ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGŨ THỊ NGÂN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG CỦA ĐÀN GÀ AI CẬP TỪ 1
ĐẾN 9 TUẦN TUỔI TẠI TRẠI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học
: Chính quy
: Sƣ phạm kỹ thuật nông nghiệp
: Chăn nuôi - Thú y
: 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGŨ THỊ NGÂN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG CỦA ĐÀN GÀ AI CẬP TỪ 1 ĐẾN
Nhân dịp này, tôi xin chân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường,
Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy bảo tôi trong toàn
khóa học.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo
hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên đã quan tâm, giúp đỡ tận tình và tạo mọi
điều kiện giúp tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận.
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
và những người thân đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, giành những
tình cảm và sự động viên vô cùng quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập
nghiên cứu và trong quá trình hoàn thành bản khóa luận này.
Cuối cùng, tôi xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe,
hạnh phúc, thành công trong công tác, đạt nhiều kết quả tốt trong giảng dạy
và nghiên cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 24 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Ngũ Thị Ngân
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 23
Bảng 4.1. Chế độ chiếu sáng cho đàn gà ........................................................ 30
Bảng 4.2. Lịch dùng vaccine cho đàn gà đẻ tại trại ........................................ 31
Bảng 4.3. Kết quả phục vụ sản xuất................................................................ 34
Bảng 4.4. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà Ai Cập qua các tuần tuổi (%) ............. 36
Eschrichia coli
KHKT
Khoa học kỹ thuật
KL
Khối lượng
Nxb
Nhà xuất bản
TĂ
Thức ăn
T.C.V.N
Tiêu chuẩn Việt Nam
TT
Tuần tuổi
TTTĂ
Tiêu tốn thức ăn
2.1.5. Khả năng chuyển hóa thức ăn ............................................................ 12
2.1.6. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm ............................ 13
2.1.7. Giới thiệu về giống gà thí nghiệm ..................................................... 17
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 18
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ...................................................... 18
vi
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ...................................................... 20
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..23
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 23
3.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 23
3.3. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................... 23
3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm .......................................................... 23
3.3.2. Phương pháp theo dõi ........................................................................ 24
3.3.2.1. Tỷ lệ sống (%): ............................................................................ 24
3.3.2.2. Sinh trưởng .................................................................................. 24
3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................. 25
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 26
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 26
4.1.1. Công tác chăn nuôi ............................................................................. 26
4.1.1.1. Công tác chuẩn bị chuồng trại ..................................................... 26
4.1.1.2. Công tác chọn giống .................................................................... 26
4.1.1.3. Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng................................................... 27
4.1.1.4. Chế độ chiếu sáng ........................................................................ 30
4.1.2. Công tác thú y .................................................................................... 31
4.1.2.1. Công tác phòng bệnh cho gà ........................................................ 31
4.1.2.2. Chẩn đoán và điều trị bệnh .......................................................... 31
4.1.2.3. Tham gia các công việc khác ....................................................... 33
4.1.2.4. Kết quả công tác phục vụ sản xuất. ............................................. 33
ứng nhanh về nhu cầu thịt, trứng. Ngoài ra, chăn nuôi gia cầm còn đóng góp
một phần không nhỏ trong việc phát triển công nghiệp nước ta như công
nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc.
Tập quán chăn nuôi gia cầm đã gắn bó với nhân dân ta từ lâu đời. Ở
nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, hầu như gia đình nào cũng có nuôi
một vài con. Trước đây, chăn nuôi gia cầm thường theo phương thức quảng
canh tận dụng. Những năm gần đây, xu hướng phát triển ngành chăn nuôi nói
chung đã theo con đường thâm canh công nghiệp hóa, chăn nuôi tập trung.
Nhiều gia đình chăn nuôi với số lượng lên đến hàng vạn con. Đặc biệt là chăn
nuôi gà công nghiệp đã khắc phục được nhiều đặc điểm của gà ta như về tốc
độ sinh trưởng và khả năng sinh sản. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
xã hội, nước ta đã nhập nhiều giống gà mới như các giống chuyên dụng
hướng trứng, hướng thịt có giá trị cao với các dòng ông, bà, bố, mẹ nhằm thay
đổi cơ cấu đàn giống gia cầm, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm,
bước đầu đạt kết quả tốt.
Hiện nay, bên cạnh những giống gà hướng thịt, các giống gà hướng
trứng cũng ngày càng được quan tâm chú trọng đầu tư phát triển. Một trong
những giống gà sinh sản có năng suất cao, chất lượng trứng tốt, thích nghi với
điều kiện khí hậu của Việt Nam là giống gà Ai Cập.
Chăn nuôi gà hướng trứng theo con đường thâm canh công nghiệp hóa,
chăn nuôi tập trung ở nước ta đã trở thành một trong những nghề phát triển
2
khá nhanh. Với những thuận lợi có được như hiện nay về các giống gà chuyên
dụng, những tiến bộ của ngành chăn nuôi gia cầm đòi hỏi phải có quy trình
chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý. Vấn đề đặt ra là phải tìm ra phương thức nuôi
phù hợp mà vẫn đảm bảo khả năng sản xuất của giống.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá
Hầu hết các nhà khoa học nghiên cứu về gia cầm trên thế giới đều cho
rằng tổ tiên của gia cầm sống hoang dã. Bằng chứng là gà hoang miền Bắc Ấn
Độ hay gà Banquiva (Gallus Gallus murghi) - một trong bốn loại hình của gà
rừng được thuần hóa đầu tiên.
Gà Banquiva thường đẻ trong tổ lót cỏ khô, lá cây; kéo dài 10 - 12
tháng; ấp 20 - 21 ngày trứng nở. Khối lượng gà trưởng thành: Gà mái
khoảng 0,7kg; gà trống khoảng 1,0 - 1,1kg. Gà Banquiva có lông màu sặc
sỡ. Gà trống có lông cổ màu vàng da cam đến vàng, lông mình đỏ nâu,
lông cánh ánh đen, lông bụng pha đen. Gà mái lông vàng nhạt, vàng trắng
đến hoa mơ. Mỏ, chân màu vàng đậm, vàng nhạt, đen. Từ các di chỉ khai
quật khảo cổ ở các vùng châu Á cho kết luận rằng cái nôi của sự thuần
hóa gà nuôi là ở châu Á (Lê Hồng Mận và cs 2007) [10].
Ở Việt Nam cho đến nay, các công trình nghiên cứu về nguồn gốc gia
cầm chưa thật đầy đủ. Tuy nhiên, nước ta lại là một trung tâm thuần hóa gà
đầu tiên ở Đông Nam Á. Trải qua hàng nghìn năm, nhờ quá trình chọn lọc tự
nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo và sự sáng tạo của con người, cho đến nay
đã tạo ra được rất nhiều giống gà khác nhau.
Ở nước ta, nuôi gà là nghề truyền thống từ lâu đời. Phổ biến là giống gà
Ri, gà Ta vàng,… Nhiều tác giả cho rằng chính tổ tiên đã thuần dưỡng được
4
gà ngay trên mảnh đất quê hương từ giống gà rừng có thể từ đời Phùng
Nguyên cách đây trên dưới 3500 năm. Trải qua quá trình phát triển nông
nghiệp, tùy theo sở thích thị hiếu, điều kiện vùng sinh thái đất đai, khí hậu,…
những giống gà có đặc điểm, tính năng khác nhau đã được tạo nên (Lê Hồng
Mận và cs 2007) [10].
Về phân loại gà, theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [13], vị trí sắp xếp của
gà trong giới động vật học như sau:
cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước. Sự sinh trưởng
chính là sự tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein. Tốc độ và sự tổng hợp
protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng
của cơ thể.
Chamber J.R (1990) [28], đã định nghĩa sinh trưởng là tổng hợp của
các bộ phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này không những khác nhau
về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng. Sự tăng
trưởng thực sự khi các tế bào mô cơ tăng thêm về khối lượng, số lượng và các
chiều đo. Vì vậy béo mỡ không phải là tăng trưởng, nó được gọi là sự tăng
trọng của cơ thể, vì béo mỡ chủ yếu là tích lũy nước, không có sự phát triển
về thân, mô, cơ.
Sự tăng trưởng của sinh vật bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến
khi cơ thể đã được trưởng thành và được chia thành hai giai đoạn chính: Giai
đoạn trong thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ).
Như vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm 2 quá trình: Tế bào sản sinh và
tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính.
Theo Phùng Đức Tiến và cs (2006) [16], thì quá trình sinh trưởng trước
hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống.
Johanson L (1972) [26], cho biết, cường độ phát triển qua giai đoạn bào
thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con
6
vật. Nhìn từ khía cạnh giải phẫu sinh lý, thì sự sinh trưởng của các mô diễn ra
theo trình tự sau:
- Hệ thống tiêu hóa, nội tiết
- Hệ thống xương
- Hệ thống cơ bắp
- Mỡ
giống, gà trống nặng hơn gà mái 24 - 32%.
Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [6] cho biết: Sự khác nhau về khối
lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn giống gà
hướng trứng 500 - 700g.
Theo Trần Công Xuân và cs (1999) [24], nghiên cứu tốc độ sinh trưởng
trên 2 dòng gà kiêm dụng (882 Jiangcun) của gà Tam Hoàng cho thấy tốc độ
sinh trưởng của hai dòng gà là khác nhau: Ở 15 tuần tuổi dòng 882 đạt
1872,67g/con dòng Jiangcun đạt 1742,86 g/con. Nguyễn Duy Hoan, Trần
Thanh Vân (1998) [5] cho biết, gà con ở 40 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 10
lần so với lúc 1 ngày tuổi, trong khi đó vịt con chỉ cần có 20 ngày để tăng gấp
10 lần khối lượng so với lúc 1 ngày tuổi.
Trần Thanh Vân (2002) [23] khi nghiên cứu khả năng sản xuất thịt của
gà lông màu Kabir, Lương Phượng và Sasso cho biết: Khối lượng cơ thể gà
10 tuần tuổi đạt lần lượt là 1990,28g/con; 1993,27 g/con; 2189,29 g/con.
Còn theo Phùng Đức Tiến (1996) [15] cho biết đối tượng gà Hybro
HV85 ở 56 ngày tuổi khối lượng cơ thể đạt 1915,38 g/con.
Theo Marco A.S (1982) [35] cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh
trưởng là từ 0,4 - 0,5. Còn Nguyễn Ân và cs (1983) [1] thì hệ số di truyền ở
các thời điểm khác nhau cũng khác nhau. Hệ số di truyền về khối lượng ở 3
tháng tuổi là 0,26 - 0,5.
8
Các nghiên cứu ở trên đây cho thấy, đặc tính di truyền của dòng, của
giống là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và sức sản
suất của gia cầm. Đồng thời, nó còn chỉ ra giới hạn mà mỗi dòng, mỗi giống
có thể đạt được. Điều này giúp cho người chăn nuôi có thể đầu tư thâm canh
hợp lý để đạt năng suất cao nhất.
Ảnh hƣởng của tính biệt
chất dinh dưỡng gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần có tầm quan trọng và
ý nghĩa riêng biệt. Đặc biệt quan trọng là protein, năng lượng, tỷ lệ năng
lượng/protein, các chất khoáng và vitamin các loại.
Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993) [9] cho rằng để phát huy được khả
năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ các chất dinh
dưỡng, được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, các axit amin với năng lượng.
Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp nuôi gà, còn được bổ sung thêm nhiều chế phẩm
sinh học hóa học, để kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng sản phẩm.
Trần Tố (2006) [20] khi nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ khác nhau giữa
methionin và lysin trong khẩu phần đến sinh trưởng của gà broiler kabir đã
cho biết: Đến 10 tuần tuổi lô có tỷ lệ methionin/lysin 40,5% cho sinh trưởng
tốt hơn các lô có tỷ lệ này bằng 45,5% và 35,5%.
Hoàng Minh Thu (1996) [14] cho rằng khối lượng cơ thể của gà broiler
Rhoderi Jiangcun ở hai chế độ dinh dưỡng lúc 12 tuần tuổi hoàn toàn khác nhau.
Bùi Đức Lũng và cs (1992) [8] đã nghiên cứu và bổ sung khoáng và
vitamin vào khẩu phần nuôi gà Hybro HV85 và cho thấy: Khối lượng ở 7 tuần
tuổi tăng 85,3g so với lô đối chứng …
Tóm lại, để đạt được năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm,
đặc biệt để phát huy được tiềm năng sinh trưởng thì một trong những vấn đề
căn bản là lập ra những khẩu phần nuôi dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở
tính toán nhu cầu axit amin cho từng giai đoạn.
10
Ảnh hƣởng của độ tuổi
Cũng như các loại vật nuôi khác, quá trình sinh trưởng, phát dục của
gia cầm từ khi mới nở tới khi gà già và chết chịu chi phối của quy luật sinh
trưởng và phát dục theo giai đoạn; quy luật sinh trưởng và phát dục không
đồng đều …
AV35 từ 1 - 9 ngày tuổi cho biết, khi mật độ nuôi cao, tăng trọng sẽ giảm.
2.1.4. Sức sống và khả năng kháng bệnh
Sức sống của gia cầm đặc trưng cho từng giống, từng dòng, từng cá thể.
Trong cùng một giống sức sống của mỗi dòng khác nhau là khác nhau,
các cá thể khác nhau trong cùng một dòng cũng có sự khác nhau, nhưng nằm
trong giới hạn nhất định của phẩm giống.
Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ
bệnh, khả năng thích nghi với điều kiện môi trường. Người ta thông qua tỷ lệ
nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm.
Tỷ lệ sống của gà con khi nở là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá sức sống của
gia cầm, ở giai đoạn hậu phôi, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao
qua các giai đoạn sinh trưởng. Tỷ lệ sống được xác định bằng tỷ lệ phần trăm
số cá thể còn sống ở một giai đoạn, so với các cá thể ở giai đoạn trước. Sự
giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do sự có mặt của các gen nửa gây
chết, nhưng phần lớn là do tác động của môi trường (Brandsch H, và Bichel
H,1978) [25]. Có thể nâng cao tỷ lệ sống bằng các biện pháp nuôi dưỡng tốt,
vệ sinh tiêm phòng kịp thời. Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống
bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn các giống vật nuôi xứ lạnh.
Tỷ lệ nuôi sống của gia cầm non trong điều kiện bình thường đạt khoảng
90%, nhưng cũng có những dòng gà tỷ lệ nuôi sống có thể lên tới 98 - 99%. Theo
kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Tiến và cs (2005) [17] cho biết tỷ lệ nuôi sống
0 - 140 ngày tuổi của các dòng chuyên thịt HE - Ross 208 đạt 95 - 98%.
12
Hill F và cs (1954) [32] đã tính toán hệ số di truyền sức sống là 0,06.
Sức sống được tính theo các giai đoạn nuôi dưỡng khác nhau.
Xét về khả năng thích nghi, khi điều kiện sống thay đổi như: Về thức
ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăn nuôi, môi trường vi sinh vật xung quanh
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn để đạt được
1kg thịt, với gà nuôi thịt tiêu tốn thức ăn chủ yếu dùng cho việc tăng khối lượng.
Nếu tăng khối lượng càng nhanh thì cơ thể đồng hóa, dị hóa tốt hơn, khả năng trao
đổi chất cao, do vậy hiệu quả thức ăn cao dẫn đến tiêu tốn thức ăn thấp.
Bằng thực nghiệm đã chứng minh tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng
phục thuộc vào các yếu tố như sau: Giống, tuổi, tính biệt, mùa vụ, chế độ
chăm sóc nuôi dưỡng cũng như tình hình sức khỏe của gia cầm.
Bùi Đức Lũng (1992) [8] cho biết gà lai V135 tiêu tốn thức ăn cho tăng
khối lượng ở các độ tuổi như sau: 4 tuần tuổi là 1,91; 5 tuần tuổi là 1,98; 6
tuần tuổi là 2,01; 7 tuần tuổi là 2,13; 8 tuần tuổi là 2,26kg.
Theo Phan Sỹ Điệt (1990) [3] khi nuôi gà broiler Ross - 208 ở 6 tuần
tuổi với mức năng lượng khác nhau cho tiêu tốn thức ăn 1,88 - 2,2kg.
Sinh trưởng nhanh và tiêu tốn thức ăn luôn là mục tiêu của nhiều công
trình nghiên cứu về lai tạo giống gia cầm.
2.1.6. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm
Trong chăn nuôi gia cầm, khả năng sinh sản của đàn gà bố mẹ có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng sản xuất của một con giống
hoặc một dòng nào đó. Khả năng sản xuất của gà không chỉ phụ thuộc vào
khả năng sinh trưởng, khối lượng lúc giết thịt mà còn phụ thuộc vào khả năng
sinh sản, số lượng trứng, số lượng gà con trên một đầu mái.
Theo Hoàng Minh Thu (1996) [14] đã viết: “Con người chú trọng đến
sinh sản của gia cầm vì không những chức năng đó liên quan đến sự sinh tồn
của loài cầm điểu mà từ đó con người mới có số lượng đông đảo gia cầm để
sử dụng hai sản phẩm quan trọng là trứng và thịt”.
14
Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố
cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia
kiện khí hậu và chế độ chiếu sáng phù hợp sẽ thành thục sớm hơn. Nhiều
công trình khoa học đã chứng minh, tuổi thành thục sinh dục sớm là trội so
với tuổi thành thục sinh dục muộn.
Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham
gia quá trình sinh sản. Đối với gia cầm mái, tuổi thành thục sinh dục là tuổi
bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến
năng suất trứng. Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu
tiên là thời điểm tại đó, đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5%.
Theo Brandsch và Bichel (1978) [25], những gà có tuổi đẻ đầu trước 215
ngày cho sản lượng trứng cao hơn gà có tuổi đẻ đầu sau 215 ngày là 6,9 quả.
- Năng suất trứng
Năng suất trứng hay sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số
trứng đẻ ra trong một đơn vị thời gian. Đối với gia cầm thì đây là một chỉ tiêu
quan trọng phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục.
Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, khí hậu,
TĂ, dinh dưỡng, mùa vụ, tuổi, độ béo, thể trọng và đặc điểm của cá thể.
Trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng như nhau, năng suất đẻ của các cá thể
trong cùng một giống khác nhau. Giữa các cá thể có sự chênh lệch khá lớn so
với chỉ tiêu TB của cả đàn. Các giống gà khác nhau thì khả năng đẻ trứng
cũng khác nhau. Năng suất trứng gia cầm phụ thuộc vào tuổi. Năng suất trứng
của gà ở năm thứ nhất cao hơn năm thứ hai. Nhiệt độ môi trường xung quanh
liên quan mật thiết với sản lượng trứng. Nếu nhiệt độ môi trường quá cao
hoặc quá thấp đều làm cho sản lượng trứng giảm. Nhiệt độ chuồng nuôi thích
hợp nhất cho gà đẻ là 14 - 220C. Năng suất trứng là một tính trạng số lượng,
phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh. Năng suất trứng được đánh giá qua
cường độ và thời gian kéo dài sự đẻ.
16