Nghiên cứu ảnh hưởng của bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng của chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm khoa chăn nuôi thú y trường đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGÔ VĂN LÂM
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA BỘT LÁ SẮN
ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG CỦA CHIM CÚT NUÔI
TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y,
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khoa

: Chăn nuôi Thú y

Khóa học

: 2012 - 2016

Thái Nguyên - 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trƣờng, thực tập tốt nghiệp là
khoảng thời gian rất cần thiết với mỗi sinh viên. Đây là khoảng thời gian để
cho tất cả sinh viên có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu đƣợc trên ghế
nhà trƣờng ứng dụng vào thực tiễn sản xuất. Sau thời gian tiến hành nghiên cứu
nay em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp. Để hoàn thành đƣợc bản khoá
luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận đƣợc sự giúp đỡ chu đáo,
tận tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân. Để đáp lại tình cảm
đó, qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập
thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu.
Trƣớc tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trƣờng, Ban Chủ
nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng tập thể các thầy cô giáo trong Khoa Chăn
nuôi Thú y trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu
dắt em trong suốt thời gian học tại trƣờng cũng nhƣ thời gian thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hƣớng dẫn
tận tình của thầy giáo hƣớng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên và cô giáo TS. Trần
Thị Hoan trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành bản khóa luận tốt
nghiệp này.
Qua đây em cũng xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, ngƣời thân và bạn
bè đã giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trƣờng.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Ngô Văn Lâm


ii
DANH MỤC CÁC BẢNG


Bột lá

CS:

Cộng sự

ĐC:

Đối chứng

HCN:

axit cyanhydric

KP:

Khẩu phần

KL:

Khối lƣợng

SS:

Sơ sinh

TLNS:

Tỷ lệ nuôi sống

1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học ................................................................................. 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn.................................................................................. 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 3
2.1.1. Vài nét về chim cút .............................................................................. 3
2.1.2. Vài nét về cây sắn .............................................................................. 17
2.1.3. Sắc tố trong bột lá thực vật ................................................................ 19
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc .............................................. 24
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nƣớc ....................................................... 24
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới ..................................................... 25
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .....27
3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên nghiên cứu ................................................ 27
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 27
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 27


vi
3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................... 27
3.4.1. Bố trí thí nghiệm ................................................................................ 27
3.4.2. Chỉ tiêu theo dõi và phƣơng pháp xác định. ...................................... 29
3.4.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu ................................................................. 31
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 32
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 32
4.1.1. Công tác chăn nuôi ............................................................................ 32
4.1.2. Công tác thú y .................................................................................... 37
4.2. Kết quả và phân tích kết quả .................................................................... 41
4.2.1. Tỷ lệ nuôi sống của chim cút thí nghiệm........................................... 41
4.2.2. Khả năng sinh trƣởng của chim cút thí nghiệm................................. 42
4.2.3. Chi phí cho 1 chim cút xuất bán ....................................................... 51

phần ăn không có bổ sung bột lá thực vật.
Hiện nay, một số nƣớc trên thế giới đã sử dụng bột lá thực vật để bổ
sung vào khẩu phần ăn của vật nuôi nhƣ: Philippines, Ấn Độ đã sử dụng bột
lá keo giậu; Brazin, Colombia sử dụng bột lá sắn.Trong chăn nuôi, sản phẩm
phải thỏa mãn đƣợc yêu cầu và chất lƣợng nhƣ: thịt thơm, ngon, chắc, hàm
lƣợng lòng đỏ trứng cao...và đặc biệt giảm tối đa chi phí thức ăn. Vì vậy, một
trong những điều kiện cơ bản nhất có tính chất bắt buộc đối với chăn nuôi để


2
có sản phẩm sạch, chất lƣợng cao là phải nuôi bằng thức ăn có nguồn gốc
thực vật, đảm bảo không tồn dƣ các loại hóa chất độc hại, không đƣợc dùng
các chất kích thích tăng trọng và các loại kháng sinh tồn dƣ trong thịt và
trứng. Vì vậy, tôi nghĩ đến cây sắn. Ở Việt Nam cây sắn phân bố từ Bắc vào
Nam. Từ Quang Hiển và Phạm Sỹ Tiệp (1998) [4] cho biết protein trong lá
của các giống sắn bản địa của Việt Nam dao động từ 24,06-29,80% trong
VCK. Qua nhiều nghiên cứu trong và ngoài nƣớc, các nhà khoa học đã kết
luận rằng khi bổ sung bột lá sắn vào khẩu phần ăn thì khả năng sinh trƣởng và
sản xuất cao hơn so với khẩu phần ăn không có bột lá thực vật trên.
Từ những vấn đề đƣợc nêu trên chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên
cứu ảnh hưởng của bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng của chim cút
nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên".
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định ảnh hƣởng của bột lá sắn trong khẩu phần ăn đến khả năng
sinh trƣởng của chim cút.
- Biết đƣợc bột lá sắn có ảnh hƣởng đến khả năng sinh trƣởng, năng
suất và chất lƣợng chim cút thịt, từ đó có cơ sở khoa học để khuyến cáo trong
sản xuất.
1.3. Ý nghĩa của đề tài

ngực xám hồng và có những chấm đen. Chân xám hồng có chấm đen, mỏ xám
đá. Mắt đen, đôi khi có con có màu sắc lạ nhƣ hung, đen, trắng.
Chim trƣởng thành lông ống phủ kín thân, lông lƣng, đầu, cổ, đuôi có
màu xám lẫn đen.
* Phân biệt trống mái
Chim đực lông mặt, cổ dƣới diều và ngực có màu vàng nâu lẫn ít trắng.


4
Chim mái màu lông mặt cổ dƣới xám lẫn ít đen, lông bụng trắng xám,
mỏ đen xám, chân trắng xám và hơi hồng, mắt đen. Chim cút đực trƣởng
thành hậu môn có một u lồi, chim mái không có. Chim cút đực biết gáy còn
chim mái không biết gáy.
* Khả năng sinh sản
Có những giống cút chuyên sản xuất trứng, có giống chuyên sản xuất
thịt. Nhìn chung ngƣời nuôi có khuynh hƣớng chọn giống theo năng suất
trứng cao. Loại cút này có khối lƣợng cơ thể tối đa khoảng 160-190g ở 5-6
tháng tuổi. Thƣờng ngƣời ta chọn những con trống có ngực nở nang, khoẻ
mạnh, đầu khoẻ và chắc. Con cái có đầu thanh tú, cổ vừa phải, mắt linh hoạt,
lông mƣợt và sáng. Chim cút mái đẻ 300-360 trứng mỗi năm. Có những con
đẻ trên 400 trứng (có ngày đẻ 2 quả). Tỷ lệ đẻ của đàn mái cao, bình quân tới
85-90%. Trứng chim cút nặng 12-16g. Chim cút mái đẻ trứng đầu tiên khoảng
40 ngày tuổi, khi khối lƣợng cơ thể khoảng 110g. Đến 6 tháng tuổi, chim cút
mái nặng 150-170g. Chim cút mái đẻ cao trong năm đầu tiên, có thể khai thác
trứng liên tục 14 tháng đẻ, sau đó chim cút đẻ giảm. Vào năm thứ hai, chim
cút mái chỉ đẻ bằng 50% so với năm đẻ đầu tiên. Khi nhân giống chim cút,
nên chọn trống mái từ sớm, thƣờng sau 20 ngày đã có thể phân biệt đƣợc
trống mái. Con trống có lông mƣợt màu hồng gạch, con mái lông ngực có
màu xám hồng và có những chấm đen. Cút mái nặng hơn cút trống.
Ta nên ghép trống trẻ với mái trẻ, không nên ghép trống già với mái trẻ.

2.1.1.3. Giá trị của chim cút
* Giá trị về kinh tế
Hiện nay chim cút đang đƣợc nuôi rất phổ biến ở nƣớc ta, nuôi chim
cút có nhiều ƣu điểm sau: Vốn đầu tƣ ít, không cần nhiều diện tích để xây
chuồng trại. Thời gian để có sản phẩm bán ra thị trƣờng nhanh, nuôi cút thịt
sau 30 ngày, cút đẻ 42 ngày. Chim cút giống trứng đƣợc nuôi rộng rãi là giống
chim cút Nhật Bản, tên khoa học là "Corturnix Japonica".
Một số hộ có kinh nghiệm nuôi chim cút cho biết, không chỉ mang lại
lợi nhuận từ việc bán trứng và thịt cút, phân cút cũng đƣợc các hộ tận dụng để


6
bán cho các hộ trồng cây công nghiệp và nuôi cá. Ƣu điểm của nuôi chim cút
là nhanh thu hồi vốn và đầu tƣ ban đầu không cao.
* Giá trị về y học
Chim cút dùng làm thuốc chữa bệnh, dùng trong y học cổ truyền. Y
dƣợc học cổ truyền dùng thịt chim và trứng chim làm thuốc. Thịt chim chứa
nhiều protit, lipit và muối khoáng. Trứng chim có nhiều chất lecithin hơn các
trứng khác.
Thịt chim cút có tác dụng bổ hƣ ích khí, thanh lợi thấp nhiệt. Dùng cho
các chứng lao, suy nhƣợc, tiêu chảy, kiết lỵ, suy dinh dƣỡng và phong thấp.
Trứng chim cút: Bổ ngũ tạng, bổ trung ích khí. Dùng cho các trƣờng
hợp sau khi bị bệnh lâu ngày làm khí huyết hƣ nhƣợc, tiêu hóa kém, sản phụ
sau đẻ bị suy nhƣợc.
Do tác dụng bổ dƣỡng tăng lực rõ rệt nên ở Trung Quốc, có nơi gọi
chim cút là nhân sâm động vật.
Ngƣời ta đã phát hiện trong thịt chim cút chứa nhiều albumin và
vitamin cùng nhiều muối vô cơ rất cần cho cơ thể hơn cả thịt gà, lợn,
bò…Trong trứng chim cút, chất dinh dƣỡng cũng rất phong phú nhƣ: canxi,
sắt, các muối hữu cơ…đều cao hơn trứng gà đặc biệt chất cholesterol lại rất

 Kẽm 2,7mg
 Selenium 17,4mg
 Vitamin A 57UI
 Thiamin (B1) 0,283mg
 Riboflavin 0,285mg
 Niacin 8,3mg
 Vitamin B6 0,53mg


8
 Vitamin B12 0,47mg
 Folate 7mg
 Pantothenic acid 0,787mg
Về phƣơng diện dinh dƣỡng có thể xem thịt chim cút nhƣ một nguồn
cung cấp chất sắt dƣới dạng heme (cơ thể dễ hấp thu) và nhiều vitamin nhóm
B nhất là B3 và B6. Thịt cũng cung cấp nhiều chất đạm và tƣơng đối nạc, rất
tốt với những ngƣời muốn ăn thịt nhƣng kiêng chất béo. Thịt cút cũng cung
cấp nhiều khoáng chất (kể cả kẽm và magnesium) và vitamin C thƣờng ít có
trong thịt động vật.
2.1.1.4. Đặc điểm hệ tiêu hóa ở chim cút
Theo nguồn huounaigiong.com [20], chim có tốc độ trao đổi chất và
năng lƣợng cao hơn so với động vật có vú. Cƣờng độ tiêu hóa mạnh ở chim
đƣợc xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hóa. Ở chim
non tốc độ này là 30 – 39cm trong vòng 1 giờ, ở chim lớn hơn là 32 – 40cm
và ở chim trƣởng thành là 40 – 42cm. Chiều dài của ống tiêu hóa ở chim
không lớn, thời gian mà khối thức ăn đƣợc giữ lại trong đó không vƣợt quá 2
– 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác. Do đó, để quá trình tiêu hóa
thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp về lứa
tuổi và trạng thái sinh lý, đƣợc chế biến thích hợp, đồng thời phải có hàm
lƣợng chất xơ ở mức thấp nhất.

* Tiêu hóa ở diều
Theo nguồn huounaigiong.com [20], ở chim cút, diều là một chỗ phình
rộng hơn, hình túi. Diều nằm bên phải, chỗ đi vào khoang ngực, ngay trƣớc
chạc ba nối liền 2 xƣơng đòn phải trái. Mặt ngoài của diều đƣợc tiếp xúc trực
tiếp với cơ da, cơ này giúp cho nó giãn nở rộng khi thức ăn rơi vào. Các lỗ
dẫn vào, dẫn ra của diều rất gần nhau và có các cơ thắt. Giữa các cơ thắt lại có


10
ống diều, khi chim đói thức ăn theo ống này đi thẳng vào dạ dày, không qua
túi diều nữa.
Thức ăn ở diều đƣợc làm mềm ra, quấy trộn và đƣợc tiêu hóa từng phần
bởi các men của thức ăn và các vi khuẩn nằm trong thức ăn thực vật.
* Tiêu hóa ở dạ dày
Theo nguồn huounaigiong.com [20], dạ dày chim gồm dạ dày tuyến và
dạ dày cơ. Thức ăn từ diều đƣợc chuyển vào dạ dày tuyến, nó có dạng ống
ngắn, vách dày, đƣợc nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ. Vách dạ dày tuyến
có cấu tạo gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết. Bề mặt của màng nhầy có
những nếp gấp dễ thấy, đậm là liên tục. Ở đáy màng nhầy có những tuyến
hình túi phức tạp. Dịch dạ dày đƣợc tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến,
có axit clohydric, enzym và musin. Cũng nhƣ ở động vật có vú, pepsin đƣợc
tiết ra ở dạng không hoạt động và đƣợc hoạt hóa bởi axit clohydric. Các tế
bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu
musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày. Sự tiết dịch dạ dày ở
chim là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên.
Dịch dạ dày tinh khiết là một chất lỏng không màu hoặc hơi trắng đục,
có pH axit. Độ pH của dịch dạ dày ở chim trung bình là 3,0; thƣờng là 2,6. Độ
pH sẽ giảm xuống sau khi tiếp nhận thức ăn giàu chất kiềm, cacbonat canxi,
bột xƣơng.
Ở chim, số lƣợng dịch dạ dày và độ axit tăng dần lên cùng với độ tuổi.

nghiền và làm sạch những tiểu thể thức ăn trong khoang dạ dày. Chúng làm
tăng tác dụng nghiền của vách dạ dày.
Đối với chim, sỏi tốt nhất là từ thạch anh, chúng bền với axit clohydric
của dịch dạ dày. Để hệ tiêu hoá hoạt động bình thƣờng thì kích thƣớc của
các viên sỏi với chim con mới nở nên nhỏ (đƣờng kính 2,5 – 3mm) và tăng
lên theo tuổi. Chim đã trƣởng thành có thể nuốt đƣợc loại sỏi có đƣờng
kính đến 4-6 mm. Không nên thay sỏi bằng cát, đá vôi, thạch cao, vỏ sò, vỏ


12
ốc hến. Cát sẽ đi rất nhanh từ dạ dày vào ruột và gây kích thích. Những
chất khác đã kể trên sẽ bị axit clohydric hoà tan và gây rối loạn tiêu hoá ở dạ
dày, sau đó là ở ruột.
Nếu không có sỏi trong dạ dày cơ thì sự hấp thu các chất dinh dƣỡng và
hệ số tiêu hoá thức ăn bị giảm xuống. Ở chim non, việc thiếu sỏi trong dạ dày
làm giảm khối lƣợng tuyệt đối của dạ dày 30 - 35%. Các cơ của dạ dày sẽ trở
nên nhũn và xuất hiện những vết loét trên màng nhầy.
Trong dạ dày cơ, ngoài việc nghiền thức ăn cơ học, còn sảy ra quá trình
hoạt động của các men. Dƣới tác động của axit clohidric, các phân tử protein
trở nên căng phồng và dễ bị phân giải.
* Tiêu hóa ở ruột
Theo nguồn huounaigiong.com [20], quá trình tiêu hoá các chất dinh
dƣỡng đều xảy ra ở ruột non của chim. Nguồn các men tiêu hoá quan trọng
nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến
ruột có ý nghĩa kém hơn.
Dịch ruột chim là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH - 7,42)
với tỷ trọng 1,0076. Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic,
aminolytic, lypolytic và các men enterokinaza.
Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan
hoặc hơi kiềm (pH 7,2 - 7,5). Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn có

có chứa nitơ. Ngoài sự tham gia vào quá trình tiêu hoá ở ruột, gan còn đóng
vai trò quan trọng trong trao đổi protein, gluxit, lipit và khoáng. Trong gan,
các axit uric, các chất cặn bã khác, hồng cầu chết bị phân huỷ, chất độc hại...
đƣợc trung hoà và thải vào nƣớc tiểu. Trong các tế bào của gan có chứa
glycogen, là nguyên liệu để tạo nên các vitamin quan trọng (A, D và các
vitamin khác).


14
Các men trong ruột hoạt động trong môi trƣờng axit yếu, kiềm yếu; pH
dao động trong những phần khác nhau của ruột.
Theo nguồn huounaigiong.com [20], trong tá tràng, dƣới tác động của
axit clohidric, các men của dịch dạ dày (pepsin và chimosin), protein bị phân
giải đến pepton và polypetit. Các men proteolytic của dịch tuỵ tiếp tục phân
giải chúng đến các axit amin trong hồi tràng; gluxit của thức ăn đƣợc phân
giải đến các monosacarit, do tác động của amilaza của dịch tuỵ, một phần do
amilaza của mật và của dịch ruột. Sự phân giải lipit đƣợc bắt đầu trong tá
tràng, dƣới tác động của dịch mật, dịch tuỵ, tạo ra các sản phẩm là
monoglyserit, glyserin và axit béo.
Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực. Sự
phân giải các chất dinh dƣỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở
khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá
ở màng). Tiêu hoá ở khoang là sự thuỷ phân thức ăn, còn tiêu hoá ở màng là
các giai đoạn tiếp theo, tạo ra các sản phẩm cuối cùng của sự tiêu hoá để hấp
thu. Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thƣớc lớn đƣợc
phân giải dƣới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản phẩm
trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế bào
biểu mô. Ở đó, trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai
đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng nhƣ axit amin,
monosacarit chuẩn bị cho việc hấp thu. Quan hệ qua lại của quá trình tiêu hoá

thu. Ngƣời ta cho rằng một phần nhỏ của lipit dƣới dạng các nhũ tƣơng có thể
đƣợc hấp thu trực tiếp.
Trong tƣơng bào của biểu mô ruột, các axit béo bị tách ra khỏi các axit
mật và một phần đƣợc tái tổng hợp thành các phân tử của lipit. Các axit béo
đƣợc giải phóng ra trong quá trình hấp thu kích thích sự hấp thu lẫn nhau,
chẳng hạn, khi có các axit béo không bão hoà thì vận tốc hấp thu các axit béo


16
bão hoà nhƣ palmitinic và stearinic đƣợc tăng lên trong ruột non chim con.
Hiệu quả của việc bổ sung lipit vào khẩu phần của chim con phụ thuộc vào tỷ
lệ giữa các axit béo bão hoà và không bão hoà trong khẩu phần.
Hấp thu nƣớc ở chim đƣợc thực hiện trong tất cả các phần ruột non và
ruột già. Có từ 30 - 50% nƣớc uống đƣợc hấp thu, quá trình này phụ thuộc
vào áp suất thẩm thấu trong ruột, trong máu và các mô. Ngƣời ta đã xác định
đƣợc rằng trong một số trƣờng hợp, ở chim có sự tuần hoàn nƣớc, một phần
nƣớc đã đƣợc hấp thu từ ruột vào máu rồi lại bị bài tiết trở lại vào diều, làm
nó căng phồng lên.
Các chất khoáng đƣợc hấp thu trên toàn bộ chiều dài ruột non. Diều, dạ
dày và ruột già hấp thu các chất khoáng không đáng kể. Các muối natri, kali
clorua hoà tan đƣợc trong chymus, đƣợc hấp thu một cách chọn lọc và với tốc
độ khác nhau, phụ thuộc vào nhu cầu về các chất đó của cơ thể. Natri clorua
đặc biệt dễ đƣợc hấp thu trong ruột chim con. Khi cho ăn thừa, muối này sẽ
sinh ra sự rối loạn trao đổi chất, chim sẽ bị nhiễm độc muối.
Cƣờng độ hấp thu canxi phụ thuộc vào nồng độ canxi trong máu, tính
chất của khoáng trong thức ăn cũng nhƣ hàm lƣợng dịch mật và vitamin D3
trong ruột. Khi chim bị bệnh còi xƣơng thì sự hấp thụ canxi bị giảm xuống
đột ngột. Canxi còn bị hấp thu ít hơn khi không có đủ vitamin D trong khẩu
phần. Muối canxi clorua đƣợc hấp thu tốt hơn so với các muối canxi khác.
Lƣợng photpho quá cao trong khẩu phần sẽ làm ngừng việc hấp thu canxi.

lá sắn có 89,60% VCK, 1966 Kcal/kg, tƣơng ứng với 2194Kcal/kg VCK.
Theo các tác giả trên và một số tác giả khác nhƣ Dƣơng Thanh Liêm
(1999) [7], Nguyễn Thị Hoa Lý (2008) [8] hàm lƣợng protein thô trong VCK
của lá sắn tƣơng đối cao, dao động từ 20-34,7%. Còn theo Nguyễn Nghi và cs
(1984) [10]) thì lá sắn giàu protein hơn so với củ sắn, hàm lƣợng protein trong
lá sắn từ 23-32% trong VCK. Theo Từ Quang Hiển và Phạm Sỹ Tiệp (1998)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status