ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THANH HUY
Tên đề tài:
“
ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN VỚI VẤN ĐỀ VỆ
SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 - 2014
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn:
TS. Phan Thị Thu Hằng
Khoa Quản lý tài nguyên - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành đề tài này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám
hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Môi
trường, các thầy cô giáo trong trường đã truyền đạt cho tôi những kiến thức
quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại nhà trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Phan Thị Thu Hằng
đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực
hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các bạn sinh viên trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi để hoàn thành đề tài này.
2.2. Ảnh hưởng của thực phẩm không an toàn đến sức khỏe con người 6
2.3. Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới và ở tại Việt Nam
10
2.3.1. Thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới 10
2.3.2. Thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam 14
2.4. Nguyên nhân gây mất vệ sinh an toàn thực phẩm 17
2.5. Các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 20
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 25
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
3.2. Địa điểm và thời gian điều tra 25
3.3. Nội dung nghiên cứu 25
3.4. Phương pháp điều tra 25
3.5. Phương pháp xử lý số liệu 26
PHẦN 4: DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 27
4.1. Tình hình chung về trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 27
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên 27
4.1.1.1. Vị trí địa lý 27
4.1.1.2. Địa hình 27
4.1.1.3. Khí hậu, thời tiết 27
4.1.1.4. Điều kiện kinh tế - xã hội 28
4.1.1.5. Giới thiệu chung về trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 28
4.1.2. Quy mô sinh viên 31
4.1.3. Phân khu chức năng 31
4.2. Hiện trạng việc cung ứng thực phẩm trên địa bàn trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên 33
4.3. Hiện trạng sử dụng thực phẩm trong sinh viên trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên 38
4.4. Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm 43
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tên chuyên đề
“Đánh giá về nhận thức của sinh viên trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm”
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thái Nguyên là thành phố có nhiều trường đại học, cao đẳng với một số
lượng sinh viên rất lớn. Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là một ngôi
trường đã có bề dày kinh nghiệm giảng dạy hơn 40 năm với các ngành liên
quan tới nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản – tài nguyên – môi trường và
một số ngành khác. Hằng năm sinh viên có nhu cầu học vào các ngành mà
trường đào tạo là rất lớn. Tới đây, các bạn sinh viên được giao lưu học hỏi lẫn
nhau để làm cho mình được hoàn thiện hơn, được tiếp thu kiến thức mà các
giảng viên có trình độ cao, tâm huyết với nghề giảng dạy. Sẽ có rất nhiều vấn
đề mà các bạn sinh viên cần quan tâm trong thời gian học tại trường, đặc biệt
là vấn đề làm thế nào để mình có được cách học sao cho thật khoa học và
mang lại hiệu quả cao, để có thể phấn đấu và rèn luyện được tốt nhất. Bên
cạnh vấn đề học tập và rèn luyện thì có một số vấn đề khác cần được quan
tâm. Đó là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đối với người dân và sinh viên
của các trường đại học – cao đẳng trên địa bàn Thái Nguyên nói chung và đặc
biệt đối với Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng. Đây là vấn đề
đã và đang được các cơ quan chức năng kết hợp với nhà trường quan tâm rất
nhiều.
Vệ sinh an toàn thực phẩm trong nước nói chung và của Thái Nguyên
nói riêng đang tạo ra nhiều mối lo lắng cho người dân. Thực chất nhiều sự
kiện đã nói lên điều đáng lo ngại này như việc tiếp tục sử dụng những hóa
chất cấm dùng trong nuôi trồng, chế biến và bảo quản nông lâm thủy sản,
thực phẩm, việc sản xuất một số sản phẩm kém chất lượng hoặc do quy trình
Thông qua điều tra sẽ hình thành cơ sở lý luận của vấn đề vệ sinh an
toàn thực phẩm trong nhận thức của sinh viên và từ đó đề ra một số định
hướng, giải pháp và kiến nghị góp phần giải quyết hiệ tượng trên.
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Những vấn đề chung về vệ sinh an toàn thực phẩm
2.1.1. Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm:
Bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng
trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh,
duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự
tăng trưởng kinh tế, văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minh. Mặc dù
cho đến nay đã có khá nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong công tác bảo
vệ và vệ sinh an toàn thực phẩm, cũng như biện pháp về quản lý giáo dục như
ban hành luật, điều lệ và thanh tra giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng
các bệnh do kém chất lượng về vệ sinh thực phẩm và thức ăn vẫn chiếm tỷ lệ
khá cao. Để biêt được rõ hơn về định nghĩa an toàn thực phẩm thì trước tiên ta
đi tìm hiểu xem như thế nào được gọi là thực phẩm và từ đó có được định
nghĩa về vệ sinh an toàn thực phẩm sát nghĩa nhất.
Định nghĩa về thực phẩm như sau:
* Thực phẩm: là những thức ăn, đồ uống của con người dưới dạng tươi
sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm, và các
chất đã được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm.
Định nghĩa về vệ sinh an toàn thực phẩm như sau:
* Vệ sinh an toàn thực phẩm: là tất cả các điều kiện, biện pháp cần thiết
từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử
dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn không gây hại cho sức
khỏe, tính mạng người tiêu dùng.
Hiện nay đang có 2 khái niệm được sử dụng phổ biến và rộng rãi: Vệ
hay tự nhiên vượt quá mức quy định cho phép của tiêu chuẩn quốc tế hoặc
quốc gia, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Những ảnh hưởng của thực phẩm khi không đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm:
Thiệt hại chính do các bệnh gây ra từ thực phẩm đối với cá nhân là chi
phí khám bệnh, phục hồi sức khỏe, chi phí do phải chăm sóc người bệnh, sự
mất thu nhập do phải nghỉ làm… Có rất nhiều căn bệnh nguy hiểm cũng chỉ
vì sử dụng các loại thực phẩm không an toàn mà gây ra bi kịch thảm thương
một số căn bệnh như: Bệnh tiêu chảy, bệnh tim mạch, các bệnh liên quan tới
da, ngộ độc thực phẩm… Và còn rất nhiều những căn bệnh khác được ủ bệnh
bên trong cơ thể tới khi phát bệnh thì đã không còn thuốc chữa.
Đối với nhà sản xuất, đó là những chi phí do phải thu hồi, lưu giữ sản
phẩm, hủy hoặc loại bỏ sản phẩm, những thiệt hại do mất lợi nhuận do thông
tin quảng cáo… Và thiệt hại lớn nhất là mất lòng tin của người tiêu dùng.
Ngoài ra còn có các thiệt hại khác như phải điều tra, khảo sát, phân tích,
kiểm tra độc hại, giải quyết hậu quả.
Do vậy, hậu quả mà các bệnh do sử dụng thực phẩm không an toàn là
rất lớn. Vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để phòng các bệnh gây ra
từ thực phẩm có ý nghĩa thực tế rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế và
xã hội, bảo vệ môi trường sống của các nước đã và đang phát triển, cũng như
nước ta. Mục tiêu đầu tiên của vệ sinh an toàn thực phẩm là đảm bảo cho
người ăn tránh bị ngộ độc do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm hoặc có chất độc,
thực phẩm phải đảm bảo lành và sạch.
Bảng 2.1 Nguyên nhân gây nên mất vệ sinh an toàn thực phẩm
Nguyên nhân Tỷ lệ (%)
Quá trình chăn nuôi, gieo trồng, sản xuất lương thực,
thực phẩm
51,45
Quá trình chế biến không hợp vệ sinh 51,75
bào của Clostridium perfringens dễ đề kháng với nhiệt độ. Clostridium
perfringens sinh ra 6 týp độc tố: A, B, C, D, E, F; Trong đó độc tố týp A là
độc tố chủ yếu gây ra ngộ độc thực phẩm, sau đo đến týp F. Chúng là những
trực khuẩn tạo thành bào tử, không chuyển động. Nhiệt độ thích hợp cho sinh
trưởng của chúng là 37
0
C – 45
0
C, độc tố nhiều nhất là ở điều kiện 37
0
C.
Vi khuẩn E.coli là loại trực khuẩn gram ( - ), thuộc nhóm Escherichia,
không sinh nha bòa, có thể di động hoặc không di động. Sự có mặt của E.coli
được coi chỉ điểm của sự nhiễm phân người hoặc động vật trong thực phẩm.
E.coli ký sinh bình thường ở ruột người, đặc biệt là ở ruột già. E.coli phát
triển ở nhiệt độ 5
0
C – 40
0
C, tốt nhất ở 37
0
C pH thích hợp là 7 - 7,2. Như các
loại không sinh nha bào khác, E.coli kém chịu nhiệt (55
0
C trong vòng 1 giờ
hoặc 60
0
C trong vòng 30 phút là bị tiêu diệt). Ngộ độc thực phẩm do E.coli
thường gặp ở trẻ em và người già, hay xuất hiện vào mùa hè. Thực phẩm dễ
bị nhiễm E.coli nhất là sữa, phomát…
2009 có hơn 400 các bệnh lây truyền qua thực phẩm không an toàn. VSATTP
đã được đặt lên hàng đầu nghị trình tại nhiều hội nghị y tế và sức khỏe cộng
đồng toàn cầu, nhưng tình hình gần như không được cải thiện bao nhiêu, nhất
là khi thế giới liên tiếp xả ra thiên tai và nguồn nước sạch ngày càng khan
hiếm. Khi người dân không có đủ miếng ăn thì việc kiểm tra chất lượng
những gì mà họ ăn đã trở thành điều quá xa vời. Tiến sĩ Margaret Chan, Tổng
giám đốc Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO), cho biết mỗi tháng Liên Hợp Quốc
nhận được khoảng 200 báo cáo từ 193 quốc gia về các trường hợp thực phẩm bị
nhiễm độc. Bà nhấn mạnh “Một lần nữa, tôi xin khẳng định, vệ sinh an toàn
thực phẩm là vấn đề chung của cả nhân loại chứ không riêng một nước nào”.
Theo WHO đã thống kê và cho biết mỗi năm những ca bị ngộ độc ở
một số nước trên thế giới như sau:
Tại Mỹ có 76.000.000 người bị ngộ độc thực phẩm trong đó có 325.000
người phải nhập viện, tử vong 5.000 người.
Tại Anh mỗi năm có 190 ca ngộ độc/1.000 dân.
Tại Nhật Bản cứ 100.000 người có 40 ca ngộ độc thực phẩm mỗi năm.
Tại Úc mỗi năm có 4.2 triệu người bị ngộ độc thực phẩm.
Tại Việt Nam từ năm 2005 đến 2008 cả nước có 761 vụ ngộ độc, với
26.596 người mắc, tử vong 226 người và tính đến tháng 9 năm 2009 trên toàn
quốc có 111 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.128 người mắc, 31 người tử vong.
Chất lượng VSATTP hiện nay rất đáng lo ngại, đã được rất nhiều các
phương tiện thông tin đại chúng phản ánh. Việc sử dụng không an toàn về
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trọng, kháng sinh, hóa chất trong
chăn nuôi trông trọt nông nghiệp, thủy hải sản hiện nay còn khá phổ biến.
Chúng ta cũng có những vùng rau sạch, trái cây sạch, những nông trại chăn
nuôi thực hiên đúng quy định, nhưng số lượng và tỷ lệ vô cùng nhỏ bé, mới
chỉ đạt 8,5% tổng diện tích rau cả nước, cây ăn quả an toàn đạt khoảng 20%.
Thực phẩm có chữa chất độc hoặc được sử dụng chất bảo quản, phụ gia, phẩm
màu công nghiệp có hại cho sức khỏe cũng còn lưu hành rất nhiều trên thị
trường như nước tương có chất 3-MCPD, nước mắm có U-rê, hải sản tươi
Về tổ chức bộ máy, chưa có một hệ thống tổ chức làm công tác
VSATTP thống nhất từ trung ương đến địa phương, chưa có mạng lưới thanh
tra chuyên nghành về VSATTP. Tại Mỹ có cơ quan Kiểm soát Thực phẩm và
Dược phẩm (CDC), ở Trung Quốc cũng có cơ quan tương tự. Còn tại Việt
Nam có tới 5 bộ quản lý về VSATTP gồm: Bộ Y Tế, Bộ Công Thương, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài
Nguyên và Môi trường và UBND các cấp, dẫn đến một thực trạng không có
cơ quan nào chịu trách nhiệm chính khi có vấn đề về VSATTP. Đối với tuyến
tỉnh, các tỉnh đã thành lập Chi cục Vệ sinh an toàn thực phẩm trực thuộc Sở Y
tế, nhưng do văn bản hướng dẫn của Trung ương không quy định thống nhất
về biên chế của Chi cục, nên mỗi tỉnh có mô hình tổ chức và số lượng biên
chế khác nhau, mặc dù khối lượng công việc giữa các tỉnh không khác nhau
bao nhiêu. Cán bộ sang Chi cục VSATTP làm nhiệm vụ không được hưởng
phí cấp ưu đãi ngành. Còn tuyến huyện, xã vẫn chưa có quy định về tổ chức
bộ máy và cán bộ chuyên trách trong khi nội dung và khối lượng công tác trên
lĩnh vực VSATTP là rất lớn, lại thực hiện chủ yếu tại cơ sở. Đây là một
nghịch lý ai cũng thấy rõ, nhưng vẫn chưa có biện pháp nào để giải quyết phù
hợp, triệt để. Về cơ sở làm việc và trang thiết bị kiểm nghiệm phục vụ mảng
công tác này được xem là khâu thiết yếu nhất thì hiện vẫn còn nhiều bất cập,
thậm chí tuyến tỉnh vẫn chưa có phòng xét nghiệm nào đủ chuẩn để công bố
kết quả.
Về kinh phí hoạt động, chỉ có từ kinh phí Chương trình mục tiêu
VSATTP, nhìn chung còn rất thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu hoạt động.
Theo báo cáo của Chính phủ, kinh phí được cấp cho công tác quản lý
VSATTP giai đoạn 5 năm (2004-2008) là 329 tỷ đồng, tính bình quân đầu
người của cả nước đạt 780 đồng/người/năm, chỉ bằng 1/19 mức đầu tư của
Thái Lan và bằng 1/136 so với Mỹ.
Nói như thế không có nghĩa là công tác đảm bảo chất lượng VSATTP
chỉ toàn là khó khăn và hạn chế. Tuy còn rất nhiều khó khăn, hạn chế nhưng
chúng ta đã thực hiện được rất nhiều các hoạt động, công tác nhằm bảo đảm
tích lũy các chất độc hại từ môi trường bên ngoài vào thực phẩm, gây rối loạn
chuyển hóa các chất trong cơ thể, trong đó có bệnh tim mạch và ung thư.
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, năm 2007 cả nước xảy ra 248 vụ
ngộ độc thực phẩm (NĐTP) với 7.329 người mắc, trong đó 55 người tử vong.
So với năm 2006 tuy số lượng tử vong giảm 3,5% nhưng tổng số người mắc
lại tăng 2,7%. Từ đầu năm 2008 đến hết tháng 9-2008 cả nước xảy ra 150 vụ
ngộ độc thực phẩm với 6.724 người mắc, trong đó 49 người tử vong. Riêng
trong tháng 10/2008 có ít nhất 12 vụ ngộ độc thực phẩm trên cả nước với
khoảng 300 người mắc, trong đó đáng lưu ý nhất là tình trạng ngộ độc rượu
tại TP. Hồ Chí Minh (bảy vụ với 12/30 người tử vong).
Hiện có 40 tỉnh, thành phố trong nước xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm
thường xuyên. Số ca ngộ độc thực phẩm phải nhập viện tập chung cao nhất ở
miền Đông Nam Bộ (chiếm 51,91%). Nguyên nhân là do khu vực này đang
phát triển nhiều khu công ngiệp và chế xuất nhưng vệ sinh an toàn thực phẩm
ở các bếp ăn tập thể chưa được đảm bảo. Thế nhưng số ca tử vong do ngộ độc
lại tập chung nhiều ở các vùng núi phía Bắc (55,81%) và nguyên nhân thường
do người dân vô tình sử dụng nấm độc, bánh ngô chứa độc tố nấm mốc và
rượu không đảm bảo vệ sinh an toàn. Tuy nhiên theo thống kê của tổ chức Y
tế thế giới (WHO), mỗi năm nước ta có tới hơn 8 triệu người bị ngộ độc và
tiêu chảy do ăn uống. Đáng nói là do tập quán ăn uống mất vệ sinh nên tỷ lệ
nhiễm giun sán ở Việt Nam chiếm khoảng 80% dân số. Tại hội nghị toàn
quốc về VSATTP lần thứ II năm 2008 (ngày 9/4/2008) các số liệu thống kê
đã khiến không ít người phải nghi ngờ về khả năng quán xuyến của các nhà
quản lý trong việc kiểm tra VSATTP. Ban chỉ đạo quốc gai về VSATTP có
hơn mười bộ, ngành tham gia, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một cơ quan
nào chuyên trách về thanh tra VSATTP.
GS. Tiến sĩ Đặng Vũ Minh, Nguyên Chủ nhiệm UB Khoa học Công
nghệ và Môi trường của Quốc Hội cho biết, vấn đề vệ sinh ATTP hiện nay
đang thu hút sự quan tâm đông đảo của người dân. Trong quá trình nghiên
cứu dự thảo Luật An toàn thực phẩm, các chuyên gia đầu ngành, cơ quan
chuẩn và quy chuẩn, nhưng việc sử dụng nó như thế nào, ra sao sẽ không dễ
gì thay đổi hành vi gian lận trong kinh doanh.
2.4. Nguyên nhân gây mất vệ sinh an toàn thực phẩm
Sau đây là những nguyên nhân tiêu biểu của vấn đề gây mất vệ sinh an
toàn thực phẩm:
* Do vi khuẩn, virus, ký sinh, nấm gây nên
Nguyên làm cho thực phẩm không an toàn gồm thực phẩm ngiễm vi
sinh độc hại (vi khuẩn, virus, ký sinh, nấm) là nguyên nhân chính yếu gây
nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm tập thể và sử dụng những loại hóa chất,
phụ gia dùng trong nông sản, thực phẩm không đúng quy định gây ảnh hưởng
xấu đến sức khỏe người tiêu dùng (như dùng hóa chất không cho phép, hoặc
hóa chất được phép sử dụng trong chế biến thực phẩm, nhưng lại được dùng
quá hàm lượng hoặc chất độc sinh ra trong quá trình bảo quản, chế biến, chưa
kể một số độc tố tự nhiên).
* Quá trình chăn nuôi, gieo trồng, sản xuất thực phẩm, lương thực
- Thực phẩm có nguồn gốc từ gia súc, gia cầm bị bệnh hoặc thủy sản
sống ở nguồn nước bị nhiễm bẩn.
- Các loại thực vật được bón quá nhiều phân hóa học, sử dụng thuốc trừ
sâu không cho phép hoặc cho phép nhưng không đúng về liều lượng hay thời
gian cách ly. Cây trồng ở vùng đất bị ô nhiễm hoặc tưới phân tươi hay nước
thải bẩn, sử dụng các chất kích thích tăng trưởng, thuốc kháng sinh.
* Quá trình chế biến không hợp vệ sinh
- Quá trình giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm; quá trình thu hái lương
thực, rau, quả không theo đúng quy định.
- Sử dụng chất phụ gia không đúng quy định của Bộ Y tế để chế biến
thực phẩm.
- Sử dụng các dụng chế biến thực phẩm không đảm bảo vệ sinh.
- Người chế biến thực phẩm đang bị bệnh truyền nhiễm, tiêu chảy, đau
bụng, nôn, sốt, ho hoặc nhiễm trùng ngoài da.
quyết và quá qua loa, khiến nhiều người kinh doanh thực phẩm “lờn thuốc”.
Trên thực tế trong năm 2007 số cơ sở vi phạm chiếm hơn 14% số cơ sở được
thanh tra. Tuy nhiên 61% số cơ sở vi phạm được hưởng “án treo” (cảnh báo),
25,9% số cơ sở bị phạt hành chính với tổng số tiền phạt là 2,33 tỉ đồng, mức
độ tiêu hủy sảm phẩm chỉ chiếm 8,67% và mức độ đóng cửa cơ sở vi phạm
cong khiêm tốn hơn, chỉ 0,44%.
Trên đây là những nguyên nhân tiêu biểu nhất gây nên việc mất vệ sinh
an toàn thực phẩm. Vệ sinh an toàn thực phẩm không được đảm bảo sẽ gây ra
rất nhiều hậu quả khó có thể lường trước được và biến chứng của việc sử
dụng các loại thực phẩm không đảm bảo an toàn là rất lớn. Vì vậy chúng ta
cần có những biện pháp cụ thể và hành động thiết thực để bảo vệ sức khỏe
tránh khỏi những hậu quả của việc mất an toàn vệ sinh trong thực phẩm.
2.5. Các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Sau đây là các biện pháp bảo đảm Vệ sinh an toàn thực phẩm
* Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi cung ứng:
- Khâu sản xuất ban đầu
+ Đảm bảo an toàn trong chăn nuôi:
Địa điểm an toàn.
Thiết kế chuồng trại, kho, thiêt bị chăn nuôi phù hợp.
Con giống và quản lý giống.
Thực hiện tốt vệ sinh chăn nuôi, vệ sinh giết mổ.
Quản lý thức ăn, nước uống và nước vệ sinh.
Quản lý đàn gia cầm gia súc.
Quản lý dịch bệnh và phòng trừ bệnh.
Quản lý và sử dụng thuốc thú ý hợp lý.
Quản lý chất thải và bảo vệ môi trường.
Quản lý côn trùng, gặm nhấm và động vật khác/
+ Đảm bảo nuôi trồng an toàn
Quản lý đất trồng.
Quản lý nước tưới.