ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------
ĐÀO TRỌNG QUYẾT
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH CRD TRÊN ĐÀN GÀ THƢƠNG PHẨM TẠI
TRẠI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 – 2016
Thái Nguyên – năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------
ĐÀO TRỌNG QUYẾT
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH CRD TRÊN ĐÀN GÀ THƢƠNG PHẨM TẠI
TRẠI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
LÂM THÁI NGUYÊN
Qua đây tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân
và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và rèn
luyện tại trường.
Cuối cùng tôi xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn
nuôi Thú y luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và đạt được nhiều thành công
trong giảng dạy và trong nghiên cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2015
Sinh viên
Đào Trọng Quyết
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 26
Bảng 4.1. Chế độ chiếu sáng cho đàn gà sinh sản ......................................... 31
Bảng 4.2. Lịch dùng vacxin cho gà sinh sản................................................... 32
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 35
Bảng 4.4. Tỷ lệ nhiễm CRD của gà Ai Cập theo tuần tuổi ............................. 36
Bảng 4.5. Bệnh tích mổ khám của gà nhiễm bệnh CRD ................................ 39
Bảng 4.6. Hiệu lực điều trị bệnh CRD của thuốc Tylosin và MG-200 .......... 41
Bảng 4.7. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi ..................... 43
Bảng 4.8. Khả năng sản xuất trứng và tỉ lệ cho trứng của gà thí nghiệm qua
các tuần tuổi .................................................................................... 45
iii
VTM
Vitamin
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ................................................................... ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................... iii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iv
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2.Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.4.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 3
2.1.1. Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD).......................................................... 3
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước. .................................... 20
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 20
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 22
2.3. Vài nét giống gà thí nghiệm ..................................................................... 23
Phần 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm nước ta chiếm một vị trí quan trọng trong ngành sản
xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung. Các sản
phẩm từ chăn nuôi gia cầm như thịt, trứng là nguồn thực phẩm có giá trị dinh
dưỡng cao, có thể chế biết được thành nhiều món ăn phong phú, phù hợp với
khẩu vị người dùng. Lông gia cầm cũng là nguyên liệu cho một số ngành
công nghiệp.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của xã hội, Đảng và Nhà nước ta
đang không ngừng quan tâm, đầu tư phát triển chăn nuôi nói chung và chăn
nuôi gia cầm nói riêng nhằm mở rộng quy mô sản suất tập trung với số lượng
đàn lớn đạt chất lượng cao.
Với những thuận lợi về công tác nghiên cứu và những tiến bộ về khoa
học – kĩ thuật ngày càng phát triển, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng được hoàn
thiện, quy trình phòng trị bệnh ngày càng chặt chẽ, công tác thú y được chú ý
hơn… đây là nền tảng và là điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi gia cầm phát
triển cả ở hiện tại và tương lai.
Tuy nhiên trong chăn nuôi, vấn đề dịch bệnh luôn được quan tâm hàng
đầu bởi nó quyết định sự thành công hay thất bại trong chăn nuôi đặc biệt là
chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp. Trong những
năm gần đây có nhiều bệnh xảy ra gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi gia cầm
như cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, viêm đường hô hấp mãn tính (CRD).
Để hạn chế được dịch bệnh cần phải có những nghiên cứu sâu rộng về đặc
điểm của bệnh cũng như cách phòng chống, đồng thời phải có sự phối hợp
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD)
2.1.1.1. Giới thiệu chung.
Bệnh CRD còn gọi là bệnh “hen gà”, chúng lây lan nhanh qua đường
hô hấp, khi không khí, bụi bẩn nhiễm vi khuẩn này. Bệnh truyền dọc từ đời
mẹ sang con qua trứng, lây qua tiếp xúc trực tiếp gà bệnh, qua thức ăn.
Bệnh hô hấp mãn tính ở gà là một bệnh truyền nhiễm của nhiều loại gia cầm,
do nhiều loài Mycoplasma gây ra. Trong đó, quan trọng nhất là Mycoplasma
gallisepticum (MG) và Mycoplasma synoviae (MS) gây ra. Mầm bệnh MG là
nguyên nhân chính gây bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà. Bệnh này chủ
yếu làm cho gà chậm lớn, giảm chất lượng thân thịt, tiêu tốn thức ăn cao.
Ngoài ra, tăng chi phí trong điều trị, các chương trình phòng và chống bệnh,
bao gồm các chương trình giám sát (huyết thanh học, nuôi cấy, phân lập và
giám định) và tiêm phòng bằng vacxin góp phần làm tăng chi phí cho bệnh ở
mức nhiều nhất trong ngành chăn nuôi trên thế giới.
MG chỉ có khả năng gây bệnh trên một số loại gia cầm nhất định và
không gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
CRD có thể xếp theo 3 dạng sau:
+ Bệnh đường hô hấp mãn tính chính: nguyên nhân bị bệnh là do căng
thẳng (stress), lượng vi khuẩn MG tăng làm phát bệnh, thường nhiễm một số
vi khuẩn thứ cấp như: E.coli, Streptococcus,…
+ Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính thứ cấp: xuất phát từ gà đã bị
bệnh khác như cầu trùng, viêm phế quản truyền nhiễm,… làm cơ thể yếu đi,
có dịp cho vi khuẩn MG bùng lên sinh bệnh.
5
Bệnh sảy ra ở khắp các nước trên thế giới có chăn nuôi gia cầm. Ở Việt
Nam bệnh do Mycoplasma đã gây tổn thất rất lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm.
Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2004) [3] cho biết, hầu hết các loại gia
cầm đều mẫn cảm với Mycoplasma. Đặc biệt ở gà nuôi theo hướng công nghiệp
thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao. Bệnh này xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế
giới. Trong những năm gần đây, người ta sử dụng một số kháng sinh như:
tylosin, tiamulin, enrofloxacin,… để điều trị nên đã khống chế được bệnh này.
Nhu Vân Thu và cs (2002) [23] cho biết, CRD do 3 loài Mycoplasma
gây ra: M.gallisepticum, M.synoviae, M.meleagridis. Nhưng chủ yếu là loài
M.gallisepticum. Mycoplasma có nghĩa là “dạng nấm”, nhìn dưới kính hiển vi
thì giống như tế bào động vật nhỏ, không nhân; gallisepticum có nghĩa là
“gây độc cho gà mái”. Điều này được thấy rõ tỷ lệ nhiễm bệnh ở gà đẻ trứng
rất cao và sản lượng trứng được giảm đáng kể.
Theo Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [2], Mycoplasma có kích thước
ngang khoảng 150 - 300 ηm thường là 250 ηm khó thấy dưới kính hiển vi quang
học bình thường. Mycoplasma không có thành tế bào, bắt màu Gram âm, có tính
đa hình thái, có dạng nhỏ đến mức lọt qua nến lọc vi khuẩn, dễ mẫn cảm với áp
suất thẩm thấu, mẫn cảm với cồn, với các chất hoạt động bề mặt (xà phòng, bột
giặt,…), không mẫn cảm với penicillin, xicloserin, xephalosporin, baxitraxin và
các kháng sinh khác ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào.
Mycoplasma là những sinh vật nguyên thủy chưa có vách tế bào, cho
nên chúng dễ bị biến đổi hình dạng, là loài vi sinh vật nhỏ nhất trong sinh giới
có đời sống dinh dưỡng độc lập. Vi khuẩn có hình dạng nhỏ riêng lẻ hay tập
trung từng đôi, từng chuỗi ngắn, hình vòng nhẫn, vòng khuyên là loại Gram
âm khó bắt màu thuốc nhuộm thông thường, phải dùng phương pháp nhuộm
Giemsa mới quan sát được. Màng của Mycoplasma chỉ là lớp màng nguyên
vào thành tế bào vật chủ và đóng vai trò nhất định trong đặc tính gây bệnh.
7
Hội bác sỹ thú y (2008) [31] cho biết, Mycoplasma là vi cơ thể sống
không có thành tế bào mà chỉ có thành nguyên sinh chất. Nó là cơ thể sống có
khả năng tự nhân đôi có kích thước nhỏ nhất. Trong phân loại học,
Mycoplasma thuộc lớp Mollicutes (Mollis nghĩa là mềm, cutes là da, vỏ bọc).
Hai đặc điểm phân biệt Mycoplasma với vi khuẩn khác là kích thước genome
và thành phần các bazo nitơ của ADN.
* Tính chất nuôi cấy.
Quá trình phát triển của MG đòi hỏi cần phải có môi trường dinh dưỡng
tổng hợp, bổ sung từ 10 – 15% huyết thanh lợn, ngựa hoặc gia cầm. Các điều
kiện thích hợp cho nuôi cấy vi khuẩn trên môi trường lỏng là pH = 7,8, nhiệt
độ 370C và cần 3 – 5 ngày để phát triển; trên môi trường thạch là 3 – 7 ngày
trong điều kiện đủ độ ẩm ở 370C. Khuẩn lạc của MG hình thành trên môi
trường thạch có huyết thanh được nuôi cấy trực tiếp hoặc thông qua vài lần cấy
truyển; rất khó để thu được khuẩn lạc khi nuôi cấy trực tiếp từ bệnh phẩm. Các
khuẩn lạc trên môi trường thạch có dạng nhỏ, trơn, rìa gọn, tạo thành một khối
mờ, ở giữa hơi lồi (dạng trứng ốp nếp). Đường kính của khuẩn lạc thường là
0,2 – 0,3mm hoặc nhỏ hơn, thường mọc dọc theo các đường cấy. Hình thái
khuẩn lạc của vi khuẩn phân lập từ các loài gia cầm khác nhau cũng có sự khác
nhau. Trên môi trường thạch, chúng cũng có thể tạo nên những khuẩn lạc nhỏ
bé, khuẩn lạc có cấu tạo hạt, ở giữa có màu vàng nâu, xung quanh trong. Khi
phát triển trên môi trường dịch thể, Mycoplasma làm vẩn đục môi trường và
tạo thành những kết tủa.
Các loại Mycoplasma khác nhau có tốc độ mọc khác nhau và khuẩn lạc
của chúng cũng khó phân biệt. Không có một môi trường nào phù hợp cho tất
cả các Mycoplasma, đó cũng là một khó khăn trong công tác chẩn đoán và
có khi không nhìn thấy. Nhưng nếu sức đề kháng giảm, bệnh tích sẽ nặng lên
và lan tràn.
9
Khả năng bám dính của MG vào tế bào biểu mô đóng vai trò rất quan
trọng trong cơ chế sinh bệnh. Những biến đổi ở lớp biểu mô khí quản do MG
có thể đóng vai trò nguyên phát hoặc kế phát gây bệnh.
Trong nuôi cấy tế bào, các nhà nghiên cứu thấy rằng MG có thể nhân lên
trong các tế bào không có chức năng thực bào, khiến cho chúng đề kháng lại
với vật chủ cũng như kháng lại kháng sinh trong điều trị, gây bệnh ở thể mãn
tính, qua niêm mạc đường hô hấp để gây nhiễm trùng toàn thân.
Theo Hội bác sỹ thú y (2008) [31], mầm bệnh Mycoplasma không có
thành tế bào nên hình dạng của nó không cố định. Nó có thể là hình cầu, hình
sợi mảnh, có cơ quan bám dính ở một đầu, cơ quan này có hình bán cầu, nhô
ra và được gọi là “blebs”. Khi mầm bệnh xâm nhập vào vật chủ, nó chui vào
giữa các nhung mao niêm mạc đường hô hấp hoặc đường sinh dục, phần
“blebs” của vi khuẩn gắn vào phần đuôi sialic của thụ quan sialoglycoprotein
hoặc sialoglycolipit của tế bào vật chủ. Sự bám dính này đủ chắc để nó không
bị đào thải ra ngoài bởi nhu động và quá trình phát triển dịch của niêm mạc.
Vì nó không có thành tế bào nên cũng có hiện tượng hòa nhập màng tế bào
vật chủ và màng nguyên sinh của vi khuẩn. Các enzyme thủy phân:
neuraminidase, peroxidase, heamolysin và các loại độc tố khác được đưa vào
tế bào vật chủ. Những độc tố đó có thể dẫn đến tế bào bị tổn thương, thoái hóa
và cơ thể có thể có những đáp ứng miễn dịch và sốt. Hơn nữa, sự xâm nhập
của tế bào đơn nhân tới phần mô của hạ niêm mạc, một số lượng lớn tế bào
lympho và đại thực bào dẫn tới sự dày lên của phần tổ chức bị tấn công.
2.1.1.4. Dịch tễ học
* Loài vật mắc bệnh
nhau (từ 1 - 14 ngày), tùy thuộc vào nhiệt độ của vật mà nó bám. Vì vậy việc
vệ sinh quần áo, đồ dùng, dụng cụ chăn nuôi kém thì đó cũng là một con
đường truyền lây của bệnh. Thời gian tồn tại của bệnh được quan sát ở lòng
trắng trứng là 3 tuần ở 50C, 4 ngày ở tủ ấp, 6 ngày ở nhiệt độ phòng; ở lòng
11
đỏ, mầm bệnh tồn tại 18 tuần ở 370C, 6 tuần ở 200C. Như vậy, những quả
trứng giập, vỡ trong máy ấp có thể là nguồn lây lan bệnh. Điều đáng chú ý là
mầm bệnh có thể tồn tại ở trong tóc, da của người từ 1 - 2 ngày, vì vậy người
làm việc trong đàn gà bệnh có thể là yếu tố trung gian truyền bệnh.
Một con đường truyền lây bệnh khác là sự truyền lây qua trứng. Ở giai
đoạn cấp tính, MG dễ dàng tiến đến buồng trứng, tử cung và định cư ở đó,
những con gà mái này sẽ đẻ ra trứng nhiễm bệnh. MG không những được
phân lập từ phôi mà còn được phân lập từ màng lòng đỏ trứng tươi. Trong
một số trường hợp cụ thể, sự lây nhiễm có thể thực hiện thông qua việc sử
dụng vacxin virus mà không được làm từ trứng sạch bệnh. MG còn được tìm
thấy ở trong tinh dịch của gà trống bị bệnh vì vậy sự truyền lây có thể thực
hiện qua con đường thụ tinh từ gà trống truyền cho gà mái.
2.1.1.5. Triệu chứng.
Thời gian ủ bệnh thường từ 16 – 21 ngày. Những triệu chứng chung
nhất trong đàn gia cầm trưởng thành mắc bệnh tự nhiên bao gồm: khí quản có
tiếng ran, chảy nước mũi, gà thở khò khè do nhiều dịch đọng ở đường hô hấp
trên. Gà khó thở, há hốc mồm ra thở, vảy mỏ, chảy nước mắt, nước mũi. Bệnh
tiến triển chậm, lúc đầu nước mũi loãng, sau đặc dần và đọng lại ở xoang mặt
làm cho mặt gà sưng lên. Gà gầy nhanh rồi chết. Các xoang lúc đầu viêm,
chứa thanh dịch loãng sau biến thành fibrin đặc.
Sau khi các xoang vùng đầu bị viêm thì các niêm mạc hầu, khí quản và
các túi hơi liên hệ với nó cũng bị viêm. Con vật ngày càng khó thở, mào yếm tím
thành - gà đẻ: Bệnh phát ra khi thay đổi thời tiết, tiêm phòng, chuyển chuồng,
cắt mỏ,… các triệu chứng chính vẫn là chảy nước mũi, thở khò khè, ăn ít, gà
trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng, trứng ấp nở cho ra các gà con
yếu ớt. Ở một số đàn gà đẻ đôi khi chỉ thấy xuất hiện sự giảm sản lượng
trứng, gà con yếu, tỷ lệ ấp nở kém, còn các triệu chứng khác không thấy xuất
hiện. Khi gây bệnh cho gà bằng chủng MG và virus gây bệnh viêm phế quản
13
truyền nhiễm, gà có biểu hiện viêm màng kết. Phần da mặt xung quanh mí
mắt gà bị sưng phù, chảy nước mắt, mạch quản ở màng kết bị sung huyết. Gà
tây bị nặng hơn, nhiều con mắt sưng tới nỗi không mở được, gây khó khăn
trong việc ăn uống. Chin và cộng sự (1991) đã thông báo gà tây 12 – 16 tuần
tuổi có biểu hiện viêm não kèm theo triệu chứng trẹo cổ và chết với tư thế
opisthotonus.
Ngoài ra, bệnh CRD thường ghép với một số bệnh, từ đó triệu chứng
cũng thể hiện rất phức tạp như: Bệnh CRD ghép với viêm phế quản truyền
nhiễm, CRD ghép với sổ mũi truyền nhiễm, CRD bị bội nhiễm với E.coli,…
2.1.1.6. Bệnh tích.
* Bệnh tích đại thể.
Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2004) [3] cho biết, trong giai đoạn
cấp tính, mổ ra thấy xoang mũi và khí quản tích đầy dịch viêm keo nhầy màu
trắng hơi vàng. Màng túi khí đục nhẹ và tăng sinh phía bên trong. Trong giai
đoạn mãn tính, màng túi khí dày và đục trắng phồng như chất bã đậu nhão.
Nếu có kế phát các bệnh khác như E.coli thì trên bề mặt gan, màng ngoài bao
tim và màng bao xung quanh phúc mạc đều thấy tăng sinh trắng đục hoặc
viêm dính vào tim, gan, ruột.
Xác chết gầy và nhợt nhạt do thiếu máu. Niêm mạc mũi và các xoang
cạnh mũi sưng phù chứa đầy dịch nhớt màu vàng hoặc màu vàng xám. Niêm
quanh tim và màng bụng viêm, sưng. Mắt gà sưng, có một số gà bị mù bởi
tuyến lệ bị viêm, loét. Trong một vài trường hợp gà bị viêm khớp, mổ khớp
gà ta thấy khớp gà bị sưng chứa nhiều dịch vàng loãng.
Kiểm tra não những trường hợp viêm não có liên quan đến MG cho
thấy não bị viêm từ mức trung bình đến trầm trọng, mạch máu sơ hóa, nhu mô
não bị hoại tử và viêm màng não.
15
Hiện tượng viêm vòi trứng đặc trưng bởi sự dày lên của niêm mạc ống
dẫn trứng do sự tăng sinh của tế bào biểu mô và sự thâm nhiễm của tế bào
lympho.
2.1.1.7. Phương pháp chẩn đoán
Cần phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như: phân lập và xác
định nguyên nhân gây bệnh, chẩn đoán huyết thanh học và chẩn đoán phân
biệt về lâm sàng với các bệnh khác.
* Chẩn đoán phân biệt.
Bệnh do MG gây ra cũng cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh
khác cũng có các triệu chứng đường hô hấp tương tự như: bệnh Newcastle,
bệnh viêm phế quản truyền nhiễm và bệnh do Ecoli gây ra. Ngoài ra còn phân
biệt với bệnh viêm mũi truyền nhiễm, bệnh tụ huyết trùng gia cầm.
Hoàng Huy Liệu (2002) [29] khuyến cáo, nên phân biệt CRD với các
bệnh dưới đây:
Bệnh Newcastle: bệnh Newcastle lây lan nhanh hơn CRD, thường biểu
hiện triệu chứng thần kinh, xác định bằng phản ứng HI.
Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm: lây nhanh hơn bệnh CRD, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến phẩm chất trứng. Dùng phản ứng HI hoặc ELISA để
chẩn đoán bệnh này.
Bệnh sổ mũi truyền nhiễm: Biểu hiện viêm xoang, dung dịch xuất tiết
Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học được sử dụng phổ biến hiện nay là
phản ứng ngưng kết trên phiến kính với kháng nguyên chuẩn, cho kết quả
nhanh, chính xác, rẻ tiền, độ nhạy cao, được sử dụng để phát hiện đàn bị
bệnh. Tuy nhiên, có thể xảy ra phản ứng chéo với MS hoặc nhầm lẫn với
những đàn đã được tiêm vacxin. Để khắc phục, vacxin phải được pha loãng
theo cơ số 2. Nếu hiệu giá đạt từ 1/8 trở lên sẽ được coi là dương tính.
17
2.1.1.8. Phòng bệnh.
* Vệ sinh phòng bệnh.
Các biện pháp quản lý đàn và vệ sinh môi trường, cách ly khỏi các
nhân tố truyền lây là biện pháp quan trọng bậc nhất. Nên thực hiện tốt phương
thức chăn nuôi “Cùng vào, cùng ra”.
Cần phải kết hợp phương pháp vệ sinh chuồng trại, đảm bảo môi
trường chăn nuôi sạch sẽ, thông thoáng, dùng kháng sinh cho uống định kỳ
cùng với việc dùng vắc-xin phòng bệnh. Mật độ chuồng nuôi phải thích hợp
cho từng loại gia cầm, chuồng trại phải thoáng mát. Điều trị dự phòng đàn
giống bằng các loại kháng sinh hoặc hóa dược có hiệu quả cao để giảm thiểu
sự lây lan qua trứng. Xử lý trứng bằng các phương pháp như tiên kháng sinh
hay nhúng kháng sinh để hạn chế sự lây truyền mầm bệnh.
Có thể sử dụng các loại kháng sinh mẫn cảm với Mycoplasma để trộn
vào thức ăn hoặc pha với nước uống để phòng bệnh. Tuy nhiên phương pháp
này có thể gây ra hiện tượng kháng thuốc và tồn dư kháng sinh trong trứng.
Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [7] đã đưa ra biện pháp phòng bệnh có
hiệu quả như sau:
- Ăn uống đảm bảo số lượng và vệ sinh tốt. Cho uống bổ sung vitamin
nhóm B định kỳ 2 lần/tháng.
- Chuồng nuôi sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm
kháng sinh phù hợp và nhạy cảm, đồng thời thực hiện tốt các vấn đề vệ sinh
chuồng trại, quản lý tốt tiểu khí hậu, dinh dưỡng hợp lý và loại thải các gà nhiễm
bệnh thường xuyên,... (Công ty trách nhiệm hữu hạn Long Đình, 2004).
Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [8] cho biết, việc dùng kháng sinh như
dihydrostreptomycin, erythomycin hoặc tylosin để sát trùng trứng ấp đã đạt
được một kết quả rất lớn trong việc khống chế truyền lây mầm bệnh MG qua
trứng ấp. Người ta có thể sử dụng các phương pháp sát trùng trứng như sau: