Hiệu quả sử dụng của chế phẩm sinh học Aminomixpolyvit trên gà đẻ tại trại gia cầm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------

PHƯƠNG HOÀNG QUẾ CHÂU
Đề tài:
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CỦA CHẾ PHẨM SINH HỌC AMINOMIXPOLYVIT TRÊN GÀ ĐẺ TẠI TRẠI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Chăn nuôi thú y

Khoa

: Chăn nuôi thú y

Khóa học

: 2011 - 2015

Thái Nguyên - năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Giảng viên hướng dẫn

: GS. TS. Từ Quang Hiển

Thái Nguyên - năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------

PHƯƠNG HOÀNG QUẾ CHÂU

Đề tài:
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CỦA CHẾ PHẨM SINH HỌC AMINOMIXPOLYVIT TRÊN GÀ ĐẺ TẠI TRẠI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Chăn nuôi thú y

Lớp

: K43 - CNTY - N02



Bảng 4.3:

Tỷ lệ đẻ của gà, năng suất, sản lượng trứng qua các tuần tuổi
và toàn kỳ.................................................................................... 36

Bảng 4.4:

Khối lượng trứng gà qua các tuần tuổi (g) ................................. 38

Bảng 4.5:

Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng của gà thí nghiệm ......... 40

Bảng 4.6:

Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng.............................................. 42

Bảng 4.7:

Sơ bộ hạch toán thức ăn và thuốc thú y/ 1 gà đẻ. ....................... 44


iii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Biểu đồ năng suất trứng gà qua các tuần tuổi ................................. 37
Hình 4.2: Biểu đồ khối lượng trứng gà qua các tuần tuổi ............................... 39
Hình 4.3: Biểu đồ tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng (kg) .............................. 43

Kg

Kilogam

Nxb

Nhà xuất bản

TN

Thí nghiệm

TNHH

Trách nhiện hữu hạn

TTTĂ

Tiêu tốn thức ăn


v

MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2

4.2.4. Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Aminomix-polyvit đến chất lượng
trứng ................................................................................................................ 39
4.2.5. Hiệu suất sử dụng thức ăn cho sản xuât trứng ...................................... 41
4.2.6. Hiệu quả kinh tế khi bổ sung chế phẩm sinh học Aminomix-polyvit. . 43
PHẦN 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................... 45
5.1. Kết luận .................................................................................................... 45
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 46


i

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm
khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình
giảng dạy, dìu dắt tôi hoàn thành tốt chương trình học, tạo cho tôi có được
lòng tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này.
Nhân dịp này, tôi xin chân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường,
Ban Chủ nhiện khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy bảo tôi trong toàn
khóa học.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên
hướng dẫn GS.TS. Từ Quang Hiển đã quan tâm giúp đỡ tận tình và tạo mọi
điều kiện giúp tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận.
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người
thân đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, giành những tình cảm và sự
động viên vô cùng quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và
trong quá trình hoàn thành khóa luận này.

nuôi gia cầm trong việc sử dụng chế phẩm sinh học vào sản xuất.


3

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Khả năng sinh sản của gia cầm
* Đặc điểm cơ quan sinh sản của gia cầm
Gà là loài đẻ trứng, cấu tạo cơ quan sinh sản ở gà mái bao gồm: buồng
trứng, ống dẫn trứng và lỗ huyệt.
- Buồng trứng:
Buồng trứng là nơi hình thành lòng đỏ - tế bào trứng. Tế bào trứng rất
giàu dinh dưỡng, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển của phôi thai.
Các bộ phận khác của trứng như: lòng trắng, màng vỏ, vỏ cứng là do ống dẫn
trứng tạo ra (Ngô Giản Luyện, 1994) [9]. Trong thời kỳ đầu ấp trứng, cả hai
buồng trứng trái và phải đều hình thành phát triển. Nhưng ngày ấp thứ 5 đến 7,
buồng trứng trái phát triển lớn hơn buồng trứng bên phải, đến khi gia cầm trưởng
thành, chỉ có một buồng trứng và ống dẫn trứng trái phát triển và hoạt động chức
năng. Còn buồng trứng và ống dẫn trứng bên phải không phát triển.
Số lượng tế bào trứng trong buồng trứng rất lớn, buồng trứng gà có
khoảng 586-3605 tế bào trứng ở các giai đoạn phát triển khác nhau và trọng
lượng buồng trứng thay đổi theo trạng thái chức năng (tuổi) (Nguyễn Duy
Hoan và Trần Thanh Vân, 1998) [5].
Ống dẫn trứng:
Theo đặc điểm hình thái và chức năng sinh lý, ống dẫn trứng được chia
làm 5 phần: Loa kèn, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung và âm đạo. Ống
dẫn trứng của gà dài khoảng 10-20cm, đường kính 0,3-0,8mm, khi đẻ trứng

phôi phát triển giai đoạn đầu. Nhân tế bào hình tròn, màu nhạt hơn nguyên


5

sinh chất và nằm trên nguyên sinh chất. Trong nhân chứa ADN, ARN và các
đôi nhiễm sắc thể.
- Sự hình thành trứng trong ống dẫn trứng:
Quá trình hình thành trứng là một quá trình sinh lý phức tạp, có sự điều
chỉnh hoocmon. Tế bào trứng thành thục tách khỏi buồng trứng, chuyển vào túi
lòng đỏ hoặc trực tiếp vào loa kèn. Lòng đỏ dừng lại ở loa kèn khoảng 20 phút,
sau đó di chuyển xuống dưới và dần dần hình thành dây chằng lòng đỏ. Lòng đỏ
tiếp tục di chuyển xuống phần tiết lòng trắng và ở đây khoảng 2,5 đến 3 giờ, phía
ngoài được bao bọc bởi một lòng trắng đặc (gọi là lớp trong lòng trắng đặc), có
tác dụng cố định hình dạng lòng đỏ. Phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng tiếp
tục hình thành lớp lòng trắng loãng và hoàn chỉnh khi trứng đến phần eo. Khi
trứng di chuyển qua phần tiết lòng trắng thì chỉ có 40-60% lòng trắng được hình
thành. Phần eo tiết lòng trắng dạng hạt kiểu keratin, đây chính là thành phần hình
thành màng trong dưới vỏ cứng. Trứng dừng lại ở phần eo, tích tụ các chất tiết
để tạo thành màng ngoài dưới vỏ cứng, đồng thời ở phần eo cũng xảy ra quá
trình tích lũy lớp ngoài lòng trắng loãng. Trứng qua phần eo mất khoảng 70
phút. Trứng tiếp tục qua phần tử cung mất khoảng 19-20 giờ. Tại đây các tế bào
biểu mô tử cung tiết ra chất tiết tạo thành một lớp màng vỏ ngoài cứng, không
màu và óng ánh. Trứng ra âm đạo rất nhanh và ra ngoài lỗ huyệt. Tổng thời gian
hình thành trứng trong toàn bộ các thành phần của ống dẫn trứng mất khoảng
23,5-24 giờ.
* Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất trứng của gia cầm
- Khả năng sinh sản của gia cầm
Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố
cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả chăn nuôi gia cầm. Sản

đạt tỷ lệ đẻ 5%. Theo Brandsch và Bilchel (1978) [1] thì những đàn gà có tuổi
đẻ quả trứng đầu lớn hơn 245 ngày cho sản lượng trứng thấp hơn những gà có
tuổi đẻ quả trứng đầu nhỏ hơn 215 ngày là 6,9 quả.


7

Theo Siegel Dunmington (dẫn theo Bùi Thị Oanh, 1996) [12], thì khối
lượng cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể là những nhân tố ảnh hưởng đến
tính thành thục của gà mái.
Tuổi đẻ trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, các yếu tố môi
trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng. Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy
gia cầm đẻ sớm. Tuổi đẻ đầu sớm hay muộn liên quan đến khối lượng cơ thể
ở một thời điểm nhất định. Những gia cầm thuộc giống bé có khối lượng cơ
thể nhỏ tuổi thường thành thục sớm hơn những gia cầm có khối lượng cơ thể
lớn. Trong cùng một giống, cơ thể nào được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, điều
kiện thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành thục
sinh dục sớm hơn. Nhiều công trình nghiên cứu đã minh chứng tuổi thành
thục sinh dục sớm là trội so với tuổi thành thục sinh dục muộn.
- Năng suất trứng
Năng suất trứng hay sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số
trứng đẻ ra trên một đơn vị thời gian. Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan
trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục.
Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ và
đặc điểm của cá thể. Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ
thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh. Năng suất trứng được đánh giá qua
cường độ đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ.
Đây là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của gia cầm. Đỉnh cao của tỷ lệ đẻ có
mối tương quan với năng suất trứng. Giống gia cầm nào có tỉ lệ đẻ cao và kéo
dài trong thời kỳ sinh sản, chứng tỏ là giống tốt, nếu chế độ dinh dưỡng đảm bảo

lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, tác động dinh
dưỡng tới gà sinh sản. Đồng thời khối lượng trứng lại quyết định tới chất
lượng trứng giống, tỷ lệ ấp nở, khối lượng và sức sống của gà con. Nó là chỉ
tiêu không thể thiếu của việc chọn lọc con giống.


9

Brandsch và Bilchel (1978) [1] cho rằng hiện nay chưa có cách nào tăng
khối lượng của quả trứng mà không đồng thời tăng khối lượng cơ thể. Đó
cũng là một trong những nguyên nhân phải hạn chế khối lượng trứng ở mức
55-60g để phù hợp với sinh lý của gà và kỹ thuật ấp nở. Ngoài ra tăng khối
lượng trứng còn làm tăng chi phí thức ăn.
Theo Brandsch và Bilchel (1978) [1] cho biết: Trứng gia cầm khi bắt đầu đẻ
nhỏ hơn trứng gia cầm trưởng thành. Khối lượng trứng phụ thuộc trực tiếp vào chiều
dài, chiều rộng của quả trứng cũng như khối lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ.
Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [5] trong cùng một độ tuổi
thì khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá trị
năng lượng giảm dần. Khối lượng gà con khi nở thường bằng 62-78% khối lượng
trứng ban đầu. Khối lượng trứng của các loại giống khác nhau thì khác nhau.
Ngoài ra, một tính trạng số lượng quan trọng là thành phần thứ hai cấu
thành năng suất trứng đó là khối lượng trứng. Nó là một chỉ tiêu quan trọng để
đánh giá chất lượng trứng giống, tỉ lệ nở, chất lượng và sức sống của gà con.
Ranch (1971) (dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình, 1998) [2] đã cho rằng khối
lượng này tăng dần đến cuối chu kỳ đẻ. Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tạo
(1985) [17], khi nghiên cứu trên gà Rhoderi cho thấy hệ số này là 0,33(Nguyễn Huy Đạt,1991) [4]. Nguyễn Duy Nhị và Nguyễn Thị San (1984)
[11], khi nghiên cứu ấp trứng gà Plymouth Rock dòng DT3 đời 8 đã cho kết
luận trứng có khối lượng 50-54g nở đạt 72,6%. Còn trứng có khối lượng 5660g nở đạt 57,9%.
* Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm
- Đặc điểm hình thái

của các yếu tố như canxi (70% canxi cần cho vỏ trứng là lấy trực tiếp từ thức
ăn), ngoài ra vỏ trứng hình thành cần có photpho, vitamin D3, vitamin K, các
nguyên tố vi lượng... Khi nhiệt độ tăng từ 20 - 300 C thì độ dày vỏ trứng giảm
6 - 10% khi đó gia cầm đẻ ra trứng không có vỏ hoặc bị biến dạng.


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1:

Sơ đồ bố trí thí nghiệm ............................................................... 22

Bảng 4.1.

Lịch dùng vaccine cho đàn gà .................................................... 31

Bảng 4.2:

Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) .......... 34

Bảng 4.3:

Tỷ lệ đẻ của gà, năng suất, sản lượng trứng qua các tuần tuổi
và toàn kỳ.................................................................................... 36

Bảng 4.4:

Khối lượng trứng gà qua các tuần tuổi (g) ................................. 38

giống mà còn là sự xác minh về sự liên quan giữa tỷ lệ nở với cấu tạo của
trứng. Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [5] cho rằng: Khối
lượng trứng, sự cân đối giữa các thành phần cấu tạo và cấu trúc vỏ trứng ảnh
hưởng tới tỷ lệ ấp nở. Những quả trứng quá lớn hay quá nhỏ đều có khả năng
nở kém hơn những quả trứng có khối lượng trung bình. Khi khối lượng trứng
từ 45 - 64g thì khả năng nở là 87%, khối lượng trứng nhỏ hơn 45g thì khả
năng nở giảm xuống còn 80% còn những trứng có khối lượng vượt quá 64g
thì khả năng nở là 71%.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm
Sức sản xuất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động, nó chịu ảnh
hưởng bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài.
- Giống, dòng: ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp. Cụ thể
giống Leghorn trung bình có sản lượng 250 - 270 trứng/năm, gà Lương


13

Phượng 177 trứng/năm. Về sản lượng trứng, những dòng chọn lọc kỹ thường
đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa được chọn lọc kỹ khoảng 15 - 30% về
sản lượng.
- Tuổi gia cầm: Có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng của nó. Như một
quy luật, ở gà sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai
giảm 15 - 20% so với năm thứ nhất, còn vịt thì ngược lại, năm thứ hai cho sản
lượng trứng cao hơn 9 -15%.
- Tuổi thành thục sinh dục: Liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm, nó
là đặc điểm di truyền cá thể. Sản lượng trứng của 3 - 4 tháng đầu tiên tương
quan thuận với sản lượng trứng cả năm.
- Mùa vụ: ảnh hưởng đến sức đẻ trứng rất rõ rệt. Ở nước ra, mùa hè sức
đẻ trứng giảm xuống rất nhiều so với mùa xuân, đến mùa thu lại tăng lên.
Nhiệt độ môi trường xung quanh: Liên quan mật thiết đến sản lượng

còn chịu sự chi phối trực tiếp của khí hậu, dinh dưỡng, thức ăn, chăm sóc,
quản lý, tính ấp bóng...
* Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ
Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ được xác định trên nhu cầu duy trì, nhu cầu
sản xuất trứng, nhu cầu sinh trưởng (đối với giai đoạn đầu gà đẻ).
Nhu cầu năng lượng: Ở gà đẻ, nhu cầu protein và một số axit amin là
khá cao. Gà sử dụng protein là thành phần cấu trúc quan trọng nhất đối với cơ
thể động vật. Tất cả những biểu hiện của sự sống đều gắn liền với protein từ
gluxit và lipit, nên protein phải lấy từ thức ăn một cách đều đặn với số lượng
đầy đủ và theo tỷ lệ hợp lý. Người ta đã tính rằng để duy trì sự sống, cứ 1kg
thể trọng cần 3g protein/ngày và tạo ra 100g trứng cần 28g protein, bởi vì
trong 100g trứng có 11,2g protein, mà hiệu suất sử dụng protein trong thức ăn
để tạo trứng khoảng 40%. Nhu cầu protein cũng thay đổi theo tuổi và sức đẻ
của gia cầm. Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998) [5] thì vai
trò của axit amin trong cơ thể là rất đa dạng, là thành phần chủ yếu của cơ thể.
Axit amin giữ một vai trò quan trọng trong nuôi dưỡng gia súc gia cầm.


15

Nhu cầu về khoáng: Ở gà mái đẻ, phần lớn canxi của thức ăn được sử
dụng để tạo thành vỏ trứng, vì thế nếu thiếu canxi trong thức ăn có thể ngừng
đẻ hoàn toàn. Cứ một quả trứng cần 2g canxi nên yêu cầu hàm lượng khoáng
trong khẩu phần gà đẻ trên dưới 3,5% trong khẩu phần. Gà mái nếu thiếu
canxi sẽ đẻ ra trứng vỏ mỏng hay hoàn toàn không có vỏ. Nhu cầu photpho
cho gà đẻ từ 0,5 - 0,6% trong thức ăn hỗn hợp (Hội liên hiệp gia cầm Việt
Nam, 1995). Ngoài ra, gà đẻ còn có nhu cầu về các nguyên tố khoáng đa vi
lượng như: Mn, Zn, Cu, Co, I, ... Tùy yêu cầu với số lượng ít nhưng các
nguyên tố này tham gia cấu tạo vỏ trứng, làm bền vỏ trứng, làm tăng tỉ lệ
trứng có phôi và tỉ lệ nở.

tìm kiếm thức ăn tốt phù hợp với điều kiện nuôi bán chăn thả.
Gà Ai Cập có khả chống đỡ bệnh tật và tỷ lệ nuôi sống cao. Tỷ lệ nuối
sống đến 5 tuần tuổi đạt 98,06% và 17 tuần tuổi tính trung bình cả trống +
mái là 97,03% và giai đoạn sinh sản đạt 91,19%.
Gà Ai Cập có hiệu quả sử dụng thức ăn cho tăng trọng ở mức trung
bình. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng từ 1-17 tuần tuổi là 4,44 kg và tiêu
tốn thức ăn/10 quả trứng ở giai đoạn 30 - 40 tuần tuổi là 1,67 - 2,36kg. Gà Ai
Cập có khả năng sinh trưởng tốt khối lượng cơ thể lúc 5 tuần tuổi đạt
314,16g. Lúc 17 tuần tuổi 1279,48g. Tỷ lệ trứng có phôi trung bình đạt 93%,
tỷ lệ trứng nở/trứng ấp đạt 86,55% có lúc đạt 93 - 94%, tỷ lệ nở/phôi đạt
89,87%. Đặc biệt tỷ lệ gà loại 1 đạt 98,86%.
2.1.3. Vài nét về chế phẩm sử dụng trong thí nghiệm
Thành phần chế phẩm Aminomix - polyvit:
Mỗi kg chế phẩm có :
- Saccharomyces sp: 125 tỷ tế bào sống
- Lactobacillus acidophilus: 20 tỷ tế bào sống
- Streptococcus faccium: 20 tỷ tế bào sống
- Vitamin nhóm B, khoáng vi lượng


iii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Biểu đồ năng suất trứng gà qua các tuần tuổi ................................. 37
Hình 4.2: Biểu đồ khối lượng trứng gà qua các tuần tuổi ............................... 39
Hình 4.3: Biểu đồ tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng (kg) .............................. 43




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status