DANH SÁCH BẢNG
Hình Tên hình Trang
Bảng 1.1 Các giống khác nhau của vi khuẩn lactic 4
Bảng 1.2 Đặc điểm phân biệt một số loài của chi Lactobacillus 6
Bảng 1.3 Các đặc điểm phân biệt một số loài Pediococcus 10
Bảng 3.1 Các chủng vi khuẩn dùng trong thí nghiệm 23
Bảng 3.2 Thành phần môi trường MRS rắn/Lít 27
1
DANH SÁCH HÌNH
Hình Tên hình
Trang
Hình 1.1 Hình thái tế bào của Lb. axitophilus và Lb. plantarum 5
Hình 1.2 Hình thái tế bào của Leuconostoc mesenteroides 8
Hình 1.3 Hình thái tế bào của Pediococcus halophilus và Aerococcus
urinaeequi 9
Hình 1.4 Hình thái tế bào của Bifidobacterium 11
Hình 3.1. Hình thái tế bào và nhuộm gram của các chủng vi khuẩn lactic sử
dụng trong thí nghiệm 24
Hình 4.1. Thời gian tăng OD 0,3 của các chủng vi khuẩn lactic trong môi
trường MRS có 0,3% muối mật 33
Hình 4.2. Khả năng sống sót của các chủng vi khuẩn lactic ở pH 2 36
Hình 4.3 Hình ảnh minh họa khả năng chịu axit của chủng DC1 trên đĩa
peptri 38
Hình 4.4 Hình ảnh minh họa khả năng chịu axit của chủng DC2 trên đĩa
peptri 39
Hình 4.5 Hình ảnh minh họa khả năng chịu axit của chủng MC5 trên đĩa
peptri 40
Hình 4.6 Hình ảnh minh họa khả năng chịu axit của chủng MC9 trên đĩa
peptri 41
Hình 4.7 Hình ảnh minh họa khả năng chịu axit của chủng MC10 trên đĩa
peptri 42
2.1.3 Ứng dụng của vi khuẩn lactic 12
2.2 Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của người 12
2.2.1 Đặc điểm chung của hệ vi sinh vật đường tiêu hóa người 12
2.2.2 Chức năng các nhóm vi sinh vật chủ yếu trong đường tiêu hóa người 13
2.3 Tổng quan về probiotics 14
2.3.1 Khái niệm probiotics 14
2.3.2 Những tính chất có lợi của probiotics 16
2.3.3 Các tiêu chuẩn sàng lọc một chủng vi khuẩn làm probiotics 19
2.4. Khả năng tồn tại và sinh trưởng của vi khuẩn lactic trong đường tiêu hóa
người 20
2.5 Tình hình nghiên cứu khả năng chịu axit và muối mật của vi khuẩn lactic
trên thế giới 21
2.6 Tình hình nghiên cứu khả năng chịu axit và muối mật của vi khuẩn lactic
ở Việt Nam 21
PHẦN 3 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.2 Thiết bị, hóa chất sử dụng 26
3.2.1 Thiết bị 26
3.2.2 Hóa chất 26
3.3 Phương pháp nghiên cứu 26
3.31. Phương pháp hoạt hóa giống 26
3.3.2. Phương pháp nuôi cấy tăng sinh 27
3.3.3. Phương pháp bảo quản giống 27
3.3.4. Phương pháp xác định mật độ tế bào trong môi trường lỏng 28
3.3.5. Phương pháp khảo sát khả năng chịu muối mật 29
3.3.6. Phương pháp khảo sát khả năng chịu axit 30
3.3.7. Phương pháp xây dựng đường cong sinh trưởng 30
3.3.8 Phương pháp xử lí số liệu 31
PHẦN 4 : KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 32
chủng vi khuẩn này là khả năng tồn tại, thích nghi được với môi trường trong
đường tiêu hóa động vật. Chúng phải chịu được môi trường axit ở dạ dày và
6
thích nghi được với nồng độ muối mật ở ruột và các tác động của các enzyme
trong đường tiêu hóa.
Những năm gần đây, các loại thực phẩm có các vi sinh vật probiotic rất
được ưa chuộng ở Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có nhiều các nghiên cứu phân
lập và khảo sát tiềm năng probiotic của hệ vi sinh vật lên men lactic ở nước
ta. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Tuyển chọn chủng có khả năng chịu
axit và muối mật cao từ các chủng vi khuẩn lactic trong một số sản phẩm
lên men lactic trên địa bàn thành phố Huế”, nhằm xác định được một số
chủng có khả năng tồn tại và thích nghi trong đường tiêu hóa động vật, làm
tiền đề cho các nghiên cứu tuyển chọn các dòng vi khuẩn lactic có tiềm năng
probiotic để ứng dụng vào sản xuất.
7
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.
2.1. Tổng quan về vi khuẩn lactic
2.1.1. Đặc điểm sinh lý, sinh hóa của vi khuẩn lactic
Vi khuẩn là những những vi sinh vật đơn bào, có cấu tạo đơn giản.
Chúng có thể hô hấp hiếu khí hoặc yếm khí, trong cấu tạo tế bào của chúng
không có diệp lục tố [5]. Ngoài những đặc điểm chung trên thì đối với mỗi
nhóm vi khuẩn khác nhau luôn có những đặc điểm riêng đặc trưng cho nhóm
đó. Vi khuẩn lactic cũng vậy chúng cũng có những đặc điểm sinh lí sinh hóa
khác so với các nhóm vi khuẩn khác và trong mỗi loài sự khác nhau đó càng
thấy rõ hơn. Mặc dù nhóm vi khuẩn này không đồng nhất về mặt hình thái
nhưng nhìn chung tất cả những vi khuẩn lactic đều có những đặc điểm sau.
2.1.1.1. Đặc điểm sinh lí
- Đó là những vi khuẩn gram dương, nói chung là bất động, không sinh
Tài liệu dẫn
Hình Sắp
xếp
Streptococcus
Leuconostoc
Pedicoccus
Lactobacillus
Bifidobacterium
Cầu
Cầu
Cầu
Que
Khác
nhau
tùy
loài
Chuỗi
Chuỗi
Tứ
cầu
Chuỗi
Nhiều
dạng
Đồng hình
Dị hình
Đồng hình
Đồng hình
và dị hình
Lactic và
acetic
khẳng định qua phương pháp phân loại phân tử [2]. Ngoài ra có một số loài vi
khuẩn sinh nội bào tử có khả năng lên men tạo axit lactic thuộc chi Bacillus,
Tuy nhiên, các loài này không được xem là vi khuẩn lactic do các đặc điểm
sinh lý và hóa sinh của chúng.
2.1.2.1. Lactobacillus
Giống Lactobacillus là chi lớn nhất trong nhóm vi khuẩn lactic, gồm
khoảng 80 loài [27]. Với mức độ khác nhau rất nhiều về hình thái, đặc điểm
sinh hóa và sinh lý. Sự không đồng nhất thể hiện ở phổ tỉ lệ mol G+C rất
rộng, từ 32-55% [27]. Chúng là những trực khuẩn không sinh bào tử thuộc
lớp vi khuẩn Gram dương, catalase âm tính, sinh trưởng trong điều kiện kỵ
khí không bắt buộc hoặc vi hiếu khí. Những trực khuẩn này thường đứng
riêng lẻ hoặc thành chuỗi, thủy phân đường saccharosa mạnh tạo axit lactic,
không khử nitrat, chúng phân giải gelatin, indole và H
2
S. Chúng phát triển
mạnh trong môi trường có tính axit, tùy loài mà pH dao động từ 4,5 đến 6,4.
Đây là những vi khuẩn khuyết dưỡng nhiều loại vitamin, axitamin. Người ta
có thể tìm thấy Lactobacillus trong các sản phẩm sữa, thịt, hoặc trong nước
sạch, bùn, bề mặt thực vật, trái cây. Các loài thuộc chi này cũng là một phần
quan trọng trong hệ thống vi sinh đường ruột ở người và động vật bậc cao, có
trong khoang miệng, đường ruột và âm đạo.
Nhiều kết quả nghiên cứu phân loại sinh hóa và lai DNA cho thấy
Lactobacillus là một nhóm rất đặc biệt.
10
INCLUDEPICTURE "http://bp0.blogger.com/_FlhB437Wa_U/SClyFlwHv7I/AAAAAAAAArc/TeX5R_U81vA/s400/acidp.jpg" \* MERGEFORMATINET
Hình 1.1 Hình thái tế bào của (a) Lb. axitophilus và (b) Lb. plantarum
a b
Bảng 1.2 Đặc điểm phân biệt một số loài của chi Lactobacillus [2]
(Theo Bottazzi, 1988)
Nhóm Loài GC
38-
40
Lys –Asp
Lys –Asp
Lys –Asp
Lys –Asp
Lys –Asp
Lys –Asp
D
D
D
DL
DL
DL
Mặt thực vật
Sữa chua
Fomat
Miệng, âm đạo
Miệng, âm đạo
Fomat
II
Lb.casei subsp Casei
Lb. casei subsp
pseudoplantarum
45-
47
45-
Lys –Asp
Lys –Asp
Lys –Asp
DL
Ruột non người
Bề mặt thực vật
Bề mặt thực vật
Thực vật,fomat
III
Lb.bifementans
Lb. brevis
Lb buchneri
Lb. kefir
Lb.reuteri
Lb. fermentum
Lb.confusus
Lb. Viridescens
Lb. Sanfrancisco
44-
46
45-
47
44-
46
40-
42
40-
42
52-
54
45-
47
45-
Ccác sản phẩm
thịt
Các loại bánh
12
Giống Lactobacillus được chia làm 3 nhóm (Bảng 1.2) [6]:
Nhóm 1: Được gọi là Thermobacterium, lên men đồng hình và ưa
nhiệt. Không lên men glucose và đường pentosa. Những vi khuẩn này có
fructose 1,6 diphosphate aldolasa, chúng phát triển ở 45
0
C.
Nhóm 2: Được gọi là Streptobacterium, đây là những trực khuẩn lên
men đồng hình và ưa ấm, nhiều loại của nhóm này có khả năng lên men dị
hình. Các hexosa được lên men theo con đường EMP tạo thành axit lactic,
nhưng các pentosa có thể lên men dị hình.
Nhóm 3: gồm những trực khuẩn có tên gọi là Betabacterium, chúng là
những vi khuẩn lên men dị hình bắt buộc. Chúng sinh axit lactic, axit acetic,
CO
2
và ethanol.
2.1.2.2. Streptococuss
Đây là những vi khuẩn gram dương bao gồm các cầu khuẩn, đa số lên
men đồng hình và bất động. Sau khi phân chia chúng thường tạo thành chuỗi,
sống hoại sinh trong đất, bề mặt cây, da người, ruột… Chi này cũng là một
chi rất lớn trong vi khuẩn lactic, bao gồm nhiều nhóm khác nhau.
Ngoài Lactococcus thì trước đây người ta đã xếp thêm Enterococcus
vào chi Streptococcus. Mặc dù ngày nay đã có sự phân tách và tạo thành
những chi mới, chi Streptococcus vẫn là một chi rất lớn và khó phân loại một
cách hoàn hảo. Enterococcus không có vai trò quan trọng trong công nghệ
thực phẩm. Một số loài trong chi này, ví dụ như E. faecalis có thể là những vi
khuẩn gây bệnh cơ hội, vì thế không được ưa chuộng trong chế biến thực
14
Hình 1.2 Hình thái tế bào của Leuconostoc mesenteroides
Trong công nghệ thực phẩm vai trò của chúng vừa có ý nghĩa tích cực
vừa tiêu cực. Chẳng hạn như và P. pentosaceus được sử dụng làm giống nuôi
cấy khởi đầu trong sản xuất xúc xích và ủ thức ăn gia súc [27]. Chúng cũng
có thể có vai trò quan trọng góp phần vào sự chín của phomat. Ngược lại thì
P. damnosus lại là một tác nhân chính làm hỏng bia, vì sự phát triển của
chúng có thể dẫn đến sự tạo thành diacetyl/acetoin, làm cho bia có vị giống
bơ.
Ngoài Pediococcus thì Aerococcus, Tetragenococcus cũng tạo nên các
vi khuẩn lactic dạng tetrad (4 cầu khuẩn liên kết thành bộ 4). Trong đó chi
Aerococcus nhìn chung chỉ có vai trò thứ yếu trong công nghệ thực phẩm.
Còn chi Tetragenococcus ban đầu được coi là Pediococcus halophilus.
Bảng 1.3 Các đặc điểm phân biệt một số loài Pediococcus [2]
15
Hình 1.3 Hình thái tế bào của Pediococcus halophilus(a) vàAerococcus
urinaeequi(b)
a b
Đặc điểm
Pc.damnosus
Pc.damnvulus
Pc.inopinatus
Pc.dextrinicus
Pc.pentosaceus
Pc.axitolactici
Pc.halophilus
Pc.urinaequi
- Sinh trưởng ở pH 4,5
- Độ mặn cao nhất có
-
-
-
ND
4-6.5
+/-
+
+
-
-
-
+/-
-
-
-
4
+/-
+
-
-/+
+/-
-
+
+
-
+
6.5
+/-
+
-
+/-
+
-
ND
+
+
+
-
-
+: dương tính; -: âm tính; +/-: khác nhau tùy chủng; ND: không xác định.
Ngoài đặc điểm là chịu được nồng độ muối rất cao (18%) thì chúng còn
một đặc điểm nữa để phân biệt với các vi khuẩn lactic khác là chúng cần nồng
độ muối khoảng 5% để phát triển. Chi này có vai trò quan trọng trong các loại
thực phẩm có hàm lượng muối cao, như nước chấm đậu nành.
2.1.2.5. Bifidobacterium
Chi Bifidobacterium là những trực khuẩn kị khí không sinh bào tử,
Gram dương, bất động. Khi mới phân lập chúng là những trực khuẩn có thể
phân nhánh dạng chữ Y, V tập hợp thành khối. Sau nhiều lần cấy chuyền
chúng trở thành những trực khuẩn thẳng hoặc hơi uốn cong với những hạt dự
trữ nhuộm màu xanh metylen. Vì vậy khi phát hiện vào năm 1899, vào đầu
thế kỉ XX chi này chi được xem như thuộc vào chi Lactobacillus. Theo khóa
phân loại Bergey năm 1920, chúng có tên là Lactobacillus bifidus. Năm 1967,
16
Devries và Stouthamer đã chứng minh sự có mặt của enzyme fructose-6-
phosphate phosphoketolase. Ở nhóm vi khuẩn này và sự vắng mặt của hai
enzyme là aldolase và glucose-6-phosphatase dehydrogenase – hai enzyme có
mặt trong Lactobacilli. Từ đó người ta kết luận rằng việc phân loại nhóm
bifido trong chi Lactobacillus là không hợp lý. Ngày nay, nhóm này được xếp
thành một chi riêng biệt, chi Bifidobacterium, thuộc họ Actinomycetaceae, có
25 loài [2].
được xem là các vi khuẩn không gây bệnh ở người. Hiện nay đang có một số
nghiên cứu sử dụng cả Enterococcus, Streptococcus để làm probiotic [14]
[36]. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và sử dụng các sản phẩm probiotic có
nguồn gốc từ vi khuẩn lactic còn rất hạn chế.
2.2. Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của người
2.2.1. Đặc điểm chung của hệ vi sinh vật đường tiêu hóa người
Hệ tiêu hóa của chúng ta chỉ chiếm một khoảng không gian khá khiêm
tốn trong ổ bụng nhưng diện tích bề mặt tiêu hóa của ruột lớn rất lớn. Người
ta ước đoán trong ruột chúng ta có hằng hà sa số các loài vi sinh vật khác
nhau, gấp hàng chục lần tổng số tế bào trong cơ thể một người trưởng thành.
[19].
Khi mới sinh ra, đường tiêu hóa của chúng ta không có bất kì một vi
sinh vật nào kể cả vi khuẩn, do những tiếp xúc đầu tiên với môi trường, từ
sữa mẹ vi khuẩn bắt đầu xâm nhập. Những cá thể vi khuẩn này sau khi thoát
18
qua được dạ dày đến ruột sẽ tăng sinh nhanh chóng, tồn tại và phát triển, dần
dần tạo nên quần thể vi sinh vật với sự cân bằng tự nhiên.
Khi trưởng thành, vi sinh vật đường ruột ổn định và cân bằng hơn. Tuy
nhiên cũng có thể bị mất cân bằng do ảnh hưởng của môi trường, vệ sinh an
toàn thực phẩm, bia rượu, thuốc kháng sinh, thuốc hóa trị liệu, hoặc ngay cả
căng thẳng công việc Vì vậy rối loạn đường ruột vẫn thường xuyên xảy ra.
Với người già, vi sinh vật có lợi có xu hướng giảm nhưng vi sinh vật
gây bệnh lại tăng, do đó người già thường xuyên bị rối loạn tiêu hóa như tiêu
chảy, táo bón, viêm đại tràng, sình bụng, đi phân sống , giảm khả năng hấp
thụ dinh dưỡng, giảm đề kháng, bệnh tật, kể cả ung thư ruột kết.
Về mặt khoa học, chúng được biết là một hệ vi sinh vật sống. Chúng
sinh sôi nảy nở trong đường ruột non, đại tràng của người và phần lớn chúng
tồn tại mà không cần oxy [19]. Hàng trăm ngàn tỷ vi sinh vật sống này là sự
cân bằng giữa vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại. Bắt đầu từ dạ dày, vi khuẩn
gần như bằng không, chỉ có vi khuẩn gây loét dạ dày Helicobacter pylori là
khuẩn có hại như Escherichia coli, Shigella, Staphylococcus aureus,
Clostridium, Veillonella… [19]. Các vi khuẩn có hại này khi xâm nhiễm vào
đường ruột sã gây ra các tác động xấu đến sức khỏe mgười tiêu dùng như ngộ
độc thực phẩm ( Salmonella), viêm nhiễm đường ruột (Campylobacter), rối
loạn tiêu hóa (Enterotoxigenic E. coli, Enterotoxigenic E. coli, Enteroinvasive
E. coli, Enterohaemorrhagic E. coli)…
Tuy nhiên khi nào vi khuẩn có lợi và vi khuẩn trung tính này cạnh tranh
nhau để giành lấy không gian trong đường ruột thì vi khuẩn có hại không có
cơ hội nhân lên. Thường thì hệ vi khuẩn trong đường ruột của chúng ta rất
bền vững. Ngay cả khi hệ khuẩn ruột bị rối loạn rất nặng do dùng kháng sinh
hoặc tiêu chảy thì chúng vẫn có thể phục hồi một cách nhanh chóng khi
nguyên nhân gây nên rối loạn này được loại bỏ. Tuy vậy đôi khi vẫn có
trường hợp những vi khuẩn có hại chiếm ưu thế trong đường ruột.
2.3. Tổng quan về probiotic
2.3.1. Khái niệm probiotic
Việc sử dụng vi sinh vật sống nhằm tăng cường sức khỏe con người
không phải là mới. Hàng nghìn năm về trước, trước khi tìm ra thuốc kháng
sinh, con người đã biết tiêu thụ các thực phẩm chứa vi sinh vật sống có lợi
chẳng hạn như các sản phẩm sữa lên men. Các nhà khoa học đầu tiên, như
20
Hippocrates và những người khác cũng chỉ định sữa lên men với tính chất
dinh dưỡng và dược tính của nó, để chữa trị rối loạn ruột và dạ dày
(Oberman, 1985) [10]. Còn đối với nhà sinh lý học người Nga, Eli
Metchnikoff (1907) thì "Sự phụ thuộc của hệ vi sinh vật trong ruột đối với
thực phẩm làm cho nó có khả năng chấp nhận biện pháp thay đổi hệ vi sinh
vật trong người của chúng ta, tức là thay thế vi sinh vật có hại bởi vi sinh vật
hữu ích " [21].
Một vài năm trước bài thảo luận cuả Metchnikoff, Pastuer và Joubert
(1877) [10], trong khi quan sát sự đối kháng giữa các chủng vi khuẩn, đã nhận
thấy sự tiêu thụ vi khuẩn không gây bệnh có thể kiểm soát các vi khuẩn gây
khuẩn Lactobacillus trích từ hệ vi sinh đường ruột [19].
2.3.2. Những tính chất có lợi của probiotic
Probiotic được coi như là một thực phẩm chức năng rất được ưa chuộng
bởi các tính năng của nó mang lại. Những tác động chủ yếu của các chủng vi
khuẩn probiotic tới sức khỏe con người gồm những mặt chính như sau:
• Ngăn chặn sự xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh bằng cách cản
chúng bám vào thành ruột
Probiotic khi được bổ sung vào cơ thể, các vi sinh vật này sau khi vượt
qua các rào cản về lý học và hóa học trong hệ dạ dày- ruột non thì chúng sẽ
tiến hành bám dính vào thành ruột để thực hiện các chức năng có lợi cho cơ
thể vật chủ. Chúng cạnh tranh nơi ở với vi khuẩn gây bệnh, ngăn cản không
cho các vi khuẩn này bám vào thành ruột, từ đó làm giảm số lượng vi khuẩn
ngăn chặn các mầm bệnh [21].
• Giúp cho việc tiêu hóa thức ăn được hữu hiệu hơn
Đối với những người thường bị chứng bất dung nạp đường lactose
trong các sản phẩm sữa do trong ruột không có enzyme tiêu hóa loại đường
này thì probiotic sẽ giúp họ tiêu hóa được dễ dàng hơn [21].
• Giảm nguy cơ bị tiêu chảy do uống nhiều thuốc kháng sinh
Việc sử dụng probiotic để phòng ngừa tiêu chảy gây ra bởi thuốc kháng
sinh rất được quan tâm.
Sự phát triển một cách rộng rãi và đặc hiệu cao của thuốc kháng sinh đã
khiến cho ngành y học quá tin tưởng vào phương pháp trị liệu kháng sinh.
Tuy nhiên, tác động loại bỏ của thuốc kháng sinh không phân biệt được mầm
bệnh thật sự và hệ vi sinh vật có lợi trong ruột. Vì vậy, phương pháp trị liệu
kháng sinh cũng dẫn đến thay đổi hệ cân bằng của ruột và gây ra một vài ảnh
22
hưởng xấu mà có thể tồn tại lâu dài ngay cả sau khi ngừng sử dụng cách điều
trị này.
Bên cạnh đó, sự xuất hiện nhanh của nhiều chủng vi khuẩn kháng lại
kháng sinh chẳng hạn như Enterocci kháng vancomycin và Staphylococcus
• Giảm cholesterol trong máu.
Hàm lượng cholesterol trong huyết thanh ảnh hưởng rất lớn đến các
bệnh về tim mạch. Nếu hàm lượng này cao hơn 1mmol so với mức bình
thường thì người bệnh đang ở mức độ nguy hiểm của các bệnh về tim mạch
(>35%) và có thể gây chết người nếu cao hơn 45 %. Vì vậy chỉ cần giảm 1 %
hàm lượng cholesterol trong máu là có thể giảm được mức độ nguy hiểm của
các bệnh về tim mạch từ 2 đến 3 % (Masnon etal, 1992) [27]. Và việc sử dụng
các sản phẩm probiotic có khả năng làm giảm hàm lượng cholesterol trong
máu [34] [10]. Một trong những bằng chứng đầu tiên đó là việc sử dụng
probiotic lactobaccilii trong các sản phẩm có ảnh hưởng tốt đến tim mạch,
bao gồm cả khả năng ngăn ngừa và điều trị các hội chứng thiếu máu cục bộ
của tim (Oxman et al, 2001) và giảm đáng kể hàm lượng cholesterol trong
máu (De Roos và Katan) , 2000 [18].
• Giảm thiểu hiện tượng dị ứng.
Lb. rhamnousus GG đã được thử nghiệm trên hai đối tượng có mức độ
dị ứng cao đó là phụ nữ 6 tuần trước khi sinh và trẻ sơ sinh trong vòng 6
tháng. Kết quả cho thấy có sự giảm có ý nghĩa về mức độ dị ứng (Kalliomaki
et al , 2001). Nghiên cứu này cho thấy tiềm năng của probiotic trong việc tạo
ra các phản ứng giúp cơ thể chống lại các chất lạ xâm nhập vào cơ thể và
ngăn ngừa hiện tượng dị ứng xảy ra. Trong các nghiên cứu y học khác về
bệnh dị ứng của trẻ em với sữa bò, người ta thấy rằng chứng viêm da di ứng
này có thể giảm bớt khi sử dụng thực phẩm probiotic của chủng Lb.
rhamnousus và B. lactics BB-12 (Majamaa và Isolauri, 1996; 1997; Isolauri et
al, 2000) [18].
Ngoài các ứng dụng chính trên thì probiotic theo như các nghiên cứu
khác còn có khả năng thuyên giảm triệu chứng đường ruột của hội chứng ruột
bị kích thích, nhiễm nấm âm đạo, nhiễm Helicobacter pylori ở dạ dày, bệnh
viêm ruột, và nhiễm trùng đường tiết niệu [21] [34].
24
2.3.3. Các tiêu chuẩn sàng lọc một chủng vi khuẩn làm probiotic
25