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 6 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT.

Trung học phổ thông
THPT
11.
Trung học cơ sở
THCS
12.
Sách giáo khoa
SGK Luận văn cao học GVHD: PGS. TS. Cao Cự Giác

Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 7 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy và học là một vấn đề đã được đề cập và bàn luận rất sôi
nổi từ nhiều thập kỉ qua, đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu và cấp bách hiện
nay của ngành giáo dục.
Những năm gần đây định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được thống
nhất theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh dưới sự tổ chức, hướng
dẫn của giáo viên, học sinh tự giác chủ động tìm tòi, phát hiện giải quyết nhiệm vụ
nhận thức và có ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức, kĩ năng thu nhận
được. Nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển của xã hội, giáo dục và đào tạo trong
những năm gần đây đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Chống tiêu cực trong thi cử,
chống bệnh thành tích trong giáo dục được nhiều địa phương trong toàn quốc hưởng
ứng. Sách giáo khoa được thay đổi theo hướng tích cực cả về nội dung lẫn hình thức.
Việc đánh giá kết quả học tập, kiểm tra, thi cử của học sinh đã bắt đầu được thực hiện
bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan ở nhiều môn học.
Từ năm học 2006 – 2007 đã áp dụng hình thức thi này vào kỳ thi đại học với 4

trắc nghiệm khách quan.
 Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT nhằm kiểm tra đánh giá tính
hiệu quả của đề tài.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
a) Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học môn Hóa Hữu cơ ở trường THPT
b) Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng một số công thức gắn với giải nhanh bài
toán tổng quát phần Hóa hữu cơ.
5. Phạm vi nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng một số công thức tổng quát để giải nhanh bài tập TNKQ
hoá học hữu cơ thuộc chương trình THPT.
6. Giả thuyết khoa học
Xây dựng được một số công thức cũng như áp dụng vào giải nhanh bài tập
TNKQ phần Hóa hữu cơ sẽ góp phần gây hứng thú, rèn luyện tư duy cho học sinh,
nâng cao chất lượng cũng như kết quả học tập của học sinh.
Luận văn cao học GVHD: PGS. TS. Cao Cự Giác

Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 9 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

7. Phương pháp và phương tiện nghiên cứu
 Phương pháp nghiên cứu lí luận.
 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
 Phương pháp thống kê toán học.
8. Đóng góp mới của đề tài
a) Về lí luận
 Làm rõ thêm cơ sở lí luận về bài tập và sử dụng bài tập hóa học như một phương
pháp dạy học.
 Đưa ra được quy trình xây dựng công thức để giải nhanh BTTNKQ Hóa học hữu
cơ.
b) Về thực tiễn
 Góp phần xây dựng một số công thức tổng quát để giải nhanh các bài tập trắc

việc sử dụng trắc nghiệm trong nhà trường như trắc nghiệm giáo dục của Huỳnh
Huỳnh, Nguyễn Ngọc Đính, Lê Như Dục, 1973.
Như vậy, với sự phát triển của xã hội thì phương pháp trắc nghiệm ngày càng
phát triển và mở rộng hơn. Cùng với thời gian có giới hạn đòi hỏi học sinh luôn phải tư
duy tìm phương pháp thích hợp để hoàn thành bài trắc nghiệm một cách đúng nhất và
nhanh nhất.
Hiện nay đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về trắc nghiệm như
Luận văn cao học GVHD: PGS. TS. Cao Cự Giác

Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 11 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

- Lê Danh Bình (1997), Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm cho kiểm tra đánh giá kiến
thức kỹ năng hóa học của HS lớp 11, luận văn thạc sỹ PPGDHH, trường ĐHSP Hà
Nội.
- Nguyển Đức Chính (2006), Biên soạn các bài toán hóa học hữu cơ có phương
pháp giải nhanh để làm câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, Luận văn thạc
sỹ PPGDHH, Trường ĐHSP Hà Nội.
- Hoàng Thị Kiều Dung (1999), Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để kiểm
tra đánh giá kiến thức HS lớp 11, 12 phổ thông trung học, Luận văn thạc sỹ PPGDHH,
trường ĐHSP Huế.
Ở Bộ môn Phương pháp giảng dạy hóa học, khoa Hóa học, trường Đại học Vinh đã
có một số luận văn thạc sĩ bảo vệ thành công:
1. Phạm Thị Quỳnh, Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa
chọn chương nitơ

photpho (Hoá học 11), Vinh–2007.
2. Trần Thị Thanh Nga, Kỹ thuật xây dựng phương án nhiễu cho bài tập trắc
nghiệm khách quan nhiều lựa chọn môn hoá học, Vinh–2007.
3. Nguyễn Thị Anh, Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm phần kim
loại lớp 12 THPT, Vinh–2009.

chúng học sinh nắm được hay hoàn thiện một tri thức, một kĩ năng nào đó, bằng cách
trả lời miệng hay trả lời, viết kèm theo thực nghiệm. Ở nước ta, trong các SGK và sách
tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan niệm này. Câu hỏi  đó là những
bài làm mà khi hoàn thành chúng học sinh phải tiến hành một loạt hoạt động tái hiện,
bất luận là trả lời miệng, trả lời viết hay có kèm thực hành hoặc xác minh bằng thực
nghiệm. Thường trong các câu hỏi, GV yêu cầu HS phải nhớ lại nội dung các định luật,
các quy tắc, định nghĩa, các khái niệm, trình bày lại một mục trong SGK…
Bài toán  đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng HS phải tiến hành một
hoạt động sáng tạo. Bất luận hình thức hoàn thành bài toán  nói miệng, hay viết, hay
thực hành (thí nghiệm)  bất kì bài toán nào cũng đều có thể xếp vào một trong hai
nhóm: định lượng (tính toán) hay định tính . Người ta thường lựa chọn những bài toán
và câu hỏi đưa vào một bài tập có tính toán đến một mục đích dạy học nhất định, là
nắm hay hoàn thiện một dạng tri thức hay kĩ năng. Chẳng hạn, có thể ra bài tập nhằm
Luận văn cao học GVHD: PGS. TS. Cao Cự Giác

Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 13 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

mục đích hình thành kĩ năng lập công thức muối, viết phương trình phản ứng, nêu các
chất đồng phân, giải những bài toán hóa học thuộc một kiểu nào đó, nêu đặc điểm của
một nguyên tố theo vị trí của nó trong hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học…
Tùy theo tính chất của hoạt động cần tiến hành (tái hiện hay sáng tạo) mà bài tập có thể
chỉ gồm toàn những câu hỏi, hay toàn những bài toán hay hỗn hợp cả câu hỏi lẫn bài
toán. Tóm lại, bài tập được xem như là một phương tiện dạy học then chốt trong quá
trình dạy học, dùng bài tập trong quá trình hình thành kiến thức, khai thác kiến thức,
phát triển tư duy, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho người học và kiểm tra, đánh giá chất
lượng học tập… Như vậy, có thể xem bài tập là một “vũ khí” sắc bén cho GV, HS
trong quá trình dạy học và sử dụng bài tập, là một trong những yêu cầu quan trọng
trong quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Bài toán hóa học là nhiệm vụ mà giáo viên đặt ra cho người học, buộc người học
phải vận dụng các kiến thức đã học sử dụng hành động trí tuệ để giải quyết các nhiệm

+ BTHH còn được sử dụng nhiều trong quá trình chuẩn bị nghiên cứu các kiến
thức mới.
+ BTHH mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú và không làm nặng
nề khối lượng kiến thức của HS.
+ BTHH có khả năng phát triển tư duy sáng tạo của HS.
+ BTHH rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động
sản xuất và bảo vệ môi trường.
+ BTHH rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và các thao tác tư duy.
 Tác dụng đức dục
BT hóa học có tác dụng giáo dục đạo đức tư tưởng vì khi giải bài tập HS sẽ tự rèn
luyện cho mình những phẩm chất tốt của con người như: tính kiên nhẫn, chịu khó, cẩn
thận, chính xác, khoa học, tính trung thực, tính sáng tạo, lòng yêu thích bộ môn.
 Tác dụng giáo dục kĩ thuật tổng hợp
Có khả năng để gắn kết các nội dung học tập ở trường với thực tiễn đa dạng, phong
phú của đời sống xã hội hoặc trong sản xuất hóa học thể hiện trong nội dung BTHH
các nguyên tắc kĩ thuật tổng hợp như nguyên tắc ngược dòng, tận dụng nhiệt phản
ứng…
Luận văn cao học GVHD: PGS. TS. Cao Cự Giác

Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 15 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

Rèn luyện đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học hóa
học. Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hoá lao động (lao động có tổ
chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc).
Phát triển ở học sinh các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập,
thông minh và sáng tạo.
1.1.2.3. Phân loại bài tập hóa học
Hiện nay, có nhiều cách phân loại bài tập khác nhau. Vì vậy, cần có cách nhìn tổng
quát về các dạng bài tập dựa vào việc nắm chắc các cơ sở phân loại.
1) Dựa vào nội dung toán học của bài tập

8) Dựa vào phương pháp giải bài tập
- Bài tập tính theo công thức và phương trình.
- Bài tập biện luận.
- Bài tập dùng các giá trị trung bình.
- Bài tập dùng đồ thị…
9) Dựa vào mục đích sử dụng
- Bài tập dùng để kiểm tra đầu giờ.
- Bài tập dùng để củng cố kiến thức.
- Bài tập dùng để ôn luyện, tổng kết.
- Bài tập để bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Bài tập để phụ đạo học sinh yếu…
10) Dựa theo các bước của quá trình dạy học
- Bài tập mở bài, tạo tình huống dạy học.
- Bài tập vận dụng khi giảng bài mới.
- Bài tập củng cố, hệ thống hóa kiến thức.
- Bài tập về nhà.
- Bài tập kiểm tra.
Ngoài ra, có thể dựa vào đặc điểm của hoạt động nhận thức có thể chia thành:
- Bài tập tái hiện: Bài tập yêu cầu HS nhớ lại, tái hiện kiến thức, kĩ năng đã học
- Bài tập sáng tạo: Bài tập yêu cầu HS phải áp dụng những kiến thức, kĩ năng đã
học để giải quyết vấn đề trong tình huống mới, phải vận dụng phối hợp các kiến thức
để giải quyết vấn đề. Ở mức độ cao hơn, bài tập sáng tạo đòi hỏi HS giải quyết vấn đề
theo một hướng mới, một kĩ thuật mới, một phương pháp mới. Trong thực tế dạy học,
Luận văn cao học GVHD: PGS. TS. Cao Cự Giác

Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 17 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

có hai cách phân loại bài tập có ý nghĩa hơn cả là phân loại theo nội dung và theo dạng
bài.
1.1.2.4. Vị trí của bài tập hóa học trong quá trình dạy học

- Loại bỏ những bài tập có nội dung léo lắt, giả định rắc rối, phức tạp, xa rời hoặc
phi thực tiễn hóa học.
- Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm.
- Tăng cường sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan.
- Xây dựng bài tập mới về bảo vệ môi trường và phòng chống ma túy.
- Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện vấn đề và giải
quyết vấn đề.
- Đa dạng hóa các loại hình bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ đồ, bài tập lắp
dụng cụ thí nghiệm…
- Xây dựng những bài tập có nội dung hóa học phong phú, sâu sắc, phần tính toán
đơn giản, nhẹ nhàng.
- Xây dựng và tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm định lượng.
1.1.2.7. Một số phương pháp giải bài tập hóa học hữu cơ

Phương pháp tăng giảm khối lượng
Cách giải
Khi chuyển từ chất này sang chất khác khối lượng có thể tăng hoặc giảm do các
chất khác nhau có khối lượng mol khác nhau. Dựa vào mối tương quan tỉ lệ thuận của
sự tăng giảm ta tính được lượng chất tham gia hay tạo thành sau phản ứng.
 Phương pháp biện luận.
Cách giải
- Viết các phương trình phản ứng.
- Đặt ẩn số cho các đại lượng cần tìm.
- Tính theo các phương trình phản ứng và các ẩn số đó để lập ra phương trình đại
số.
- Giải phương trình đại số (hoặc hệ phương trình) và biện luận kết quả .
 Phương pháp bảo toàn
a) Bảo toàn điện tích
Nguyên tắc: Tổng điện tích dương luôn luôn bằng tổng điện tích âm về giá trị tuyệt
đối. Vì thế dung dịch luôn luôn trung hoà về điện.

ii
hh i=1
n
hh
i
1=1
M .n
m
M= =
n
n



Trong đó : m
hh
là tổng khối lượng của hỗn hợp,
n
hh
là tổng số mol của hỗn hợp
M
i
là khối lượng mol của chất thứ i trong hỗn hợp
Luận văn cao học GVHD: PGS. TS. Cao Cự Giác

Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 20 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

n
i
là số mol của chất i trong hỗn hợp

chất khác, nhưng do phản ứng với H
2
O lại cho cùng một chất. Ví dụ trộn Na
2
O với
dung dịch NaOH ta được cùng một chất là NaOH).
Luận văn cao học GVHD: PGS. TS. Cao Cự Giác

Học viên: Phan Thị Thu Hà Trang 21 Lớp: LL và PP DH môn Hoá học

- Trộn 2 dung dịch của chất A với nồng độ khác nhau, ta thu được một dung
dịch chất A với nồng độ duy nhất. Như vậy lượng chất tan trong phần đặc giảm xuống
phải bằng lượng chất tan trong phần loãng tăng lên.
Sơ đồ tổng quát của phương pháp đường chéo như sau:

12
21
D x - x
=
D x - x

x
1
, x
2
, x là khối lượng chất ta quan tâm với x
1
> x > x
2
.

quát hóa kiến thức hình thành quy luật. Bài tập hóa học ngoài tác dụng đào sâu, mở
rộng, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức, rèn tư duy và kỹ năng hóa học còn giúp giáo viên
kiểm tra để nắm được trình độ nắm vững kiến thức của học sinh, uốn nắn những cái sai
cho các em và điều chỉnh việc dạy của mình cho phù hợp với trình độ học sinh. Để
phục vụ cho việc giảng dạy từng bài, từng chương và cả chương trình, giáo viên cần
xây dựng các bài tập thành một hệ thống logic chặt chẽ, bài trước gợi ý cho bài sau, bài
sâu mở rộng và đào sâu thêm kiến thức ở bài trước. Hết sức tránh ra bài tập một cách
tùy tiện, tự do, không có suy tính trước.
b) Sử dụng bài tập để rèn kĩ năng
Muốn hình thành kĩ năng không thể giải một bài tập mà phải giải một số bài tập
cùng dạng. Nếu như các bài tập này hoàn toàn giống nhau (chỉ khác số liệu) thì sẽ gây
nhàm chán, nhất là đối với học sinh khá, giỏi. Do vậy, cần phải bổ sung những chi tiết
mới, vừa có tác dụng mở rộng, đào sâu kiến thức và gây hứng thú cho học sinh, cần có
những “bộ” bài tập để rèn từng kiểu tư duy và từng loại kỹ năng của hóa học. Kỹ năng
thao tác và tư duy hóa học, đó là những kỹ năng:
- Tiến hành một số thí nghiệm hóa học đơn giản (lắp ráp thí nghiệm, quan sát và
giải thích hiện tượng, dẫn ra các phản ứng hóa học để minh họa ).
- Kỹ năng vận dụng kiến thức để lý giải, phân tích một số sự kiện cụ thể trong
bản thân môn học, một số hiện tượng hóa học trong đời sống thường ngày.
- Kỹ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa kiến thức. Phân tích kĩ tác
dụng của từng bài tập, nhất là những bài tập hay, điển hình xem nó có tác dụng rèn kỹ
năng thao tác và tư duy hóa học nào rồi dùng phương pháp tương tự nhân ra một số bài
cùng dạng để rèn kỹ năng thao tác và tư duy hóa học đó. Cũng có thể dùng các bài tập
cùng dạng để khắc sâu cho học sinh một kiến thức nào đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status