BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
LƢƠNG THỊ QUYÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HỌC VÀ TRÍ
TUỆ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC
CƠ SỞ TẠI HUYỆN HOÀ AN, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
đã tận tình hƣớng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Sinh lý
ngƣời và động vật khoa Sinh - KTNN và phòng Sau đại học trƣờng Đại học
Sƣ phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực
hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em
học sinh của các trƣờng Tiểu học, trƣờng THCS huyện Hòa An, tỉnh Cao
Bằng cùng tất cả bạn bè, đồng nghiệp và những ngƣời thân trong gia đình đã
giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này. Hà Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2013
Tác giả
Lƣơng Thị Quyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMI
Body mass index (chỉ số khối cơ thể)
cs
Cộng sự
CDC
National Center for Chronic Disease Prevention and
Health Promotion (Trung tâm quốc gia phòng bệnh
mãn tính và tăng cƣờng sức khỏe)
ĐHSP
Đại học Sƣ phạm
HSSH
Hằng số sinh học ngƣời Việt Nam
IQ
Intelligent Quotient
KTNN
Kĩ thuật nông nghiệp
Nxb
Nhà xuất bản
SD
Standard Diviation (độ lệch chuẩn)
TH
Tiểu học
THCS
Trung học cơ sở
Tr
Trang
UNESCO
Bảng 3.4. Cân nặng của học sinh nam
40
Bảng 3.5. Cân nặng của học sinh nữ
41
Bảng 3.6. Cân nặng của học sinh nam và nữ
43
Bảng 3.7. Vòng ngƣc trung bình của học sinh nam
46
Bảng 3.8. Vòng ngực trung bình của học sinh nữ
48
Bảng 3.9. Vòng ngực trung bình của học sinh nam và nữ
49
Bảng 3.10. Chỉ số pignet của học sinh nam và nữ
52
Bảng 3.11. BMI của học sinh nam và nữ
54
Bảng 3.12. Phân bố học sinh theo mức dinh dƣỡng
57
Bảng 3.13. Phân bố học sinh theo giới tính và mức dinh dƣỡng
58
Bảng 3.14. Chỉ số IQ của học sinh theo lứa tuổi
59
Bảng 3.15. Chỉ số IQ của học sinh theo giới tính
61
Bảng 3.16. Phân bố học sinh theo mức trí tuệ
63
Bảng 3.17. Phân bố học sinh theo giới tính và mức trí tuệ
64
Bảng 3.18. Phân bố học sinh theo kiểu hình thần kinh
66
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Tên hình
Trang
Hình 2.1. Biểu đồ BMI đối với nam từ 2 đến 20 tuổi
26
Hình 2.2. Biểu đồ BMI đối với nữ từ 2 đến 20 tuổi
26
Hình 3.1. Biểu đồ biểu diễn chiều cao đứng của học sinh nam
34
Hình 3.17. Biểu đồ biểu diễn chỉ số IQ của học sinh
60
Hình 3.18. Biểu đồ biểu diễn chỉ số IQ của học sinh theo giới tính
62
Hình 3.19. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng chỉ số IQ của học sinh
62
Hình 3.20. Biểu đồ thể hiện sự phân bố học sinh theo các mức trí tuệ
65
Hình 3.21. Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ học sinh theo kiểu hình hƣớng ngoại
67
Hình 3.22. Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ học sinh theo kiểu hình thần kinh
hƣớng nội và trung tính
67
Hình 3.23. Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ học sinh nam và nữ theo kiểu hình
thần kinh
70
Hình 3.24. Biểu đồ biểu diễn điểm trí nhớ thị giác của học sinh
72
Hình 3.25. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng điểm trí nhớ thị giác của học sinh
72
Hình 3.26. Biểu đồ biểu diễn điểm trí nhớ thính giác của học sinh
74
Hình 3.27. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng điểm trí nhớ thính giác của
học sinh
74
Hình 3.28. Biểu đồ so sánh điểm trí nhớ thị giác và điểm trí nhớ
thính giác của học sinh nam
76
Hình 3.29. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng điểm trí nhớ thị giác và
điểm trí nhớ thính giác của học sinh nam
Hình 3.41. Đồ thị biểu diễn tốc độ giảm điểm cảm xúc về sức khỏe
của học sinh
90
Hình 3.42. Biểu đồ thể hiện trạng thái cảm xúc về tính tích cực của
học sinh
93
Hình 3.43. Đồ thị biểu diễn tốc độ giảm điểm cảm xúc về tính tích
cực của học sinh
93
Hình 3.44. Biểu đồ biểu diễn trạng thái cảm xúc về tâm trạng của
học sinh
95
Hình 3.45. Đồ thị biểu diễn tốc độ giảm cảm xúc về tâm trạng của
học sinh
95
Hình 3.46. Mối tƣơng quan giữa IQ với trí nhớ thị giác
97
Hình 3.47. Mối tƣơng quan giữa IQ với trí nhớ thính giác
98
Hình 3.48. Mối tƣơng quan giữa IQ và độ tập trung chú ý
98
Hình 3.49. Mối tƣơng quan giữa IQ và trạng thái cảm xúc
99
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Một số chỉ số sinh học của học sinh
3.1.1. Chiều cao đứng của học sinh
3.1.2. Cân nặng của học sinh
3.1.3. Vòng ngực trung bình của học sinh
3.1.4. Chỉ số pinet của học sinh
3.1.5. BMI của học sinh
3.1.6. Tỉ lệ học sinh theo mức dinh dƣỡng
1
4
4
4
10
16
18
21
24
24
24
33
33
33
39
46
59
59
61
63
64
66
66
68
70
70
73
75
79
79
82
86
86
89
91
94
96
96
98
99
100
104
Bằng còn ít, đặc biệt trên đối tƣợng học sinh tiểu học và trung học cơ sở.
Hòa An là một huyện thuộc tỉnh Cao Bằng, phần lớn dân cƣ là dân tộc
tày làm công việc sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp là chủ yếu nên đời sống
còn gặp nhiều khó khăn ảnh hƣởng đến sự phát triển toàn diện của các em học
sinh. Từ trƣớc đến nay có rất ít đề tài nghiên cứu về tình trạng thể lực và trí
tuệ của trẻ em ở địa bàn này.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài:“Nghiên cứu một
số chỉ số sinh học và trí tuệ của học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở tại
huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng sự phát triển các chỉ số sinh học của học sinh
trƣờng tiểu học và trung học cơ sở tại huyện Hòa An (chiều cao đứng, cân
nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, BMI).
- Xác định một số chỉ số về trí tuệ (năng lực trí tuệ, kiểu hình thần kinh,
trí nhớ ngắn hạn, khả năng chú ý và trạng thái cảm xúc) của học sinh.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cƣờng phát triển thể chất đối với
học sinh trƣờng TH và THCS tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh 7 - 15 tuổi (chiều cao
đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, chỉ số BMI).
- Nghiên cứu một số chỉ số trí tuệ (năng lực trí tuệ, kiểu hình thần kinh,
trí nhớ ngắn hạn, khả năng chú ý và trạng thái cảm xúc).
- Nghiên cứu mối liên quan giữa năng lực trí tuệ với các chỉ số nghiên
cứu.
3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu là học sinh từ 7 - 15 tuổi của 4 trƣờng: Tiểu
học Nƣớc Hai, Tiểu học TrƣngVƣơng, Trung học cơ sở Trƣ
.
Thể lực của con ngƣời là một chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tổng hợp của
cơ thể có liên quan chặt chẽ với sức lao động và thẩm mỹ. Các chỉ số hình
thái thể lực phản ánh mức độ phát triển của các hệ cơ quan trong cơ thể hoàn
chỉnh. Một trong số những biểu hiện cơ bản của thể lực là các số đo kích
thƣớc, trong đó có chiều cao, cân nặng và vòng ngực. Từ các chỉ số cơ bản kể
trên có thể tính thêm các chỉ số khác biểu hiện mối liên quan giữa chúng nhƣ
chỉ số pignet, chỉ số khối cơ thể (BMI). . . . Các chỉ số này có ý nghĩa trong
việc đánh giá sự phát triển thể lực của cơ thể con ngƣời từ lúc mới sinh đến
lúc chết.
Trong các chỉ số về hình thái thể lực, chiều cao là chỉ số quan trọng
nhất thƣờng đƣợc lựa chọn trong hầu hết các lĩnh vực ứng dụng nhân trắc học,
chiều cao phản ánh quá trình phát triển chiều dài của xƣơng và nói lên tầm
vóc của con ngƣời. Ludman Nold và Volanski [62] đã có nhiều minh chứng
cho thấy ảnh hƣởng của hoàn cảnh địa lý đến sự tăng trƣởng chiều cao. Ý
nghĩa phổ biến hơn cả của chiều cao là ở chỗ đƣợc coi nhƣ biểu hiện của thể
lực và nó là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá thể lực trong công tác tuyển
chọn vào quân đội, tuyển học sinh, tuyển lao động…cũng nhƣ trong hầu hết
các cuộc điều tra cơ bản về hình thái học, nhân chủng học, y học. Sự phát
triển chiều cao phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố bên trong cơ thể nhƣ di truyền,
hoocmôn… và các yếu tố bên ngoài nhƣ dinh dƣỡng, điều kiện kinh tế, văn
hóa xã hội… Các yếu tố này tác động lên sự phát triển chiều cao một cách
dần dần, liên tục và không đồng nhất (theo [46]).
5
Cân nặng (khối lƣợng của cơ thể) cũng là một chỉ số đƣợc dùng để
đánh giá về dinh dƣỡng - thể lực của con ngƣời sớm nhất và phổ biến nhất.
Từ thế kỷ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá
thể lực [75]. Cân nặng của cơ thể liên quan chặt chẽ với điều kiện dinh dƣỡng
hơn là phụ thuộc vào yếu tố di truyền [3], [54]. Cân nặng tăng không đồng
đều trong quá trình phát triển của con ngƣời. Ở các châu lục khác nhau, cân
thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với thực tiễn của mỗi nƣớc. Những công
trình nghiên cứu của P.N.Baskirov trong cuốn “Nhân trắc học” (1962) đã đƣa
ra quy luật phát triển cơ thể ngƣời dƣới ảnh hƣởng của điều kiện sống. Evan
Dervael trong cuốn “Nhân trắc học” (1964) đã đƣa ra nhận xét toàn diện về các
quy luật phát triển thể lực theo giới tính, theo lứa tuổi và nghề nghiệp. Ngoài
ra, còn có các công trình của Bunak, A.M.Uruxon (theo [62]).
Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy sự tăng trƣởng một cách hoàn
chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến 25 là luận án tiến sỹ của Christian Fridrich Jumpert
ngƣời Đức vào năm 1754. Cũng trong khoảng thời gian này, xuất hiện nghiên
cứu của P. Montbeilard thực hiện trên con trai mình trong 18 năm liên tục từ
năm 1759 đến năm 1777 (theo [48]). Đây là phƣơng pháp rất tốt đã đƣợc ứng
dụng cho đến ngày nay. Sau đó, còn có nhiều công trình khác của Edwin
Chadwick ở Anh, Carlschule ở Đức, H.P. Bowditch ở Mỹ, Paul Godin ở Pháp…
Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trƣởng chiều
cao và cân nặng của trẻ em là của Mondiere (1875). Sau đó là công trình của
Huard và Bogot (1938) qua tác phẩm “Những đặc điểm nhân chủng và sinh
học của ngƣời Đông Dƣơng” hay “ Hình thái học ngƣời và giải phẫu thẩm mỹ
học” của Huard và Đỗ Xuân Hợp (1943) (theo [48]). Tuy số lƣợng chƣa
nhiều, nhƣng các tác phẩm đã nêu đƣợc các đặc điểm nhân trắc của ngƣời
Việt Nam đƣơng thời.
7
Sau năm 1954, có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu các đặc điểm hình
thái, giải phẫu, sinh lý của ngƣời Việt Nam. Năm 1975 cuốn sách “Hằng số
sinh học ngƣời Việt Nam” [63] do giáo sƣ Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ
biên đƣợc xuất bản. Đây là một công trình trình bày khá hoàn chỉnh về các chỉ
số sinh học, sinh lý, hóa sinh của ngƣời Việt Nam. Trong đó, các chỉ số sinh
học của ngƣời Việt Nam từ sơ sinh tới 15 tuổi đƣợc nghiên cứu tƣơng đối
toàn diện . Có 30 chỉ số về đặc điểm hình thái thể lực trẻ em đƣợc công bố
nhƣ chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, chỉ số pignet, BMI, QVC.
1871 và năm 1993 các tác giả nhận thấy, sau hơn một thập kỷ, đối với học
sinh Hà Nội có sự khác biệt rõ rệt về chiều cao và cân nặng. Còn đối với học
sinh Vĩnh Phú thì về chiều cao có sự khác biệt rõ, còn về cân nặng chƣa có sự
khác biệt rõ. So với học sinh nông thôn ở cùng một độ tuổi thì học sinh ở
thành phố, thị xã có xu hƣớng phát triển thể lực tốt hơn (theo [46]).
Nghiêm Xuân Thăng [58], đã đo 17 chỉ số hình thái (chiều cao, cân
nặng, vòng ngực, chỉ số pignet, Broca ) của ngƣời Việt Nam từ 1 - 25 tuổi ở
một số vùng của Nghệ An và Hà Tĩnh. Tác giả có nhận xét, sự phát triển
chiều cao ở tất cả các độ tuổi của cƣ dân vùng Nghệ An có khí hậu vừa nóng
khô vừa nóng ẩm so với cƣ dân vùng đồng bằng Bắc Bộ không có thời kỳ
nóng khô thấp hơn 0,5 - 4cm, nhƣng cân nặng lại tƣơng đƣơng, mức chênh
lệch cao nhất cũng chỉ là 0,5kg. Theo tác giả, điều kiện sống đã ảnh hƣởng
đến sự sinh trƣởng và phát triển các chỉ số hình thái của con ngƣời. Tác giả
còn cho biết, các chỉ số về kích thƣớc có sự khác biệt giữa nam và nữ, ở các
độ tuổi, các kích thƣớc của nam đều lớn hơn của nữ. Tuy nhiên, cũng có một
số giai đoạn nữ phát triển nhanh hơn nam và đạt giá trị lớn hơn. Ở các lứa tuổi
khác nhau, có sự phát triển không đồng đều, phát triển nhanh ở độ tuổi 5 - 7,
10 - 11và 13 - 14 tuổi.
9
Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả A.Goran, Nguyễn Công khanh,
J.Lidgren, Dƣơng Bá Trực, Trần Thu Hà [16] trên học sinh từ 7 đến 11 tuổi
quận Đống Đa, Hà Nội về cân nặng, chiều cao và BMI cho thấy, cả ba chỉ số
này đều tăng dần theo tuổi.
Từ năm 1998 - 2002, Trần Thị Loan [46] nghiên cứu trên học sinh Hà
Nội từ 6 - 17 tuổi. Tác giả nhận thấy, chiều cao của học sinh nam tăng nhanh
ở giai đoạn 11 - 15 tuổi, của học sinh nữ ở giai đoạn 10 - 13 tuổi. Cân nặng
của học sinh tăng nhanh lúc 14 - 16 tuổi đối với nam và ở học sinh nữ là lúc
12 - 14 tuổi, vòng ngực trung bình của học sinh nam tăng nhanh lúc 13 - 16
tuổi, ở học sinh nữ lúc 12 - 14 tuổi. Khi so sánh với kết quả nghiên cứu của
ít nhiều, nhƣng đều xác định đƣợc là chúng biển đổi theo lứa tuổi và mang
đặc điểm giới tính. Trong quá trình phát triển ở trẻ em có hai giai đoạn nhảy
vọt tăng trƣởng. Mốc đánh dấu lứa tuổi nhảy vọt của các công trình là tƣơng
đối thống nhất. Chiều cao tăng nhanh nhất từ 12 - 15 tuổi ở nam và 11 - 13
tuổi ở nữ, còn cân nặng cũng tăng nhanh nhất từ 13 - 15 tuổi ở nam và 11 -13
tuổi ở nữ, vòng ngực trung bình tăng nhanh nhất từ 14 - 16 tuổi ở nam và 12 -
14 tuổi ở nữ. Các chỉ số này có sự khác biệt giữa nam và nữ, giữa học sinh
thành phố, thị xã và học sinh nông thôn.
1.2. Đặc điểm và các nghiên cứu về trí tuệ của học sinh
1.2.1. Trí tuệ và các nghiên cứu về trí tuệ
Theo tiếng Latinh, trí tuệ có nghĩa là hiểu biết thông tuệ. Theo từ điển
tiếng việt [71] trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất
định.
Trí tuệ là một phẩm chất rất quan trọng trong hoạt động của con ngƣời,
liên quan đến cả phẩm chất lẫn tinh thần. Chính vì vậy, việc nghiên cứu trí
11
tuệ, đƣợc coi là một lĩnh vực liên ngành, đòi hỏi sự kết hợp của các nhà sinh lí
học, tâm lí học, toán học, điều khiển học và các ngành khoa học khác.
Cho đến nay, vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về trí tuệ và có thể
thấy rõ ba khuynh hƣớng chính. Khuynh hƣớng thứ nhất coi trí tuệ là năng
lực nhận thức, năng lực học tập của cá nhân. Theo Huarte J. thì trí tuệ là tập
hợp các khả năng lĩnh hội tri thức, phán xét, đánh giá và sáng tạo. Hệ thống
những thuộc tính trí tuệ là những năng lực chung đảm bảo cho sự lĩnh hội tri
thức một cách rõ ràng và có hiệu quả [68]. Khuynh hƣớng thứ hai coi trí tuệ là
năng lực tƣ duy trừu tƣợng. Chức năng của trí tuệ là sử dụng có hiệu quả các
khái niệm. Hạt nhân của trí tuệ là thao tác tƣ duy nhƣ phân tích, tổng hợp, so
sánh, khái quát hóa, trừu tƣợng hóa [68]. Khuynh hƣớng thứ ba coi trí tuệ là
năng lực thích nghi của con ngƣời đối với thế giới xung quanh. Theo
Wechsler. [74], trí tuệ là năng lực chung của nhân cách, đƣợc thể hiện trong
năng trí tuệ tập trung ở các vùng chuyên biệt nên có thể đánh giá trí tuệ con
ngƣời qua đƣờng nét và đo sọ não. Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu
về trí tuệ của F.Galton (1893), Binnet và Simon (1905), Petersalovey và John
Mager (theo [32], [59])
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu trí tuệ mới chỉ đƣợc tiến hành trong vài
chục năm trở lại đây. Trƣớc năm 1975, các công trình nghiên cứu trí tuệ của
con ngƣời chƣa đƣợc quan tâm nhiều. Chỉ có ít công trình do cán bộ trong
ngành y sử dụng để chẩn đoán trí tuệ của bệnh nhân tâm thần ở bệnh viện
Bạch Mai và bệnh viện nhi Thụy Điển [59]. Từ cuối những năm 1980 đến nay
đã có nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu
của các công trình [1], [2], [20], [21], [59], [60] cho thấy, có thể sử dụng
các trắc nghiệm trí tuệ để chẩn đoán khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ em.
13
Tác giả đầu tiên nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam
là Trần Trọng Thủy [59]. Ông đã nghiên cứu sự phát triển trí tuệ bằng test
Raven (1989) và xác định đƣợc chiều hƣớng, cƣờng độ, trình độ và chất
lƣợng phát triển trí tuệ của học sinh. Ông còn đề cập đến mối tƣơng quan giữa
trí tuệ và thể lực của học sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự phân bố học
sinh theo chỉ số IQ gần giống với phân phối chuẩn, có sự khác biệt về chỉ số
IQ giữa học sinh ở thành thị và ở nông thôn, trình độ phát triển trí tuệ của học
sinh Việt Nam không thua kém học sinh nƣớc ngoài.
Năm 1991, Ngô Công Hoàn [20] nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của
học sinh thành phố Huế và Hà Nội đã nhận thấy, có sự chênh lệch về mức độ
phát triển trí tuệ giữa học sinh thƣờng và học sinh chuyên toán.
Nguyễn Thạc, Lê Văn Hồng (1993) [57] qua nghiên cứu sự phát triển
trí tuệ của học sinh Hà Nội từ 10 - 14 tuổi đã cho thấy, sự phát triển trí tuệ
tăng theo lứa tuổi và có sự phân hoá từ 11 tuổi trở đi, trí tuệ của nam có xu
hƣớng cao hơn của nữ.
Năm 1994, Trịnh Văn bảo [3] đã nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu tố di