Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà isa shaver sinh sản nuôi tại trại gia cầm khoa chăn nuôi – thú y trường đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 43

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------

NÔNG ĐÌNH THIỆP
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƢỠNG ĐÀN GÀ ISA
SHAVER SINH SẢN NUÔI TẠI TRẠI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI
THÚ Y TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y
Khoa

: Chăn nuôi thú y

Khóa học

: 2011 – 2016

Thái Nguyên, năm 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------


Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

GIẤY XÁC NHẬN THỰC TẬP
Trong thời gian từ ngày 18/5/2016 đến ngày 18/11/2016 sinh viên Nông
Đình Thiệp đã đến thực tập tại Trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y thuộc
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tiến hành đề tài tốt nghiệp: “Thực hiện
quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà Isa Shaver sinh sản nuôi tại Trại gia cầm Khoa
Chăn nuôi – Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Trong thời gian thời gian thực tập sinh viên Nông Đình Thiệp đã tích
cực trao đổi, học hỏi kinh nghiệm của thầy, cô quản lý về một số lĩnh vực phù
hợp với yêu cầu của đề tài, cần cù, chịu khó, chấp hành các quy định của trại
chăn nuôi. Đến nay, sinh viên Nông Đình Thiệp đã hoàn thành đợt thực tập.
Vậy Trại xác nhận sinh viên Nông Đình Thiệp đã có thời gian thực tập
tại Trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên. Đề nghị nhà trường tạo điều kiện giúp đỡ cho sinh viên Nông Đình
Thiệp hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình.
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2016
Xác nhận của trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y
trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Từ Trung Kiên


i

LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành kỹ sư chăn nuôi trong tương lai, ngoài việc trang bị cho
mình một lượng kiến thức lý thuyết, mỗi sinh viên còn phải trải qua giai đoạn
tiếp cận với thực tế sản xuất. Chính vì vậy, thực tập tốt nghiệp là khâu rất
quan trọng đối với tất cả các sinh viên trường Đại học nói chung cũng như

Nhân dịp này, tôi xin chân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban
Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy bảo tôi trong toàn khóa học.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên
hướng dẫn TS. Trần Thị Hoan đã quan tâm, giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều
kiện giúp tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận.
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và
những người thân đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, giành những
tình cảm và sự động viên vô cùng quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập
nghiên cứu và trong quá trình hoàn thành bản khóa luận này.
Cuối cùng, tôi xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe,
hạnh phúc, thành công trong công tác, đạt nhiều kết quả tốt trong giảng dạy
và nghiên cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày ... tháng… năm 2016
Sinh viên
Nông Đình Thiệp


iii

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Sơ đồ theo dõi thí nghiệm............................................................... 25
Bảng 4.1. Chế độ chiếu sáng cho đàn gà ........................................................ 32
Bảng 4.2. Lịch dùng vaccine cho đàn gà đẻ tại trại ........................................ 33
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 36
Bảng 4.4. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) .............. 38
Bảng 4.5. Tuổi đẻ của gà................................................................................. 40
Bảng 4.6. Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng của gà thí nghiệm ............................... 41


Thức ăn

TTTĂ

Tiêu tốn thức ăn


v

MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ....................................................... iv
MỤC LỤC ......................................................................................................... v
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học ........................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 3
2.1.1. Nguồn gốc của gia cầm ........................................................................... 3
2.1.2. Đặc điểm chung của gia cầm.............................................................................. 4
2.1.3. Cơ sở khoa học về khả năng chuyển hóa thức ăn của gia cầm ............... 6
2.1.4. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm ................................. 7
2.1.5. Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm........................................ 13

5.2. Tồn tại ....................................................................................................................47
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 80% dân số sống ở nông
thôn. Thu nhập chính của họ là từ ngành trồng trọt và chăn nuôi. Trong đó,
ngành chăn nuôi gia cầm được ưu tiên phát triển hàng đầu do khả năng đáp
ứng nhanh về nhu cầu thịt, trứng. Ngoài ra, chăn nuôi gia cầm còn đóng góp
một phần không nhỏ trong việc phát triển công nghiệp nước ta như công
nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc.
Tập quán chăn nuôi gia cầm đã gắn bó với nhân dân ta từ lâu đời. Ở
nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, hầu như gia đình nào cũng có nuôi
một vài con. Trước đây, chăn nuôi gia cầm thường theo phương thức quảng
canh tận dụng. Những năm gần đây, xu hướng phát triển ngành chăn nuôi nói
chung đã theo con đường thâm canh công nghiệp hóa, chăn nuôi tập trung.
Nhiều gia đình chăn nuôi với số lượng lên đến hàng vạn con. Đặc biệt là chăn
nuôi gà công nghiệp đã khắc phục được nhiều đặc điểm của gà ta như về tốc
độ sinh trưởng và khả năng sinh sản. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
xã hội, nước ta đã nhập nhiều giống gà mới như các giống chuyên dụng
hướng trứng, hướng thịt có giá trị cao với các dòng ông, bà, bố, mẹ nhằm thay
đổi cơ cấu đàn giống gia cầm, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm,
bước đầu đạt kết quả tốt.
Hiện nay, bên cạnh những giống gà hướng thịt, các giống gà hướng
trứng cũng ngày càng được quan tâm chú trọng đầu tư phát triển. Một trong
những giống gà sinh sản có năng suất cao, chất lượng trứng tốt, thích nghi với

3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Nguồn gốc của gia cầm
Gia cầm nói chung, gà nói riêng có nguồn gốc từ chim hoang dã. Qua
quá trình thuần hóa, nuôi dưỡng hàng nghìn năm, con người đã tạo nên các
giống gia cầm ngày nay.
Hầu hết các nhà khoa học nghiên cứu về gia cầm trên thế giới đều cho
rằng tổ tiên của gia cầm sống hoang dã. Bằng chứng là gà hoang miền Bắc Ấn
Độ hay gà Banquiva (Gallus Gallus murghi) - một trong bốn loại hình của gà
rừng được thuần hóa đầu tiên.
Gà Banquiva thường đẻ trong tổ lót cỏ khô, lá cây; kéo dài 10 - 12 tháng;
ấp 20 - 21 ngày trứng nở. Khối lượng gà trưởng thành: gà mái khoảng 0,7 kg;
gà trống khoảng 1,0 - 1,1 kg. Gà Banquiva có lông màu sặc sỡ. Gà trống có
lông cổ màu vàng da cam đến vàng, lông mình đỏ nâu, lông cánh ánh đen,
lông bụng pha đen. Gà mái lông vàng nhạt, vàng trắng đến hoa mơ. Mỏ, chân
màu vàng đậm, vàng nhạt, đen. Từ các di chỉ khai quật khảo cổ ở các vùng
châu Á cho kết luận rằng cái nôi của sự thuần hóa gà nuôi là ở châu Á (Lê
Hồng Mận, 2007 [12]).
Ở Việt Nam cho đến nay, các công trình nghiên cứu về nguồn gốc gia
cầm chưa thật đầy đủ. Tuy nhiên, nước ta lại là một trung tâm thuần hóa gà
đầu tiên ở Đông Nam Á. Trải qua hàng nghìn năm, nhờ quá trình chọn lọc tự
nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo và sự sáng tạo của con người, cho đến nay
đã tạo ra được rất nhiều giống gà khác nhau.
Ở nước ta, nuôi gà là nghề truyền thống từ lâu đời. Phổ biến là giống gà
Ri, gà Ta vàng,… Nhiều tác giả cho rằng chính tổ tiên đã thuần dưỡng được
gà ngay trên mảnh đất quê hương từ giống gà rừng có thể từ đời Phùng



5

nhau về màu sắc lông là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin
(melanogene) trong tế bào lông. Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom
(larotinoit) thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ. Nếu không có chất
sắc tố thì lông có màu trắng.
+ Đầu: cấu tạo xương đầu được coi là có độ tin cậy cao nhất trong việc
đánh giá đầu của gia cầm. Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra sự
kết luận về sự phát triển của mô mỡ và mô liên kết.
+ Mỏ: là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (Stratumcorneum).
Mỏ phải ngắn và chắc chắn. Gà có mỏ dài và mảnh có khả năng sản xuất
không cao. Màu sắc của mỏ có nhiều loại như: vàng, đỏ, đen, hồng. Màu của
mỏ thường phù hợp với màu của chân. Những giống gà da vàng thì mỏ cũng
vàng. Ở gà mái, màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng.
+ Chân: gia cầm có 4 ngón, rất ít có 5 ngón (Trần Kiên và Trần Hồng
Việt, 1998 [6]). Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân
và da. Chân thường có vuốt và cựa. Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh
sinh tồn của loài (Trần Thị Nguyệt Thu, 1999 [22]). Gà có chân cao thường
cho năng suất thịt thấp và chậm phát dục.
+ Mào và tích: là dẫn xuất của da, là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp của
gà. Nhờ vậy có thể phân biệt gà trống, gà mái. Mào gà rất đa dạng về hình
dạng, kích thước, màu sắc; có thể đặc trưng cho từng giống gà. Theo Phan Cự
Nhân (1971) [14], ở gà trống, sự phát triển của mào, tích phản ánh sự thành
thục tính dục sớm hay muộn; ở gà mái, mào và tích phát triển không rõ là dấu
hiệu xấu cho khả năng sinh sản của gà.
- Hình dáng, kích thƣớc các chiều đo cơ thể:
Tùy mục đích sử dụng, các giống gia cầm được chia làm 3 loại hình là:
hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng. Gà hướng thịt thường có hình dạng
cân đối, ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay hình chữ nhật. Gà

Lượng TĂ tiêu thụ hằng ngày liên quan đến mức năng lượng và protein trong
khẩu phần, ảnh hưởng đến sinh trưởng và khả năng sản xuất của gia cầm.


7

Theo Vũ Duy Giảng và cs (1997) [5], thì hàm lượng protein khác nhau
trong TĂ cũng có ảnh hưởng đến lượng thu nhận TĂ của gia cầm. Từ đó ảnh
hưởng đến sinh trưởng và khả năng cho sản phẩm của gia cầm.
2.1.4. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm
 Một số đặc điểm sinh học của gia cầm sinh sản
- Cơ quan sinh dục đực: gồm tinh hoàn, dịch hoàn phụ, ống dẫn tinh và
cơ quan giao phối.
Tinh hoàn có hính ô van hoặc hạt đậu màu trắng hoặc hơi vàng; nằm
phía trên thùy trước của thận, cạnh túi khí bụng. Khối lượng tinh hoàn phụ
thuộc vào tuổi và trạng thái sinh lý của con vật. Cơ quan giao cấu có cấu trúc
khác biệt. Gai giao cấu nằm sâu ở dưới lỗ huyệt.
Quá trình hình thành tinh trùng diễn ra tương tự như ở gia súc. Tế bào sơ
cấp bằng con đường phân chia hình thành tinh bào thứ nhất phát triển. Mỗi
tinh bào thứ nhất lại chia thành tinh bào thứ hai, tiếp tục phát triển, sau đó
hình thành tiền tinh trùng và cuối cùng hình thành tinh trùng. Ở gà, một lần
phóng tinh khoảng 0,6 - 2 ml tinh dịch. Trong mỗi ml tinh dịch chứa 3,2 tỷ
tinh trùng. Các phản xạ và cơ chế giao phối ở gia cầm giống động vật có vú
nhưng thời gian để tinh trùng từ cơ quan sinh dục đực đến loa kèn rất lâu,
khoảng 72 - 75 giờ (3 ngày). Tuy nhiên, tinh trùng gà sống được rất lâu trong
đường sinh dục cái.
- Cơ quan sinh dục cái: gồm buồng trứng và ống dẫn trứng.
+ Buồng trứng: có chức năng tạo lòng đỏ, nằm bên trái xoang bụng,
được giữ bằng màng bụng. hình dạng và kích thước buồng trứng phụ thuộc
vào tuổi và loại gia cầm. Ở gà 1 ngày tuổi, buồng trứng có kích thước 1 - 2

hợp đặc biệt, có hai hoặc ba tế bào trứng cùng rụng một lúc. Trường hợp quả
trứng của ngày hôm trước đẻ sau 4 giờ chiều thì phải sang ngày hôm sau mới
xảy ra quá trình rụng trứng.
+ Ống dẫn trứng: là một phần hình ống. Ở đó xảy ra sự thụ tinh tế bào
trứng và kết thúc ở lỗ huyệt. Ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng
đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ mỏng và lớp keo mỡ bao ngoài vỏ trứng.
Trứng lưu lại trong ống dẫn trứng 23 - 24 giờ.


9

Kích thước ống dẫn trứng thay đổi theo tuổi và hoạt hóa chức năng hệ
sinh dục. Khi thành thục sinh dục, ống dẫn trứng trơn, thẳng, có đường kính
đồng nhất trên chiều dài ống. Sau khi gà đẻ quả trứng đầu tiên, ống dẫn trứng
có chiều dài 68 cm, khối lượng 77 g. Khi đẻ với cường độ cao, chiều dài tăng
tới 86 - 90 cm, đường kính 10 cm. Ở gà không đẻ trứng, ống dẫn trứng có
chiều dài 11 - 18 cm, đường kính 0,4 – 0,7 cm. Khi gia cầm thành thục, ống
dẫn trứng gồm các phần: phễu, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung, âm đạo.
Phễu: phần mở rộng hình loa kèn ở đầu ống dẫn trứng dài 4 - 7 cm,
đường kính 8 - 9 cm, nằm ở dưới buồng trứng. Bề mặt niêm mạc phễu gấp
nếp, không có tuyến. Lớp niêm mạc cổ phễu có tuyến hình ống. Chất tiết của
nó tham gia vào tạo trứng và hình thành dây chằng lòng đỏ. Tại đây, trứng
được thụ tinh nếu gặp tinh trùng. Trứng dừng lại ở đây khoảng 20 phút.
Phần tiết lòng trắng: là bộ phận dài nhất của ống dẫn trứng, có thể dài
tới 20 - 30 cm. Niêm mạc phần này có nhiều tuyến hình ống như cổ phễu tiết
ra lòng trắng đặc, hình thành dây chằng lòng đỏ và tiết ra lòng trắng loãng.
Trứng dừng ở đây khoảng 3 giờ.
Phần eo: là phần hẹp hơn của ống dẫn trứng, dài khoảng 8 cm. Các
tuyến ở đây tiết ra một phần lòng trắng và chất hạt hình thành nên màng dưới
vỏ gồm 2 lớp. Hai lớp này tách nhau ra tại đầu lớn của vỏ trứng tạo nên buồng

- Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (tính ổn định sức đẻ).
Các yếu tố trên do gen di truyền của từng giống gia cầm quy định.
Để đánh giá khả năng sinh sản của gia cầm, người ta dựa vào chỉ tiêu:
tuổi đẻ đầu và năng suất trứng.
Khối lượng trứng bình quân theo các tháng. Chambers (1990) [30], cho
biết: khối lượng trứng thường tăng đến cuối chu kỳ đẻ trứng. Nhiều tác giả
cho rằng, giữa khối lượng trứng và sản lượng trứng có tương quan âm.


11

- Tuổi đẻ đầu: Tuổi đẻ quả trứng đầu là thời điểm đàn gà đã thành thục
về tính. Tuổi đẻ đầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loài, giống, hướng sản
xuất, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu,…Đặc biệt là chế độ chiếu sáng.
Tuổi đẻ đầu đánh giá sự thành thục về tính của đàn gà. Thời gian chiếu
sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm. Sự thành thục về tính sớm hay muộn có
liên quan chặt chẽ đến sự tăng khối lượng cơ thể cũng như sự hoàn thiện tới
các cơ quan, bộ phận của cơ thể. Những giống gia cầm có tầm vóc nhỏ
thường có tuổi thành thục sớm hơn những giống gia cầm có tầm vóc lớn.
Trong cùng một giống, cá thể nào được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, điều
kiện khí hậu và chế độ chiếu sáng phù hợp sẽ thành thục sớm hơn. Nhiều
công trình khoa học đã chứng minh, tuổi thành thục sinh dục sớm là trội so
với tuổi thành thục sinh dục muộn.
Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham
gia quá trình sinh sản. Đối với gia cầm mái, tuổi thành thục sinh dục là tuổi
bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến
năng suất trứng. Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu
tiên là thời điểm tại đó, đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5 %.
- Năng suất trứng
Năng suất trứng hay sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số

Khối lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, dinh
dưỡng,... Khối lượng trứng quyết định chất lượng trứng, giống, tỷ lệ ấp nở,
khối lượng cơ thể và sức sống của gà con. Brandsch H. và Bichel H. (1978)
[2], cho rằng, hiện nay, chưa có cách nào để tăng khối lượng trứng mà không
đồng thời tăng khối lượng cơ thể. Đó cũng là một trong những nguyên nhân
phải hạn chế khối lượng trứng ở mức 55 - 60 g để phù hợp với sinh lý của gà
và kỹ thuật ấp nở. Ngoài ra, tăng khối lượng trứng còn làm tăng TTTĂ.
Theo Lochus và Starstikov (1979) thì trứng gia cầm khi bắt đầu đẻ nhỏ
hơn trứng gia cầm lúc trưởng thành. Theo Awang (1984) thì khối lượng trứng
phụ thuộc trực tiếp vào chiều dài và chiều rộng của quả trứng cũng như khối
lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ trứng (dẫn theo Trần Huê Viên, 2011 [25]).


13

Theo Trương Thúy Hường [33], khối lượng trứng của gia cầm thuộc
nhóm tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của nhiều gen, đặc biệt là gen liên
kết với giới tính. Khối lượng trứng của gia cầm tăng nhanh trong giai đoạn đẻ
đầu sau đó chậm lại và ổn định khi tuổi gia cầm càng cao.
Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [24], thì trong cùng một độ tuổi, khối
lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá trị
năng lượng giảm dần. Khối lượng gà con khi nở bằng 62 - 78 % khối lượng
trứng ban đầu. Khối lượng trứng của các giống khác nhau là khác nhau.
2.1.5. Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm
- Đặc điểm hình thái: Trứng gia cầm là một tế bào gồm: vỏ trứng,
màng, lòng trắng và lòng đỏ. Trong điều kiện không có gia cầm trống thì
trứng không được thụ tinh nhưng giá trị thực phẩm không thay đổi. Dựa vào
đặc điểm này mà trong chăn nuôi gà hướng trứng thương phẩm, người ta
không nuôi thêm gà trống để giảm chi phí TĂ, giảm giá thành trứng.
- Hình dạng quả trứng: là một đặc trưng của từng cá thể, được quy

Độ dày vỏ trứng là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng trứng,
ảnh hưởng tới việc bảo quản trứng, sự phát triển của phôi và thời gian, độ ẩm
trong quá trình ấp. Nó chịu ảnh hưởng của yếu tố môi trường và yếu tố di
truyền. Ở mỗi loài gia cầm khác nhau, vỏ trứng có độ dày khác nhau. Ở mỗi
thời điểm, môi trường khác nhau, vỏ trứng cũng có độ dày khác nhau. Trong
thực tế, ta có thể thấy hiện tượng vỏ trứng mỏng khi khẩu phần ăn thiếu canxi.
Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày và độ bền của vỏ trứng. Nó có ý nghĩ
trong vận chuyển và ấp trứng. Nếu vỏ trứng quá dày hoặc quá mỏng sẽ gây
cản trở quá trình hô hấp của phôi thai, làm tỷ lệ ấp nở giảm. Theo Nguyễn Thị
Bạch Yến (1996) [28], thì nếu vỏ trứng quá mỏng sẽ làm cho quá trình bốc
hơi nước diễn ra nhanh, bị chết phôi hoặc sát vỏ, gà con nở ra tỷ lệ nuôi sống
giảm. Độ dày vỏ trứng gà đạt 0,311 mm, trong khoảng 0,299 - 0,373 mm (dẫn
theo Ngô Giản Luyện, 1994 [11]). Vỏ trứng gà dày 0,3 - 0,34 mm chịu lực là
2,44 - 3 kg/cm2.


15

+ Lòng trắng: là phần bao bọc bên ngoài lòng đỏ, là sản phẩm của ống
dẫn trứng. Lòng trắng chủ yếu là albumin, cung cấp khoáng và muối khoáng,
tham gia cấu tạo lông, da trong quá trình phát triển cơ thể ở giai đoạn phôi.
Chất lượng lòng trắng được xác định qua chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh.
Hệ số di truyền của tính trạng này khá cao.
Trong trứng gia cầm, lòng trắng chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 56 %. Cấu
tạo lòng trắng gồm: lớp loãng ngoài, lớp đặc giữa, lớp loãng giữa, lớp đặc
trong. Độ keo dính của lòng trắng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chăm sóc,
nuôi dưỡng, giống, tuổi, bảo quản trứng,… Bảo quản trứng không đúng, kéo
dài làm lòng trắng loãng hơn. Trong lòng trắng còn chứa dây chằng lòng đỏ,
giữ cho lòng đỏ luôn ở vị trí trung tâm của trứng. Theo Trần Huê Viên (2011)
[25], thì Awang (1987) cho biết khối lượng trứng tương quan rõ rệt với khối

bị kích động đột ngột, một quả trứng hoàn chỉnh bị ống dẫn trứng co lại gây
nhu động ngược lên phía trên gặp tế bào trứng mới rụng sẽ nằm cùng lòng đỏ
của trứng mới, bên ngoài được bao bọc bằng lòng trắng và vỏ cứng.
Ngoài ra còn có trứng méo, trứng không có vỏ, trứng non do thiếu
khoáng, vitamin D,… hoặc do co bóp của ống dẫn trứng.
 Chỉ số Haugh (HU): là chỉ số đánh giá chất lượng trứng xác định
thông qua khối lượng trứng và chiều cao lòng trắng đặc. Chỉ số HU càng cao
thì chất lượng trứng càng cao, trứng đạt chất lượng tốt.
2.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm
Sức sản xuất trứng của gia cầm là đặc điểm phức tạp và biến động. Nó
chịu ảnh hưởng bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài như: giống,
dòng, sự phát triển, tuổi, trọng lượng cơ thể, trạng thái sức khỏe, sự thay lông,
bản tính ấp bóng, tuổi thành thục, cường độ và sức bền đẻ trứng, chu kỳ và
nhịp độ đẻ. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào yếu tố di truyền, chọn lọc, TĂ,
mùa vụ,…
- Giống, dòng: ảnh hưởng trực tiếp tới sức sản xuất của gia cầm. Các
giống, dòng gia cầm khác nhau thì sản lượng trứng cũng khác nhau. Nếu dòng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status