1
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, nông nghiệp, nông dân, nông
thôn luôn là vấn đề lớn trong toàn bộ các giai đoạn của quá trình phát triển.
Trong gần 30 năm đổi mới vừa qua ở Việt Nam, kinh tế nông thôn đã có sự
chuyển biến sâu rộng: sản xuất lương thực tăng, an ninh lương thực được
bảo đảm, khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng như gạo, cà phê, hạt
điều, thuỷ hải sản,… đã được nâng lên và có vị thế trên thị trường thế giới,
đời sống của người nông dân được cải thiện. Tỷ lệ đói nghèo của khu vực
nông thôn đã giảm rõ rệt, Chính phủ và các nhà tài trợ đã có sự đầu tư thích
đáng cho cơ sở hạ tầng cơ bản trong khu vực nông thôn, điều này đã hỗ trợ
rất lớn cho việc cải thiện điều kiện sống của người dân nông thôn.
Trong bối cảnh quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và tiến
trình công nghiệp hoá ngày càng nhanh, những thay đổi nêu trên tạo ra cơ
hội cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam gắn kết với thị
trường thế giới, hòa nhập chung vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra các thách thức lớn. Đó là việc
thu hẹp không gian nông thôn cho đô thị, ảnh hưởng của đô thị tới kiến trúc,
kinh tế, đời sống và văn hóa nông thôn. Đã xuất hiện nhận thức coi quá trình
công nghiệp hóa là sự phát triển công nghiệp bằng mọi giá. Nhận thức này
lan tỏa về các làng quê Việt Nam, làm thay đổi mạnh mẽ đời sống kinh tế,
xã hội của nông thôn, gây ảnh hưởng sâu sắc tới các hệ thống sản xuất,
thương mại, dịch vụ, môi trường, kiến trúc của nông thôn. Hệ quả tất yếu là
không gian nông thôn bị phá vỡ tại nhiều nơi, chất lượng cơ sở hạ tầng
thấp, kinh tế nông thôn chậm phát triển và có khoảng cách lớn so với thành
thị, xã hội nông thôn tồn tại nhiều bất ổn, văn hóa truyền thống bị mai một,
môi trường sinh thái bị ô nhiễm.
và các mục tiêu của XDNTM.
2
Ngày 4/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 về
Chương trình mục tiêu Quốc gia về XDNTM giai đoạn 2010 – 2020.
3
Do đó, đề tài: “Huy động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hà Nội” có tính cấp thiết cả về
lý luận, thực tiễn và được nghiên cứu sinh lựa chọn làm đề tài luận án tiến sĩ.
2
Mục đích nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án là:
- Làm rõ cơ sở khoa học về huy động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng
CSHT NTM.
- Đánh giá đúng thực trạng, xác định những vấn đề đang đặt ra trong
huy động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng CSHT NTM trên địa bàn Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng
CSHT NTM ở Hà Nội, góp phần thực hiện thành công chương trình
XDNTM toàn thành phố.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực
tiễn về nông thôn mới, cơ sở hạ tầng nông thôn mới, huy động và sử dụng
vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung nghiên cứu:
phân tích, tổng hợp, so sánh số liệu, thông tin để hình thành các nhận định,
đánh giá, các kết quả nghiên cứu của luận án. Cụ thể:
- Số liệu, thông tin thu thập từ các Sở: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư,
NN&PTNT Hà Nội được phân tích, tổng hợp, so sánh để có được cái nhìn
tổng quan về kết quả thực hiện các tiêu chí XDNTM và tình hình tài chính
nói chung cho XDNTM ở Hà Nội.
- Số liệu, thông tin thu được từ các cấp chính quyền cơ sở được phân
tích, tổng hợp, so sánh để có được những nhận định, đánh giá cụ thể về
tình hình XDNTM ở cơ sở cũng như về thực trạng huy động và sử dụng
vốn đầu tư cho xây dựng CSHT NTM ở Hà Nội.
5
4.2 Phương pháp nghiên cứu tình huống
Luận án nghiên cứu và lựa chọn một số mô hình hiệu quả trong huy
động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng CSHT nông thôn thành công trên
thế giới, kinh nghiệm điển hình về việc huy động và sử dụng vốn đầu tư
xây dựng CSHT NTM ở một số địa phương trong nước; để từ đó có căn
cứ khái quát thành lý luận cũng như có những áp dụng hợp lý khi đề xuất
các giải pháp của luận án.
4.3 Phương pháp điều tra, khảo sát
Luận án đã thực hiện phương pháp điều tra, khảo sát tại một số huyện,
xã trên địa bàn Hà Nội để thiết lập thêm một hệ thống thông tin, số liệu phục
vụ cho đề tài, góp phần gia tăng tính thực tiễn và thuyết phục của các kết
luận, đánh giá, các kết quả nghiên cứu (Xem phụ lục).
5
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học
công XDNTM toàn thành phố.
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các danh mục và phụ lục, nội dung luận
án bao gồm các phần, chương như sau:
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Chương 1. Cơ sở lý luận về huy động và sử dụng vốn đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
Chương 2. Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3. Giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hà Nội
7
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1
CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN
1.1 Các nghiên cứu về nông thôn mới và cơ sở hạ tầng nông thôn mới
1.1.1 Các nghiên cứu về nông thôn mới
Các công trình nghiên cứu trên thế giới chủ yếu bàn về phát triển nông
thôn nói chung. Sở dĩ như vậy vì các nước trên thế giới chỉ theo đuổi những
mục tiêu chung của phát triển nông thôn mà không đặt ra thuật ngữ nông
thôn mới. Trên thế giới hiện nay chỉ có 2 nước thực hiện những chương trình
phát triển nông thôn gắn với chữ “mới”. Đó là Hàn Quốc với phong trào
Làng mới (Saemaul Undong) và Trung Quốc với công cuộc Xây dựng nông
to lớn cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Tuy nhiên, những vấn đề bất
ổn, những mặt trái của nền kinh tế thị trường bắt đầu phát sinh mà một trong
số đó là sự phát triển mất cân đối giữa nông thôn với thành thị. Công nghiệp,
thành thị có xu hướng ngày càng phát triển, trong khi đó nông nghiệp, nông
thôn nghèo nàn, lạc hậu và đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa. Xuất
phát từ những đòi hỏi cấp bách từ thực tiễn đó, Đảng cộng sản Việt Nam
(2008) đã đề ra mục tiêu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong Nghị
quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa X): “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã
hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao,
môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự
lãnh đạo của Đảng được tăng cường”. [13, tr.126]. Đây cũng chính là dấu
mốc ra đời của thuật ngữ nông thôn mới ở Việt Nam.
Có thể thấy rằng, XDNTM ở Việt Nam được bắt đầu từ một nhiệm vụ
chính trị do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng, nhằm khắc phục những
hạn chế, yếu kém của khu vực nông thôn trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xuất phát từ đây, các nghiên cứu trong
9
nước bắt đầu tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về XDNTM
để tạo nền tảng khoa học cho việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng.
Trong cuốn Xây dựng nông thôn mới, Những vấn đề lý luận và thực tiễn do
PGS,TS Vũ Văn Phúc chủ biên (2012); các vấn đề lý luận và thực tiễn khá
đa dạng về xây dựng nông thôn mới đã được phân tích qua các bài viết của
các cộng tác viên, như: vấn đề đất đai (PGS, TS Trần Thị Minh Châu với bài
viết “Chính sách đất đai trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta”),
tiếp cận với các thị trường, các dịch vụ, các cơ hội, sự hiện đại và văn minh.
Cũng theo tác giả bài báo, một con đường nhỏ cũng có thể đóng vai trò như
một con đường cao tốc đến với thịnh vượng.
Các khu vực được quan tâm nhiều trong phát triển CSHT nông thôn là
khu vực các nước đang và kém phát triển như châu Phi, nam Á, châu Mỹ La
tinh, trung đông. Tại đây, bên cạnh các chương trình của Nhà nước, có nhiều
tổ chức phi chính phủ đã thực hiện các chương trình hỗ trợ, với mong muốn
đem đến khu vực nông thôn những chuyển biến tích cực về CSHT để khu
vực nông thôn tiến tới không còn là một khu vực yếu thế so với thành thị
nữa. Trong nghiên cứu “Rural Infrastructure in Africa: Policy Direction”
của Robert Fishbein (2001), chuyên gia tư vấn thuộc dự án AFR
Infrastructure Family - Ngân hàng thế giới, nghiên cứu đã tập trung vào
chiến lược cơ sở hạ tầng nông thôn (RI) và bao gồm bốn lĩnh vực: i) Giao
thông nông thôn; ii) Cung cấp và Vệ sinh môi trường nước; iii) Năng lượng
nông thôn; và iv) Viễn thông và Thông tin nông thôn. Nghiên cứu đã phản
ánh thực trạng CSHT nông thôn trong bối cảnh phát triển của Châu Phi,
đánh giá kinh nghiệm thu được về vai trò của cơ sở hạ tầng nông thôn ở các
vùng nông thôn châu Phi, từ đó cung cấp những khuyến nghị chính sách về
tầm nhìn tổng thể trong phát triển CSHT nông thôn cho châu Phi.
Ngân hàng thế giới là tổ chức tiên phong khi đã thực hiện nhiều dự án
cũng như những nghiên cứu tại nhiều nơi trên thế giới và đã có những đóng
góp tích cực cho quá trình này. Các nghiên cứu của tổ chức này đã đem đến
những khuyến nghị chính sách hữu ích cho chính phủ các nước trong việc
cải thiện hệ thống CSHT ở nông thôn.
11
Đối với tình hình nghiên cứu trong nước, có thể thấy các nghiên cứu về
CSHT cho phát triển nông thôn còn khá ít. Các đề tài hoặc chuyên đề nghiên
cứu những vấn đề về kinh tế - xã hội, về các chính sách phát triển nông
nghiệp, nông thôn trong đó có đề cập đến vấn đề phát triển hạ tầng kinh
tế - xã hội nông thôn.
1.2 Các nghiên cứu về huy động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng nông thôn
1.2.1 Các nghiên cứu về huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng nông thôn
Các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới vào cuối những năm 1990 đã
đề cập tới sự cần thiết phải đầu tư cho phát triển CSHT, với ước tính đầu tư
phát triển CSHT đã giúp cho việc giảm nghèo được khoảng 2,1% ở nhóm
nước thu nhập thấp và 1,4% ở nhóm nước thu nhập trung bình. Với một hệ
thống cơ sở hạ tầng dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp tốt như: thông tin liên
lạc, tài chính tín dụng, trường đào tạo nghề,...có tác động góp phần nâng cao
chất lượng sống của người dân nông thôn lên rất nhiều. Ngân hàng phát triển
châu Á đánh giá rằng nếu đầu tư 1 đô la cho cơ sở hạ tầng thì sẽ tiết kiệm
được 6 đô la chăm sóc sức khỏe, có nước sạch để dùng đã giảm đến 55% tỷ
lệ trẻ em tử vong, giảm mạnh tỷ lệ đau mắt hột, đường ruột và bệnh tiêu hóa,
và những con đường được mở đã làm tăng cao sự tham gia của học sinh nữ.
Cũng theo ước tính của Ngân hàng Thế giới và các tổng kết nghiên cứu
của một số nước trong khu vực châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan;
ưu tiên đầu tư phát triển CSHT là một trong những điểm quan trọng để phát
triển nông nghiệp và nông thôn. Để đáp ứng được thách thức về việc nâng
cao chất lượng của cơ sở hạ tầng dịch vụ kinh tế xã hội thì ước tính phải chi
khoảng 7% GDP bình quân cho mỗi một nước đang phát triển bao gồm cả
chi phí cho đầu tư mới và duy tu bảo dưỡng hệ thống CSHT.
Trong nghiên cứu của Ngô Việt Hương (2013): “Cần tăng cường vốn
đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn” , tác giả đã chỉ ra những hệ quả khi vốn
đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng đủ yêu cầu, đó là: Thiếu
vốn đầu tư nên CSHT phục vụ sản xuất nông nghiệp vẫn còn lạc hậu; Việc
14
1.2.2 Các nghiên cứu về sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng nông thôn
Trong hướng nghiên cứu này, mục đích cuối cùng hướng tới là việc sử
dụng vốn đầu tư đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả.
Trong mô hình đánh giá chi tiêu công do Ban thư ký chi tiêu công và
trách nhiệm tài chính - Ngân hàng thế giới (2005) đề xuất, khung đánh giá
chi tiêu công được dựa trên 6 chỉ tiêu quan trọng là: (1) Độ tin cậy của ngân
sách, (2) Tính toàn diện và tính minh bạch, (3) Lập ngân sách trên cơ sở
chính sách, (4) Khả năng dự tính và kiểm soát quá trình thực thi ngân sách,
(5) Kế toán, ghi sổ và báo cáo, (6) Kiểm toán và Giám sát bên ngoài.
Một số nghiên cứu tập trung vào việc thay đổi cơ cấu vốn đầu tư để vốn
được sử dụng tập trung, trọng điểm, nhờ đó có thể giúp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn. Trong Luận án tiến sĩ của Nguyễn Minh Tuấn (2008): “Định
hướng đổi mới đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp
nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tác giả đã hệ thống
hóa và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ sở hạ tầng và đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Trong đó, đi sâu nghiên cứu
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp bằng nguồn vốn NSNN do Bộ
NN&PTNT trực tiếp quản lý. Rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn
có thể áp dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam. Phân tích và đánh giá thực
trạng về đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp từ nguồn vốn
NSNN do Bộ NN&PTNT trực tiếp quản lý từ 1996 đến nay, rút ra những kết
quả, tồn tại. Đề xuất các giải pháp thực hiện đổi mới phương pháp quản lý
đầu tư, chính sách đa dạng hóa nguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, nhằm phát huy được hiệu suất và
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, góp phần vào phát triển sản xuất nông nghiệp
trong giai đoạn mới.
NGOÀI NƯỚC, XÁC ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP
THEO CỦA LUẬN ÁN
Qua tổng thuật các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể rút
ra một số nhận định sau:
16
- Một là, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu bàn về phát triển nông
thôn, và CSHT nông thôn nói chung. Quá trình tổng thuật các nghiên cứu
cho thấy NTM là một thuật ngữ ít được sử dụng trên thế giới. Các nghiên
cứu trên thế giới chủ yếu về phát triển nông thôn và CSHT nông thôn nói
chung. Các nghiên cứu trực tiếp về nông thôn mới trên thế giới nếu có chủ
yếu tập trung ở các nước Hàn Quốc, Trung Quốc và đều là các nghiên cứu
tổng kết kinh nghiệm thực tiễn. Các nghiên cứu về XDNTM ở Việt Nam
cũng chủ yếu mang dáng dấp tổng kết thực tiễn để phục vụ cho việc thực
hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng, chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về
CSHT NTM.
- Hai là, các nghiên cứu về XDNTM và CSHT NTM khá ít ỏi và được
thể hiện tản mát trong các công trình khác nhau, chưa có công trình nào xây
dựng được cơ sở khoa học mang tính hệ thống về NTM và CSHT NTM.
- Ba là, chưa có nghiên cứu nào làm rõ vấn đề huy động và sử dụng vốn
đầu tư xây dựng CSHT NTM. Nông thôn mới là nông thôn với những đặc
điểm, tiêu chí cụ thể để phân biệt với nông thôn cũ. Việc huy động và sử
dụng vốn đầu tư xây dựng CSHT NTM cũng phải hướng tới mục tiêu cuối
cùng là xây dựng thành công CSHT của nông thôn theo các đặc điểm, tiêu
chí xác định của CSHT NTM. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay mới chủ
yếu là về huy động và sử dụng vốn đầu tư xây dựng CSHT cho nông thôn
nói chung.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của nông thôn mới
1.1.1.1 Khái niệm nông thôn mới
Khái niệm nông thôn mới được xây dựng trên nền tảng của khái niệm
nông thôn. Nông thôn là một hệ thống tổng hợp về tự nhiên, kinh tế, và xã
hội ở đó các yếu tố cấu thành có nét đặc trưng riêng trong đó điển hình là sự
phát triển và chiếm tỷ trọng lớn của kinh tế nông nghiệp, sự sinh sống gắn bó
hòa mình với thiên nhiên của dân cư và sự lưu giữ những giá trị văn hóa giàu
bản sắc truyền thống của dân tộc.
Trải qua các giai đoạn phát triển từ nông thôn sơ khai cho đến nông
thôn dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực tiễn đã
nảy sinh một số vấn đề đối với sự phát triển của nông thôn như sau:
Kinh tế nông thôn có nguy cơ ngày càng lạc hậu do sự phát triển của
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã làm thay đổi nhanh chóng
nền sản xuất của mọi quốc gia. Nông nghiệp từ chỗ chiếm tỷ trọng lớn, là
chủ đạo phải nhường chỗ cho công nghiệp, kèm với đó là quá trình đô thị
hóa các vùng nông thôn. Ở nhiều quốc gia, tốc độ đô thị hóa quá nhanh tạo
nên cú sốc đến kinh tế nông nghiệp. Nông nghiệp, nông thôn bị bỏ rơi để ưu
tiên đầu tư cho công nghiệp. Năng suất lao động nông nghiệp thấp do thiếu
vốn đầu tư và kiến thức canh tác, kèm theo đó là sự đe dọa của thiên tai dịch
bệnh. Hệ quả là sản lượng nông sản, thực phẩm ở nông thôn không ổn định.
Kinh tế nông thôn bị lạc hậu so với kinh tế đô thị.
19
Xã hội nông thôn ngày càng phát sinh nhiều vấn đề bất cập
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã làm nảy sinh nhiều vấn đề
xã hội nổi cộm, bức xúc ở nông thôn, đặc biệt là việc làm và chuyển dịch lao
động; những va chạm, thay đổi quan niệm giá trị, lối sống của các tầng lớp
xâm phạm làng quê, phá vỡ những vùng miền, vốn đã có một nền nông
nghiệp định hình, làng quê yên bình, dân tình ổn định, xâm hại những di sản
vô giá làm nên bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.
Khoảng cách giữa nông thôn với thành thị ngày một gia tăng, góp
phần tăng thêm những bất ổn xã hội.
Khi nông thôn trở thành gánh nặng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước thì chênh lệch giữa thành thị và nông thôn ngày càng mở
rộng, qua nhiều phương diện như cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, thu nhập, tiêu
dùng, phúc lợi xã hội, đời sống văn hóa,... Quan hệ giữa công nghiệp - nông
nghiệp, thành thị và nông thôn mất cân đối và không hài hòa. Cơ cấu ngành
nghề mâu thuẫn, ngành công nghiệp và dịch vụ nông thôn phát triển chậm,
chuyển hóa gia công nông sản chậm, giá trị ngành nuôi trồng thấp,...
Có thể nói, khi công nghiệp và đô thị càng phát triển thì nông thôn,
nông nghiệp càng tụt hậu. Thực tế đó đòi hỏi phải “vực” khu vực nông thôn
nói trên khỏi sự tụt hậu, để nông thôn thực sự là “hậu phương” vững chắc
cho sự phát triển toàn diện của nền kinh tế. Đây là điều mà tất cả các quốc
gia trên thế giới đều phải thực hiện, có khác nhau chỉ là ở thời điểm và hệ
thống các tiêu chí đánh giá. Một số quốc gia đặt cho nông thôn sau quá trình
cải biến này một cái tên để phân biệt với nông thôn trước kia. Và nông thôn
mới là một trong những cái tên như vậy.
NTM trước hết phải là nông thôn, chứ không phải là thị tứ, thị trấn,...
Nông thôn mới vừa bao hàm những đặc điểm lịch sử vốn có của nông thôn
là vùng nông dân quần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp,
vừa có những thuộc tính khác với nông thôn truyền thống; đó là: làng xã văn
minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất PTBV theo hướng kinh tế hàng
hóa; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được
21
22
tế xã hội phát triển hài hòa, thu nhập được nâng cao; khoảng cách giữa NTM
so với thành thị đã được rút ngắn.
Nông thôn mới chọn lọc và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống
tốt đẹp của dân tộc
Giữ gìn, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là đặc
điểm vốn có của nông thôn. Nhưng với NTM, đặc điểm này được phát triển
ở tầm cao hơn, đó là sự chọn lọc và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống
tốt đẹp, mạnh dạn xóa bỏ các hủ tục lạc hậu. Thông quá đó, NTM giúp xây
dựng một nền văn hóa dân tộc vừa đậm đà bản sắc nhưng cũng vừa là một
nền văn hóa dân tộc tiên tiến, hướng tới chân, thiện, mỹ.
Nông thôn mới có môi trường sinh thái trong lành và được quan tâm
bảo vệ, là nơi con người gắn bó, giao hòa với thiên nhiên
Đây là một đặc điểm quan trọng để nhận diện NTM. Nếu như nền văn
minh công nghiệp phá vỡ mối quan hệ hài hòa vốn có giữa con người và
thiên nhiên, thì sản xuất nông nghiệp lại mang chức năng phục vụ hệ
thống sinh thái. Từ vườn cây, ao cá, những cánh đồng lúa, trang trại cà
phê, tiêu,... hệ thống tưới tiêu, hồ đập thủy lợi cho đến bờ dậu,... làm cho
con người gần gũi, gắn chặt với thiên nhiên. Tuy nhiên thực tế ở Việt
Nam cũng như nhiều nơi trên thế giới cho thấy ngay cả ở những vùng
nông thôn, điều này không được thực hiện bởi sự phát triển thiếu tính quy
hoạch và định hướng đã khiến cho nhiều làng quê bị “gạch hóa”, “bê tông
hóa”, “phố hóa”, từng ngày phá vỡ đi môi trường sinh thái. Do vậy, mục
tiêu của xây dựng NTM phải làm rõ nét đặc trưng này, lấy đó làm thước
đo cho sự hoàn thiện của mô hình NTM.
1.1.2 Cơ sở hạ tầng nông thôn mới
1.1.2.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng nông thôn mới
Để định nghĩa về CSHT NTM, trước hết cần làm rõ khái niệm CSHT.
Hiện nay, cách hiểu về CSHT khá đa dạng. Có quan điểm cho rằng: “Cơ sở
24
1.1.2.2 Nội dung cơ sở hạ tầng nông thôn mới
Hệ thống CSHT kỹ thuật
Hệ thống giao thông nông thôn
Hệ thống giao thông nông thôn bao gồm các tuyền đường nằm trên địa
bàn nông thôn phục vụ cho việc giao lưu trong địa bàn và với bên ngoài. Hệ
thống này bao gồm các tuyến đường liên huyện, liên xã, liên thông, liên
bản,...Phát triển giao thông nông thôn là cần thiết và đặc biệt quan trọng
trong đời sống kinh tế, xã hội nông thôn. Mạng lưới giao thông được ví như
huyết mạnh của kinh tế - xã hội nông thôn mà nếu hệ thống này phát triển sẽ
gắn kết giữa các vùng nông thôn, giữa nông thôn với thành thị trong buôn
bán, trao đổi hàng hóa, cung cấp dịch vụ, giao lưu văn hóa cũng như các hoạt
động xã hội khác.
Hệ thống thủy lợi nông thôn
Hệ thống CSHT thủy lợi nông thôn bao gồm toàn bộ hệ thống công
trình phục vụ cho việc khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước (nước mặt và
nước ngầm) và cho việc hạn chế những tác hại do nước gây ra đối với sản
xuất, đời sống và môi trường sinh thái. Các công trình chủ yếu thuộc hệ
thống thủy lợi gồm: hệ thống các hồ, đập giữ nước; hệ thống các trạm bơm
tưới và tiêu nước, hệ thống đê sông, đê biển, hệ thống kênh mương.
Hệ thống điện nông thôn
Hệ thống điện nông thôn là toàn bộ các yếu tố cơ sở vật chất làm nền
tảng cho việc cung cấp điện sử dụng vào tưới tiêu, các hoạt động sản xuất
và phục vụ sinh hoạt nông thôn. Hệ thống này bao gồm mạng lưới đường
dây tải điện từ nguồn cung cấp, hệ thống các trạm hạ thế, mạng lưới phân
phối và dẫn điện tới các dụng cụ dùng điện. Ở các vùng sâu, vùng xa
thuộc hệ thống điện nông thôn còn bao gồm cả các máy phát điện nhỏ
như của cả đất nước. Việc mở mang, phát triển về số lượng, nâng cấp về cơ
sở vật chất của các cơ sở giáo dục – đào tạo sẽ góp phần quan trọng vào việc
nâng cao trình độ dân trí, đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng
cho việc XDNTM.