Nghiên cứu thử nghiệm ảnh hưởng của men TUAF – multibio trên chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm khoa chăn nuôi thú y – trường đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 42

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG THỊ DỊU

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM ẢNH HƢỞNG
CỦA MEN TUAF – MULTIBIO TRÊN CHIM CÚT NUÔI
TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khoa

: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2011- 2016

Thái Nguyên - 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG THỊ DỊU

i

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường, thực tập tốt nghiệp là
khoảng thời gian rất cần thiết với mỗi sinh viên. Đây là khoảng thời gian để
cho tất cả sinh viên có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu được trên ghế
nhà trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất. Sau thời gian tiến hành nghiên cứu
nay em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp. Để hoàn thành được bản khoá
luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo,
tận tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân. Để đáp lại tình cảm
đó, qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập
thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu.
Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban
Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y cùng tập thể các thầy cô giáo trong
khoa Chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình
dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian
thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn
tận tình của Thầy hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên trong suốt quá trình
nghiên cứu để hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này.
Qua đây em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân và bạn
bè đã giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Nông Thị Dịu


ii


MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học ............................................................................ 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn ............................................................................ 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 3
2.1.1. Giới thiệu chung về probiotic ................................................................. 3
2.1.2. Những hiểu biết về men TUAF – Multibio............................................. 8
2.1.3. Giới thiệu về chim cút ........................................................................... 15
2.1.4. Đặc điểm hệ tiêu hóa ở chim cút ........................................................... 17
2.2. Tình hình nguyên cứu trong nước và ngoài nước .................................... 26
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 26
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 27
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ....................................................................................... 29
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 29
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 29
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 29
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................... 29


v

3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.............................................................. 29
3.4.2. Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định .......................................... 30
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 32
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 33

vấn đề con giống và việc ứng dụng nhiều biện pháp như: Bổ sung kháng sinh,
vitamin… vào thức ăn nước uống thì việc sử dụng một số men vi sinh vật có
ích dựa trên cơ sở của quá trình lên men đang được sử dụng rộng rãi, đem lại
lợi ích tương đối cao cho người chăn nuôi.
Hiện nay ngành chăn nuôi đang khuyến khích phát triển chăn nuôi theo
hướng “An toàn sinh học” nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh, chất lượng thịt
và sức khỏe người tiêu dùng. Sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi có
nhiều ưu điểm vượt trội như: Tăng năng suất, chất lượng, ít dịch bệnh, không
gây ảnh hưởng tiêu cực 2 đến sức khỏe con người, vật nuôi, giải quyết tốt môi
trường chăn nuôi.
Chim cút được coi là vật nuôi có giá trị kinh tế cao, đặc biệt đối với những
hộ chăn nuôi vừa và nhỏ, có thể xóa đói giảm nghèo. Với chất lượng thịt thơm
ngon, giàu chất dinh dưỡng, khả năng sản xuất thịt cao, giá thành bình quân
trên thị trường là 60.000–80.000 đồng/kg, chỉ 5 – 6 tuần tuổi đã bắt đầu đẻ
trứng và có thể đẻ đến 300 trứng/năm. Với những đặc tính ưu việt đó, chim cút
đang là đối tượng rất được các chủ trang trại và người nông dân chú ý đến.


2

Để nâng cao số lượng cũng như chất lượng đàn gia súc, gia cầm phục vụ
cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu, việc nghiên cứu và
đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào thực tiễn sản xuất là điều hết sức
cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, các nhà khoa học Khoa Chăn nuôi
thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã nghiên cứu và sản xuất thử
nghiệm thành công chế phẩm men vi sinh TUAF – Multibio bổ sung thức ăn
nhằm kích thích tiêu hóa và tăng khả năng sinh trưởng, tăng sức đề kháng cho
vật nuôi.
Để đánh giá hiệu quả của men TUAF – Multibio trước khi sản xuất và áp
dụng ở quy mô rộng hơn, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban

một phần trong việc hình thành sản phẩm lên men, hoặc được bổ sung dưới
dạng bột đông khô.
Từ "probiotic" được bắt nguồn từ Hy Lạp, có nghĩa là "dành cho cuộc
sống". Probiotic là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men mà có thể
thêm vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể sinh vật đường ruột
của sinh vật chủ (Parker, 1974) [16]. Van De Kerkove (1979), Barrows và
Deam (1985), Lestradet (1995) cùng cho rằng probiotic được sử dụng như
một liệu pháp trong việc chữa trị bệnh tiêu chảy hay như là cách phòng bệnh
ở người và động vật để giảm đến mức tối thiểu sự phát tán của vi sinh vật
đường ruột, sự kháng lại liệu pháp sinh học và sự di căn của chứng viêm dạ
dày ruột.
Probiotic cũng được nhận thấy là có những ảnh hưởng có lợi trên sức
khỏe của sinh vật chủ (Fuller, 1989) [14]. Năm 1992 Havenaar đã mở rộng
định nghĩa về probiotic: Probiotic được định nghĩa như là sự nuôi cấy riêng lẻ
hay hỗn hợp các vi sinh vật sống mà có ảnh hưởng có lợi cho sinh vật chủ
bằng cách cải thiện những đặc tính của vi sinh vật bản địa.
2.1.1.2. Cơ chế hoạt động của probiotic
Trong đường ruột của động vật, probiotic là nhóm vi khuẩn có lợi, hoạt
động theo nhiều cơ chế khác nhau:


4

* Loại trừ, cạnh tranh: Nghĩa là cạnh tranh bám vào màng nhầy thành
ruột, qua đó tạo nên một hàng rào vật lý bảo vệ sự tấn công của các vi khuẩn
gây bệnh (Nguyễn Thị Thúy Hiền, 2010) [4].
* Kháng khuẩn và kích thích hệ thống miễn dịch: Các probiotic sản xuất
ra hoạt chất kháng khuẩn và men kích thích hệ thống miễn dịch, ngăn cản sự
phát triển của các vi khuẩn gây bệnh bằng cách sinh axit béo, peroxide và các
kháng sinh. In vitro, các vi khuẩn lactic ngăn cản sự phát triển của

bệnh và cạnh tranh dinh dưỡng. Do đó, chúng có khả năng giảm kích thích bài
tiết và những hậu quả do phản ứng viêm của sự lây nhiễm vi khuẩn, cũng như
đẩy mạnh sự tạo ra các dòng phân tử phòng vệ như chất nhầy.
* Tác dụng đến hệ vi sinh vật đường ruột: probiotic điều chỉnh thành
phần của vi khuẩn đường ruột. Khi tập trung ở khoang ruột, chúng tạo nên sự
cân bằng tạm thời của hệ sinh thái đường ruột sự thay đổi này được nhận thấy
một vài ngày sau khi bắt đầu tiêu thụ thực phẩm có probiotic, phụ thuộc vào
công dụng và liều lượng của giống vi khuẩn. Kết quả chỉ ra rằng với sự tiêu
thụ thường xuyên, vi khuẩn định cư một cách tạm thời trong ruột, một khi
chấm dứt sự tiêu thụ thì số lượng vi sinh vật probiotic sẽ giảm xuống. Điều
này đúng cho tất cả các loại probiotic. Vi khuẩn probiotic điều hòa hoạt động
trao đổi chất của sinh vật đường ruột. Probiotic có thể làm giảm pH của bộ
phận tiêu hóa và có thể theo cách đó sẽ gây cản trở cho hoạt động tiết ra
enzyme của sinh vật đường ruột.
Probiotic định cư ở ruột với những vi khuẩn có lợi và loại trừ bệnh gây
ra bởi các vi sinh vật như: E.coli, Salmonella và Clostridium ở những vị trí
lông nhung của ruột non, nơi mà vi khuẩn có hại sẽ phá hủy lông nhung.
Probiotic gia tăng sự kháng bệnh bằng cách tăng nhiệt độ cao của lông nhung
và tăng độ sâu của các khe nằm giữa lông nhung, theo cách đó sẽ gia tăng
được diện tích bề mặt hấp thu chất dinh dưỡng. Vì vậy, vật nuôi sẽ gia tăng
hiệu quả hấp thụ thức ăn.


6

Những nhà khoa học từ Viện nghiên cứu thực phẩm ở Norwich (nước
Anh) báo cáo là những probiotic đặc biệt có thể tiêu diệt mầm bệnh vi khuẩn
sống ở ruột gia cầm, do đó giúp loại bỏ mối đe dọa sự ngộ độc thực phẩm vi
khuẩn từ chuỗi thức ăn (Nguyễn Thị Thúy Hiền, 2010) [4].
2.1.1.3. Vi sinh vật đóng vai trò là probiotic

một số loài có thể tự tổng hợp một số loại vitamin nhóm B. Tương tự, khả
năng hấp thu kim loại như đồng, sắt, kẽm cũng tăng lên khi chuột được ăn
sữa chua. Như vậy, Lactobacillus được cho là nhân tố kích thích sự hấp thu
dinh dưỡng.
- Gia tăng khả năng tiêu hóa lactose: Tăng cường khả năng hấp thu các
chất khó tiêu trong cơ thể, điển hình là lactose. Đây là một loại đường mà cơ
thể không thể hấp thu trực tiếp mà phải được chuyển hóa thành glucose và
galactose nhờ enzyme lactase sẽ không thể tiêu hóa được và lưu lại trong ruột
non. Khi đó các vi khuẩn probiotic trong ruột chúng sinh trưởng và cung cấp
enzyme galactosidase thủy phân lactose. Lactose được chuyển hóa thành axit
lactic giúp cơ thể hấp thu dễ dàng và làm giảm triệu chứng dị ứng lactose.
- Làm giảm cholesterol trong máu: Các bệnh về van tim thường liên hệ
đến lượng cholesterol cao trong huyết thanh. Cao Thị Kim Yến, (2010) [22],
khi nghiên cứu những người khỏe mạnh không có tiền sử về bệnh tim mạch
được ăn bổ sung sữa chua có chứa Lb. Acidiphilus cho thấy nồng độ
cholesterol trong huyết thanh giảm rõ rệt. Các tác giả kết luận rằng chủng
Lactobacillus liên kết với cholesterol trong khoang ruột vì thế làm giảm hấp
thu nó vào máu.
- Cải thiện nhu động của ruột: Vi khuẩn Lactobacillus có khả năng làm
giảm chứng táo bón và tăng nhu động của ruột. Lactose không được thủy
phân bởi disacharidase và không hấp thu được trong ruột nhưng nó được
chuyển đổi chủ yếu trong ruột kết thành axit lactic và axit acetic bởi nhiều


8

loại vi sinh vật, trong đó có loài Lb. acidophilus. Độ axit và sự giảm pH là kết
quả của quá trình lên men lactose do vi khuẩn Lactic trong ruột có thể kích
thích sự nhu động ruột và làm giảm chứng táo bón.
- Ngăn chặn và xử lí nhiễm khuẩn Helicobacter pylori: Helicobacter

- Phòng chống tiêu chảy.
- Giữ cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, chống rối loạn tiêu hóa sau khi
dùng kháng sinh.
- Kích thích tiêu hóa, tăng khả năng chuyển hóa thức ăn giúp gia súc, gia
cầm tăng trưởng nhanh, mau lớn.
2.1.2.1. Vi khuẩn Bacillus subtillis
Bacillus subtilis được Ferdinand Cohn- một cộng sự của Robert Koch
mô tả và đặt tên năm 1872[13]. Đó là 1 loại vi khuẩn Gram dương, có khả
năng mọc được khi có sự hiện diện của oxy và có thể tạo thành dạng đặc biệt
khi tế bào ở trạng thái nghỉ được gọi là nội bào tử (endospore). B.subtilis là vi
khuẩn đại diện cho loài (genus) Bacillus của họ Bacillaceae (family). Năm
2004, dựa trên phương pháp phân tích 16S rRNA người ta phân chia
loài Bacillus thành nhiều họ và loài vi khuẩn tạo bào tử khác nhau. Những
thành viên của họ Bacillus được đề cập ở đây là loại vi khuẩn Gram dương,
kỵ khí hay kỵ khí tùy tiện, tạo nội bào tử”. Về cơ bản theo phân loại của
Bergey, B.subtilis thuộc:
- Giới (kingdom): Bacteria
- Ngành (phylum): Firmicutes
- Lớp (class): Bacilli
- Bộ (order): Bacillales
- Họ (family): Bacillaceae
- Loài (genus): Bacillus


10

* Tính chất
Loài Bacillus phân bố rộng rãi và đa dạng trong tự nhiên.Trong điều kiện
sống khó khăn, chúng có khả năng tạo ra bào tử gần như hình cầu để tồn tại
trong thời gian dài.

dưỡng và hô hấ p của sinh vâ ̣t . Trong 1 gam sinh khối khô Bacillus có 7,8µg
riboflavin.
Nhiề u nước trên thế giớ i đã dùng B. subtilis như là mô ̣t chế phẩ m trơ ̣
sinh hay còn go ̣i là probiotic , chứa các vi sinh vâ ̣t số ng có tác du ̣ng làm cải
thiê ̣n hê ̣ vi sinh vâ ̣t ở cơ thể vâ ̣t chủ.
Các chế phẩm từ B. subtilis đươ ̣c bán ở hầ u hế t các nước c hâu Âu ngay
khi còn biế t it́ về cơ chế tác du ̣ng của chúng . Bào tử của B. subtilis có thể qua


11

đươ ̣c rào chắ n tiêu hóa , mô ̣t phầ n bào tử nảy mầ m trong ruô ̣t non và sinh sôi
trong đường ruô ̣t . Ngoài ra một số tác dụng lâm sàng củ a B. subtilis đã đươ ̣c
biế t như là tác nhân kích thích miễn dich
, nhờ tác dụng kích thích tiế t IgA ,
̣
một loại globulin tiết có trên bề mặt tế bào biểu mô niêm mạc có khả năng ức
chế, ngăn chặn vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể.
*Cơ chế tác dụng
Bacillus subtilis tồ n ta ̣i trong sinh phẩ m ở tra ̣ng thái bào tử , nhờ vâ ̣y khi
uố ng vào da ̣ dày nó không bi ̣axit cũng như các men tiêu hóa ở dich
̣ vi ̣phá
hủy. Ở ruột , bào tử nảy mầm và phát triển thành thể hoạt động

. Giai đoa ̣n

này, B. subtilis tổ ng hơ ̣p nhiề u chấ t có hoa ̣t tiń h sinh ho ̣c có lơ ̣i cho cơ thể
như các enzym thủy phân

, các vitamin , axit amin …Một số enzym như


lên trong ruô ̣t , chúng chỉ chuyển từ dạng bào tử sang dạng hoạt động rồi bị
đào thải hoàn toàn . Như vâ ̣y khả năng ca ̣nh tranh của B. subtilis đố i với vi
khuẩ n gây bê ̣nh không chỉ ở số lươ ̣ng tế bào vi khuẩ n mà còn nhờ vào các
hoạt chất sinh học mà nó tiết ra . Trong những năm gầ n đây , khoa vi sinh vâ ̣t
của bệnh viện Bạch Mai đã đánh dấu hỗn dịch B. subtilis bằ ng đồ ng vi ̣phóng
xạ trong điều trị bệnh đường ruột và kết luận : “Hỗn dịch B. subtilis sau khi
vào cơ thể chuột lang , đươ ̣c tâ ̣p trung rấ t nhiề u trong ruô ̣t già , lưu giữ ta ̣i đó
mô ̣t lươ ̣ng đáng kể cho đế n ngày thứ ba và khôn g đi vào máu” . Như vâ ̣y, để
điề u tri ̣các bê ̣nh đường ruô ̣t, khắ c phu ̣c tiǹ h tra ̣ng rối loa ̣n tiêu hóa sau khi
dùng kháng sinh lâu dài thì B. subtilis là một vũ khí lợi hại , rẻ tiền , dễ sử
dụng, có thể áp dụng rộng rãi trong

điề u tri ̣ . Các chế phẩm trợ sinh

từ B.subtilis khi đi vào cơ thể có tác du ̣ng theo bố n cơ chế chủ yế u:
-Trung hòa đô ̣c tố .
- Cạnh tranh với mầm gây bệnh
-Thay đổ i chuyể n hóa của vi sinh vâ ̣t
- Kích thích miễn dịch của cơ thể vật chủ.
Nhờ các cơ chế tác dụng này B. subtilis mang các đặc tính trị liệu và
hiện nay đã đươ ̣c sử du ̣ng rộng rãi làm chế phẩ m sinh ho ̣c dưới da ̣ng men tiêu
hóa sống.
2.1.2.2. Vi khuẩn Lactobacillus spp
Lactobacillus là vi khuẩn kỵ khí Gram dương. Chúng là những vi khuẩn
có dạng hình que dài, không sinh bào tử, tế bào thường xếp đôi hoặc thành
chuỗi, không di động. Chủng nhóm chính của vi khuẩn axit lactic, hầu hết các
chủng của chúng đều biến đổi đường thành lactose và những đường khác
thành axit lactic. Chúng là vi khuẩn rất phổ biến và thường là lành tính. Ở
người, chúng có mặt ở âm đạo và ruột. Nhiều loài có ở thực vật đang phân rã.

tính diệt khuẩn trực tiếp. Cơ chất này giúp vi khuẩn Lactobacillus thể hiện
được hoạt tính ức chế đối với các vi sinh vật gây thối trong hệ tiêu hóa. Vi
khuẩn Lactobacillus còn có thể ức chế sự phát triển của các vi sinh vật gây
thối nhờ vào những sản phẩm trao đổi chất khác như: H2O2, CO2 và diacetyl.


14

* Ứng dụng của vi khuẩn Lactobacillus
- Trong chăn nuôi:
Theo nguồn biospring.com.vn 18], Lactobacillus có khả năng kích thích
khả năng miễn dịch cho vật nuôi, hệ miễn dịch được tăng cường, vật nuôi có
thể tự chống lại một số bệnh phổ biến và dễ mắc phải khi thời tiết, điều kiện
sống thay đổi.
- Trong y học:
Lactobacillus cải thiện được tình trạng tiêu chảy, tăng nhu đông ruột,
chữa được chứng táo bón.
Lactobacillus duy trì pH âm đạo khoảng 4 – 4,5 nhờ vào hoạt động lên
men glycoge thành axit lactic. Môi trường này không thích hợp cho vi khuẩn
phát triển.
Các chế phẩm chứa Lactobacillus đều cho thấy hiệu quả trong chữa trị
những rối loạn và viêm nhiễm bao gồm: viêm ruột kết, đầy hơi, ung bướu, là
hạ cholesterol trong máu, đau đầu, viêm âm đạo không điển hình và cải thiện
được tình trạng không sử dụng được lactose.
2.1.2.3. Vi khuẩn Saccharomyces cerevisiae
Saccharomyces cerevisiae là một loại nấm men được biết đến nhiều nhất
có trong bánh mì nên thường gọi là “men bánh mì”, là một loại vi sinh vật
thuộc chi Saccharomyces lớp Ascomycetes ngành nấm. Loài này có thể xem
là loài nấm hữu dụng nhất trong đời sống con người từ hàng ngàn năm trước
đến nay. Nó được dùng rộng rãi trong lên men bánh mì, rượu, bia.

Chim cun cút, gọi tắt là chim cút, có nguồn gốc ở châu Á, chúng thích
hợp sống ở những vùng khí hậu ấm áp và hơi nóng. Lần đầu tiên giống này
được thuần hóa ở Nhật Bản từ thế kỷ thứ XI.
Chim cút thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong đó có bộ
gà (Galliformes) gồm những loài chim như: gà, gà lôi, công, trĩ, chim cút,…
chúng có cánh ngắn, tròn nên bay kém, chân to, khỏe, móng cùn.


16

Ở nước ta, nghề nuôi chim cút được nhập vào và phát triển mạnh ở miền
Nam trong những năm 1985 – 1990, chủ yếu nuôi chim cút Pharaoh, nặng
khoảng 180 – 200g. Vào khoảng năm 1980, nhập thêm giống cút pháp, to hơn
cút Pharaoh, con trưởng thành nặng tới 250 – 300g, có lông màu trắng hơn cút
Pharaoh. Ngoài ra, trên thị rường còn có một số chim cút Anh, khối lượng
trung gian giữa cút Pháp và cút Pharaoh, trung bình nặng khoảng 220 – 250g,
có lông màu sẫm, rất khó phân biệt trống mái, chỉ phân biệt được khi đã
trưởng thành (Bùi Hữu Đoàn, 2010) [3].
Để đáp ứng nhu cầu chăn nuôi chim cút, tháng 04/1997 Viên Chăn Nuôi
tiếp tục nhập chim cút Nhật Bản và chim cút Mỹ. Hiện nay, thịt và trứng chim
cút đã trở thành các thực phẩm quen thuộc trên thị trường và chăn nuôi chim
cút đã trở thành một nghề phổ biến của nhiều hộ nông dân với quy mô khác
nhau từ vài trăm con tới hàng chục ngàn con.
* Đặc điểm ngoại hình của chim cút
Chim cút, đầu màu vàng nghệ có các vết sọc đen chạy dọc trên lưng và
cánh. Lông bụng, lông cổ dưới ức có màu vàng nhạt, chân xám hồng có chấm
đen mỏ xám đá, mắt đen, đôi khi có con có màu sắc lạ như hung, đen, trắng.
Chim trưởng thành lông ống phủ kín thân, lông lưng, đầu, cổ, đuôi có
màu xám lẫn đen.
* Phân biệt trống mái

đồng thời phải có hàm lượng chất xơ ở mức thấp nhất.
* Tiêu hóa ở miệng
Chim lấy thức ăn bằng mỏ. Hình dáng và độ lớn của mỏ ở các loài gia
cầm rất khác nhau. Chim cút có mỏ ngắn, nhọn, cứng và hơi cong. Lưỡi gia
cầm nằm ở đáy khoang miệng, có hình dạng và kích thước tương ứng với mỏ.
Bề mặt phía trên của lưỡi có những gai rất nhỏ hóa sừng hướng về cổ họng,
có tác dụng giữ khối thức ăn trong miệng và đẩy chúng về phía thực quản.
Các cơ quan thị giác và xúc giác kiểm tra sự tiếp nhận thức ăn. Chim thực


18

hiện mổ và nuốt thức ăn nhờ các động tác nâng lên, hạ xuống linh hoạt của
đầu. Số lượng thức ăn mà chim ăn được trong 1 đơn vị thời gian phụ thuộc
vào mức độ hấp dẫn của thức ăn, loài và tuổi của chim. Khi đói, nó mổ nhanh
và ăn nhiều. Chim tiếp nhận thức ăn lỏng và nước bằng cách nâng đầu rất
nhanh rồi ngửa cổ lên để nuốt.
Việc điều khiển lượng thức ăn ở chim được thực hiện bởi các trung tâm
thần kinh của vùng dưới đồi thị. Các trung tâm này bị kích thích hoặc ức chế
do ảnh hưởng của các yếu tố ngoại sinh (thành phần và tính chất của thức ăn,
tần số và thời gian cho ăn) và nội sinh (mức độ của các quá trình trao đổi chất).
Khi thức ăn đi trong khoang miệng, nó được thấm ướt nước bọt để dễ
nuốt. Các tuyến nước bọt của chim phát triển kém. Động tác nuốt ở chim
được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được
chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản. Thanh quản được
nâng lên phía trước và lên trên, lối vào thanh quản bị ép dưới đáy của xương
dưới lưỡi và gốc lưỡi, ngăn không cho thức ăn rơi vào đường hô hấp. Viên
thức ăn thu nhận được ở cuống lưỡi được đẩy vào lỗ thực quản, sau đó do
những co bóp nhu động của thành thực quản, nó được đẩy vào diều. Khi chim
đói, thức ăn được đẩy thẳng vào dạ dày, không qua diều. Trong thành thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status