ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TẠ NGỌC THẢO
ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VỀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VỀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊNChuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số ngành: 60 44 03 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN KHẮC THÁI SƠN THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
Tác giả luận văn TẠ NGỌC THẢO
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1. Cơ sở lí luận của đề tài 3
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 4
1.1.3. Cơ sở pháp lí của đề tài 5
1.2. Khái quát về môi trường và bảo vệ môi trường 7
1.2.1. Khái niệm về môi trường, Bảo vệ môi trường 7
1.2.2. Khái niệm về truyền thông môi trường 8
1.2.3. Giáo dục môi trường 9
1.2.4. Vai trò và ý nghĩa của công tác giáo dục môi trường 11
học Nông Lâm Thái Nguyên 32
3.2.1. Đánh giá nhận thức Bảo vệ môi trường theo ngành học 32
3.2.2. Đánh giá nhận thức về Bảo vệ môi trường của sinh viên Trường
Đại học Nông Lâm theo khóa học 34
3.2.3. Đánh giá nhận thức về Bảo vệ môi trường của sinh viên Trường
Đại học Nông Lâm theo học lực 35
3.2.4. Đánh giá nhận thức về Bảo vệ môi trường của sinh viên Trường
Đại học Nông Lâm theo dân tộc 36
v
3.2.5. Đánh giá nhận thức về Bảo vệ môi trường của sinh viên Trường
Đại học Nông Lâm theo giới tính 37
3.2.6. Đánh giá nhận thức về Bảo vệ môi trường của sinh viên Trường Đại
học Nông Lâm theo quê quán 38
3.2.7. Đánh giá chung về tình hình Bảo vệ môi trường của sinh viên
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 38
3.3. Giải pháp nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường và chương trình
hành động của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 43
3.3.1. Giải pháp nâng cao nhận thức về Bảo vệ môi trường cho sinh
viên Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 43
3.3.2. Chương trình hành động về Bảo vệ môi trường của sinh viên
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 49
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 55
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT Bảo vệ môi trường
huấn tuyên truyền về bảo vệ môi trường 39
Bảng 3.11. Ở giảng đường em hay vứt rác ở đâu 40
Bảng 3.12. Các chương trình Bảo vệ môi trường qua các nguồn 41
Bảng 3.13. Đánh giá về các chương trình Bảo vệ môi trường hiện nay
của nhà trường 41
Bảng 3.14. Đánh giá mức độ tham gia Bảo vệ môi trường mình sinh
sống của sinh viên trong trường 42
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Phát phiếu khảo sát tại giảng đường
27
Hình 3.1. Tình nguyện của câu lạc bộ môi trường tại sân trường 49
Hình 3.2. Hình ảnh trong cuộc thi vẽ tranh của sinh viên 50
Hình 3.3. Đạp xe tuyên truyền bảo vệ môi trường 51
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ Bảo
vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Thực hiện Luật Bảo vệ
môi trường 2005 (sửa đổi), Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII)
và Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về Bảo vệ
môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, công tác Bảo vệ môi
trường ở nước ta trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực, nhận
thức về Bảo vệ môi trường trong các cấp, các ngành và nhân dân đã được
nâng lên, hệ thống chính sách, thể chế từng bước được hoàn thiện, phục vụ
ngày càng có hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường.
Thành phố Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Khái quát được về sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Thấy được sự khác nhau giữa các khóa học, các ngành học, các học lực,
các dân tộc, các giới tính của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
về nhận thức Bảo vệ môi trường
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và nhận
thức của sinh viên về công tác Bảo vệ môi trường ngay từ những năm đầu.
3. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài nhiên cứu thành công có ý nghĩa vô cùng quan trọng về cả mặt lý
luận và thực tiễn.
Đề tài tìm hiểu đánh giá nhận thức về Bảo vệ môi trường và các vấn đề
liên quan đến môi trường hiện nay. Đánh giá theo các chỉ tiêu khác nhau để từ
đó có cách nhìn nhận chính xác và khách quan đối với nhận thức của sinh
viên trong trường nói chung.
Đồng thời đề tài còn đưa ra những biện pháp nhằm góp phần nâng cao
nhận thức của sinh viên với các vấn đề môi trường hiện nay.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở lí luận của đề tài
Ta thấy rằng Bảo vệ môi trường hơn bao giờ hết đã trở thành nhiệm vụ
cấp bách không của riêng ai. Nhưng điều đáng nhấn mạnh trước hết là việc
giáo dục ý thức Bảo vệ môi trường trong khu dân cư hay trong nhà trường
chưa được chú trọng đúng mức. Ý thức Bảo vệ môi trường vì thế chưa hình
thành rõ nét trong tầng lớp nhân dân nói chung và sinh viên nói riêng.
Tình trạng trường học ít cây xanh hoặc không có cây xanh vẫn còn phổ
biến; học sinh, sinh viên vứt rác bừa bãi, hút thuốc lá khi đến trường vẫn còn
diễn ra hàng ngày. Ngay bên trong một số trường học, dù đã có những thùng
hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Giáo dục Bảo vệ môi trường là tổng hợp các biện pháp quản lý, duy trì
sử dụng hợp lý, phục hồi nâng cao, hiệu quả môi trường tự nhiên, giúp con
người & thiên nhiên có sự hài hòa phù hợp[4]
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
Môi trường và Bảo vệ môi trường đang là vấn để nóng trên toàn cầu.
Nên việc Bảo vệ môi trường không phải là việc làm của một cá nhân nào mà
là của toàn xã hội. Vậy muốn có những hành động Bảo vệ môi trường ta nên
giáo dục từ trong nhận thức của mỗi cá nhân. Giáo dục truyền thông môi
trường có ý nghĩa quan trọng tác động lên ý thức của ta
Giáo dục truyền thông môi trường là biện pháp nâng cao nhận thức có
hiệu quả nhất về tất cả các vấn đề. Có thể ti vi, đài báo suốt ngày tuyên truyền
nhưng cũng không làm cho chúng ta hiểu hay chúng ta không hay để ý đến
nó. Nhưng một buổi giáo dục truyền thông, một vở kịch truyền thông sẽ để lại
dấu ấn sâu sắc, nhận thức tăng lên [4]5
Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội đời sống của sinh viên
ngày một nâng cao kéo theo lượng rác, chủng loại cũng ngày càng đa dạng,
lượng rác phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau trong đó rác thải sinh hoạt
chiếm đến 80%. Nguồn phát sinh chính của rác thải sinh hoạt đó là các phòng
trọ kí túc xá (KTX).
Tại các phòng trọ KTX đã thải ra các loại rác như: rau, củ, quả thối
hỏng, các loại xương động vật, giấy vụn chai, lo, thủy tinh vỡ…đặc biệt trong
số chất thải sinh ra còn có một số chất thải nguy hại như (bóng đèn, pin, đồ
điện hỏng…) đây là chất thải nguy hại nếu không được thu gom đúng sẽ ảnh
hưởng đến môi trường và con người.
Ngoài nguồn phát sinh trên còn có một lượng rác thải nhỏ sinh ra từ các
giảng đường, các phòng ban của nhà trường, hệ thống giao thông đi lại trong
đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với
cuộc đấu tranh xoá đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hoà
bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới”. Chỉ thị đã đưa ra 8 giải
pháp lớn về bảo vệ môi trường, trong đó giải pháp đầu tiên là: “Thường
xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong
trào quần chúng bảo vệ môi trường”.
- Chỉ thị số 16/CT-UBND ngày 16/9/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái
Nguyên về một số giải pháp cấp bách tăng cường công tác Bảo vệ môi trường
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung Bảo vệ môi trường vào hệ
thống giáo dục quốc dân”.
- Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng
Chính phủ về “Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020”.
7
- Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt
Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam).
- Quyết định số 1672/2007/QĐ-UBND ngày 22/8/2009 của Chủ tịch
UBND tỉnh Thái Nguyên về việc điều chỉnh bổ sung, nộp, quản lý và sử dụng
phí vệ sinh trên địa bàn TP.Thái Nguyên.
- Thông tư số 103 ngày 30/11/ 2005 của bộ tài chính hướng dẫn thực
hiện Nghị định số 107/2005/ NĐ-CP ngày 09/11/2005 của chính phủ về phí
Bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.
- Thông tư 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ tài nguyên
và môi trường, quy định về Bảo vệ môi trường làng nghề.
- Nghị quyết liên tịch số 01/2005/NQTL-HPN-BTNMT về việc phối
hợp hành động Bảo vệ môi trường phục vụ phát triển bền vững.
* Khái niệm bảo vệ môi trường: Theo luật Bảo vệ môi trường năm
2005
“
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành
sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái ngăn chặn, khôi
phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường do
khai thác, sử dụng hợp lý & tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên” [1].
Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên & môi trường, thống
nhất quản lý và Bảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, Bảo
vệ môi trường có trách nhiệm tính chất về giáo dục đào tạo nghiên cứu, phổ
biến kiến thức khoa học pháp luật về bảo vệ môi trường[1].
Luật Bảo vệ môi trường có ghi rõ trong điều 6 “Bảo vệ môi trường là
trách nhiệm của toàn dân, tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi
trường, thi hành pháp luật về Bảo vệ môi trường có quyền và có trách nhiệm
tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về Bảo vệ môi trường”.
1.2.2. Khái niệm về truyền thông môi trường
Khái niệm về truyền thông môi trường là một quá trình tương tác xã
hội hai chiều nhằm giúp cho những người có liên quan hiểu được các yếu tố
môi trường then chốt, mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của chúng và cách tác
động vào các vấn đề có liên quan một cách thích hợp để giải quyết các vấn đề
về môi trường[8].
9
Truyền thông môi trường không nhằm quá nhiều vào việc phổ biến
thông tin mà nhằm vào việc chia sẻ nhận thức về phương thức sống bền vững
và nhằm khả năng giải quyết các vấn đề môi trường cho các nhóm người
trong xã hội.
Mục tiêu của truyền thông môi trường nhằm
Thông tin cho người bị tác động bởi các vấn đề môi trường biết tình
trạng của họ, từ đó họ quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục.
chọn phong cách sống, thích hợp với việc xử lý và khôn ngoan các nguồn thài
nguyên thiên nhiên.
Giáo dục môi trường phải đi đôi với giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh. Tôi cho rằng hiệu quả giáo dục môi trường muốn bền vững thì phải hình
thành cho các em những thới quen tốt, những kỹ năng sống liên quan đến bảo
vệ môi trường. Chẳng hạn, chúng ta rèn các em thói quen đổ rác thải đúng nơi
quy định; trong học tập, chúng ta nên khuyên các em biết tiết kiệm. Trong khi
lựa chọn mua hàng tiêu dùng, nên chọn mua những sản phẩm có ghi “sản
phẩm xanh”, sản phẩm không độc hại với môi trường hoặc loại hàng hóa có
bao bì dễ tiêu hủy trong tự nhiên hoặc có thể dùng lại nhiều lần,…
Huy động mọi nguồn lực, từng bước đầu tư và nâng cấp cơ sở vật chất
trường học, đảm bảo tiêu chuẩn môi trường về ánh sáng, không khí, về cung
cấp nước sạch, và có công trình vệ sinh đạt chuẩn. Phấn đấu có nhiều phim tư
liệu, tài liệu, báo chí, thiết bị phục vụ công tác giáo dục môi trường.
Quan điểm phát triển bền vững có thể trở thành hiện thực hay không,
điều đó phụ thuộc rất lớn vào nhóm đối tượng còn ngồi trên ghế nhà trường.
Nếu việc thực hiện công tác giáo dục môi trường trong trường học được cụ
thể, thiết thực, đồng bộ và hiệu quả, thì sẽ góp phần đáng kể cho sinh viên
chúng ta được phát triển một cách hoàn thiện hơn về trí tuệ và nhân cách, biết
sống thân thiện với môi trường, để việc Bảo vệ môi trường không là khẩu
hiệu chung chung mà trở thành nếp nghĩ, thành thói quen, thành hành động cụ
thể của mọi sinh viên.
11
1.2.4. Vai trò và ý nghĩa của công tác giáo dục môi trường
Năm 1987, tại Hội nghị về môi trường ở Moscow do UNEP và
UNESCO đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của giáo dục
môi trường: “Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những
mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên
tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được
giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón trong nông nghiệp.
Chất lượng môi trường đang bị suy thoái rất nghiêm trọng. Các yếu tố ảnh
hưởng hay chính là những nguyên nhân gây suy giảm chất lượng môi trường:
Trước hết phải kể đến sự phát triển của các ngành công nghiệp ồ ạt,
đặc biệt là các ngành công nghiệp gây ô nhiễm. Mỗi năm hoạt động sản xuất
thải vào không khí 150 triệu tấn khí SO
2
, 200 triệu tấn CO
2
, 350 000 tấn
CFC
3
(theo Phạm Thành Dung - Môi trường sinh thái, Tạp trí giáo dục lý
luận số 3-99) Những chất mà những yếu tố khác trong hệ thống, trong chỉnh
thể sinh thái không thể hấp thu được, nên đã gây tác hại đến tầng ozon, đến
nguồn nước sạch.
Nguyên nhân thứ hai phải kể đến là tệ nạn phá rừng ngày càng nghiêm
trọng trên phạp vi toàn cầu. Có thể nói rừng cung cấp nước cho đời sống của
thực vật và cho sản xuất của xã hội, làm cho không khí trong lành, rừng là
năng suất mùa màng Rừng đóng vai trò quan trọng như thế nhưng hiện nay
trên thế giới đang kêu cứu. Cứ mỗi phút trôi qua có tới 21,2 ha rừng nhiệt đới
bị phá hủy. Sự mất mát quá lớn của rừng tất yếu dẫn đến nghèo kiệt đất đai và
sự mất dần những sinh vật quý hiếm, sự tăng hàm lượng CO
2
trong khí quyển
- một trong chất khí quan trọng nhất gây nên “hiệu ứng nhà kính”.
Một nguyên nhân nữa là do mất cân bằng tài nguyên và dân số. Dân số
tăng nhanh đòi hỏi phải khai thác các tài nguyên tự do nhiều hơn, với nhịp
điệu cao hơn, chất thải các loại tăng nhanh hơn dẫn tới phá vỡ cân bằng, vắt
kiệt tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường.
hiệu ứng nhà kính và giải pháp cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.
Thực tế, với sự xuất hiện các giải pháp sáng tạo góp phần nâng cao tính
cạnh tranh, nhiều quốc gia đang tận dụng những cơ hội do ngành công nghệ
sạch mang lại để đạt được thịnh vượng kinh tế bền vững.
14
Bộ trưởng Denis Lebel nhấn mạnh chính phủ Canada tiếp tục tập trung
vào mục tiêu tăng trưởng việc làm và hỗ trợ cho các công nghệ sạch tiên tiến.
Tại Canada, công nghệ sạch đang trở thành lĩnh vực chiến lược quan
trọng nhất của nền kinh tế xanh, đóng góp cho sự thịnh vượng.
Nhật Bản: Chính quyền các địa phương ở Nhật Bản rất tích cực và chủ
động trong công tác Bảo vệ môi trường ở địa phương; đặc biệt là các hoạt
động xây dựng cơ sở hạ tầng, huy động vốn, thúc đẩy các hoạt động Bảo vệ
môi trường ở các khu đô thị và doanh nghiệp; đồng thời phối hợp chặt chẽ với
chính quyền trung ương nhằm thực thi có hiệu quả các biện pháp chống ô
nhiễm môi trường và thúc đẩy hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề môi
trường cụ thể của từng địa phương.
Cách đây khoảng một thập niên, với sự hỗ trợ của chính quyền trung
ương, chính quyền địa phương ở một số khu vực ở Nhật Bản đã xúc tiến
chương trình môi trường với tên gọi “Kế hoạch quản lý môi trường khu vực
nhằm ngăn ngừa ô nhiễm và Bảo vệ môi trường tự nhiên”. Kế hoạch này được
sự hỗ trợ kỹ thuật từ Bộ Môi trường Nhật Bản và sự đóng góp tài chính của
nhân dân và doanh nghiệp từ các địa phương và tạo thành phong trào rộng lớn
trên phạm vi toàn quốc. Nhờ đó, môi trường ở các đô thị lớn và một số địa
phương ở Nhật Bản đã được cải thiện rất nhiều. Phong trào này cho đến nay
vẫn được duy trì. Bên cạnh đó, các quan hệ giữa Chính phủ và chính quyền
các địa phương còn được củng cố và tăng cường thông qua các chương trình
trao đổi thông tin định kỳ về môi trường giữa Bộ trưởng Bộ Môi trường với
những người đứng đầu ngành môi trường của các địa phương, tạo thành một
mạng thông tin khép kín về môi trường giữa những người có trách nhiệm
Tại Nhật Bản người ta xây dựng câu lạc bộ môi trường dành riêng cho
học sinh tiểu học và trung học cơ sở (Junior-Eco-Club). Hàng năm câu lạc bộ
đã thu hút được sự tham gia đông đảo các em học sinh. Các hoạt động tự
nguyện Bảo vệ môi trường của người dân, tổ chức doanh nghiệp, chính quyền