Đánh giá khả năng sinh trưởng và cảm nhiễn bệnh của đàn gà Isa Shaver hậu bị tại trại chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Pdf 45

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------

HOÀNG HẢI ĐĂNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG VÀ CẢM NHIỄM BỆNH
CỦA ĐÀN GÀ ISA SHAVER HẬU BỊ TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y – TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Chăn nuôi thú y

Khoa

: Chăn nuôi thú y

Khóa học

: 2013 – 2017

Thái nguyên, năm 2017



: 2013 – 2017

Giảng viên hƣớng dẫn

: PGS.TS. Từ Trung Kiên

Thái nguyên, năm 2017


i

LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành kỹ sƣ chăn nuôi trong tƣơng lai, ngoài việc trang bị cho
mình một lƣợng kiến thức lý thuyết, mỗi sinh viên còn phải trải qua giai đoạn
tiếp cận với thực tế sản xuất. Chính vì vậy, thực tập tốt nghiệp là khâu rất
quan trọng đối với tất cả các sinh viên trƣờng Đại học nói chung cũng nhƣ
sinh viên trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng. Đây là thời gian
cần thiết để sinh viên củng cố và áp dụng những kiến thức đã học trong nhà
trƣờng vào thực tế, thực hiện phƣơng châm “học đi đôi với hành”.
Thực tập tốt nghiệp cũng là quá trình giúp cho sinh viên rèn luyện tác
phong khoa học đúng đắn, tạo lập tƣ duy sáng tạo để trở thành kỹ sƣ có trình
độ năng lực làm việc, góp phần vào việc xây dựng, phát triển nông thôn mới
nói riêng và đất nƣớc nói chung.
Xuất phát từ thực tế chăn nuôi, đƣợc sự nhất trí của Nhà trƣờng và Ban
chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
đƣợc sự phân công của giáo viên hƣớng dẫn, em tiến hành đề tài: “Đánh giá
khả năng sinh trưởng và cảm nhiễn bệnh của đàn gà Isa Shaver hậu bị tại
trại chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên”.
Đƣợc sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hƣớng dẫn PGS.TS. Từ Trung

Sinh viên
Hoàng Hải Đăng


iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

BQ

Bình quân

cs

Cộng sự

KHKT

Khoa học kỹ thuật

NST

Nhiễm sắc thể

Nxb

Nhà xuất bản

TB


3.4.3. Các chỉ tiêu và phƣơng pháp theo dõi ................................................... 25


v

3.5. Phƣơng pháp xử lý số liệu........................................................................ 27
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................ 28
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 28
4.1.1. Công tác chăn nuôi ................................................................................ 28
4.1.2. Công tác thú y ....................................................................................... 32
4.1.3. Kết luận về công tác phục vụ sản xuất .................................................. 36
4.2. Kết quả nghiên cứu .................................................................................. 37
4.2.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi ............................ 37
4.2.2 Khối lƣợng gà thí nghiệm qua các tuần tuổi .......................................... 39
4.2.3. Tiêu thụ thức ăn của gà qua các tuần tuổi ............................................. 41
4.2.4. Tình hình cảm nhiễm cảm nhiễm bệnh của gà thí nghiệm ................... 43
4.2.5. Khả năng thích nghi của gà thí nghiệm ................................................ 43
4.2.6. Chi phí trực tiếp cho một gà hậu bị Isa Shaver ..................................... 44
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 45
5.1. Kết luận .................................................................................................... 45
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 46
I.TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT............................................................................... 46
II.TÀI LIỆU TIẾNG NƢỚC NGOÀI ............................................................. 48
PHỤ LỤC


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

một vài con. Trƣớc đây, chăn nuôi gia cầm thƣờng theo phƣơng thức quảng
canh tận dụng. Những năm gần đây, xu hƣớng phát triển ngành chăn nuôi nói
chung đã theo con đƣờng thâm canh công nghiệp hóa, chăn nuôi tập trung.
Nhiều gia đình chăn nuôi với số lƣợng lên đến hàng vạn con. Đặc biệt là chăn
nuôi gà công nghiệp đã khắc phục đƣợc nhiều đặc điểm của gà ta nhƣ về tốc
độ sinh trƣởng và khả năng sinh sản. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
xã hội, nƣớc ta đã nhập nhiều giống gà mới nhƣ các giống chuyên dụng
hƣớng trứng, hƣớng thịt có giá trị cao với các dòng ông, bà, bố, mẹ nhằm thay
đổi cơ cấu đàn giống gia cầm, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm,
bƣớc đầu đạt kết quả tốt.
Hiện nay, bên cạnh những giống gà hƣớng thịt, các giống gà hƣớng
trứng cũng ngày càng đƣợc quan tâm chú trọng đầu tƣ phát triển. Một trong
những giống gà sinh sản có năng suất cao, chất lƣợng trứng tốt, thích nghi với
điều kiện khí hậu của Việt Nam là giống gà Isa Shaver.
Chăn nuôi gà hƣớng trứng theo con đƣờng thâm canh công nghiệp hóa,
chăn nuôi tập trung ở nƣớc ta đã trở thành một trong những nghề phát triển


2
khá nhanh. Với những thuận lợi có đƣợc nhƣ hiện nay về các giống gà chuyên
dụng, những tiến bộ của ngành chăn nuôi gia cầm đòi hỏi phải có quy trình
chăm sóc, nuôi dƣỡng hợp lý. Vấn đề đặt ra là phải tìm ra phƣơng thức nuôi
phù hợp mà vẫn đảm bảo khả năng sản xuất của giống.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá khả năng sinh trưởng và cảm nhiễm bệnh của đàn gà Isa Shaver hậu bị
tại trại chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Biết cách chăm sóc, nuôi dƣỡng và quản lý trong chăn nuôi.
- Biết cách sử dụng một số loại vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị

+ Phía bắc giáp khu cây trồng cạn.
Trại có tổng diện tích là 11.960 m2.
Trong đó:
+ Khu chăn nuôi quy hoạch tại Trại gia cầm cũ với diện tích là 3.000
m2. Gồm 2 dãy chuồng với diện tích 316,6 m2 và 2 kho rộng 40 m2, phần diện
tích còn lại dùng để chăn thả và trồng cây bóng mát. Toàn bộ khu vực đƣợc
rào bằng thép B40 với tổng chiều dài 220 m, đảm bảo ngăn cách với các khu
vực khác.
+ Khu nhà điều hành và nhà ở cho sinh viên có diện tích là 48 m2 đƣợc
chia làm 4 phòng, gồm phòng điều hành, bếp nấu và 2 phòng ở cho sinh viên.
+ Hố sát trùng và phòng thay đồ có tổng diện tích là 30m2. Trong đó hố
sát trùng 20 m2, khu nhà thay quần áo bảo hộ lao động 10 m2.
+ Khu nhà xƣởng và công trình phụ trợ có diện tích 120 m2. Trong đó
có các công trình nhƣ:


4
01 kho thuốc, dụng cụ thú y:

20 m2

01 phòng ấp trứng gia cầm (máy ấp điện):

30 m2

01 kho chứa và chế biến thức ăn chăn nuôi:

50 m2

01 kho dụng cụ (máng ăn, uống, đệm lót…..):

rằng tổ tiên của gia cầm sống hoang dã. Bằng chứng là gà hoang miền Bắc Ấn
Độ hay gà Banquiva (Gallus Gallus murghi) - một trong bốn loại hình của gà
rừng đƣợc thuần hóa đầu tiên.
Gà Banquiva thƣờng đẻ trong tổ lót cỏ khô, lá cây; kéo dài 10 - 12 tháng;
ấp 20 - 21 ngày trứng nở. Khối lƣợng gà trƣởng thành: Gà mái khoảng 0,7 kg;
gà trống khoảng 1,0 - 1,1 kg. Gà Banquiva có lông màu sặc sỡ. Gà trống có
lông cổ màu vàng da cam đến vàng, lông mình đỏ nâu, lông cánh ánh đen,
lông bụng pha đen. Gà mái lông vàng nhạt, vàng trắng đến hoa mơ. Mỏ, chân
màu vàng đậm, vàng nhạt, đen. Từ các di chỉ khai quật khảo cổ ở các vùng
châu Á cho kết luận rằng cái nôi của sự thuần hóa gà nuôi là ở châu Á (Lê
Hồng Mận, 2007 [15]).
Ở Việt Nam cho đến nay, các công trình nghiên cứu về nguồn gốc gia
cầm chƣa thật đầy đủ. Tuy nhiên, nƣớc ta lại là một trung tâm thuần hóa gà
đầu tiên ở Đông Nam Á. Trải qua hàng nghìn năm, nhờ quá trình chọn lọc tự
nhiên cũng nhƣ chọn lọc nhân tạo và sự sáng tạo của con ngƣời, cho đến nay
đã tạo ra đƣợc rất nhiều giống gà khác nhau.
Ở nƣớc ta, nuôi gà là nghề truyền thống từ lâu đời. Phổ biến là giống gà
Ri, gà Ta vàng,… Nhiều tác giả cho rằng chính tổ tiên đã thuần dƣỡng đƣợc
gà ngay trên mảnh đất quê hƣơng từ giống gà rừng có thể từ đời Phùng
Nguyên cách đây trên dƣới 3500 năm. Trải qua quá trình phát triển nông


6
nghiệp, tùy theo sở thích thị hiếu, điều kiện vùng sinh thái đất đai, khí hậu,…
những giống gà có đặc điểm, tính năng khác nhau đã đƣợc tạo nên (Lê Hồng
Mận, 2007 [15]).
Về phân loại gà, theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [17], vị trí sắp xếp của
gà trong giới động vật học nhƣ sau:
Giới (Kingdom): Animan
Ngành (Phylum): Chodata

không cao. Màu sắc của mỏ có nhiều loại nhƣ: Vàng, đỏ, đen, hồng. Màu của
mỏ thƣờng phù hợp với màu của chân. Những giống gà da vàng thì mỏ cũng
vàng. Ở gà mái, màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng.
+ Chân: Gia cầm có 4 ngón, rất ít có 5 ngón (Trần Kiên và Trần Hồng
Việt, 1998 [11]). Chân thƣờng có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân
và da. Chân thƣờng có vuốt và cựa. Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh
sinh tồn của loài (Trần Thị Nguyệt Thu, 1999 [19]). Gà có chân cao thƣờng
cho năng suất thịt thấp và chậm phát dục.
+ Mào và tích: Là dẫn xuất của da, là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp của
gà. Nhờ vậy có thể phân biệt gà trống, gà mái. Mào gà rất đa dạng về hình
dạng, kích thƣớc, màu sắc; có thể đặc trƣng cho từng giống gà. Theo Phan Cự
Nhân (1971) [16], ở gà trống, sự phát triển của mào, tích phản ánh sự thành
thục tính dục sớm hay muộn; ở gà mái, mào và tích phát triển không rõ là dấu
hiệu xấu cho khả năng sinh sản của gà.
- Hình dáng, kích thƣớc các chiều đo cơ thể:
Tùy mục đích sử dụng, các giống gia cầm đƣợc chia làm 3 loại hình là:
Hƣớng trứng, hƣớng thịt và kiêm dụng. Gà hƣớng thịt thƣờng có hình dạng
cân đối, ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay hình chữ nhật. Gà
hƣớng trứng lại có kết cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác.


8
Theo tài liệu của Chambers (1990) [28], thì kích thƣớc các chiều đo có
tƣơng quan tới sức sản xuất của gà broiler. Tác giả cũng cho biết, độ lớn góc
ngực, dài chân, dài đùi và đƣờng kính ống chân có tƣơng quan với khối lƣợng
cơ thể. Siegel và Dunington (1978) [30], cho biết tƣơng quan giữa độ lớn góc
ngực và khối lƣợng cơ thể khoảng 0,4 - 0,68; trung bình là 0,42.
2.2.1.3. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng sản
xuất của gia cầm
Trong chăn nuôi để đánh giá đƣợc hiệu quả kinh tế, năng suất thịt của

Hai thành phần sai lệch trội (D) và tƣơng tác gen (I) cùng có vai trò
quan trọng, là giá trị giống đặc biệt chỉ có thể xác định đƣợc thông qua con
đƣờng thực nghiệm. D và I không di truyền đƣợc phụ thuộc vào vị trí và sự
tƣơng tác giữa các gen. Chúng là cơ sở của việc lai giống.
Đồng thời tính trạng số lƣợng cũng chịu ảnh hƣởng của môi trƣờng
chung và môi trƣờng riêng.
Sai lệch môi trƣờng chung (General environmental) (Eg) là sai lệch do
các yếu tố tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại này có
tính chất thƣờng xuyên và không cục bộ nhƣ: Thức ăn, khí hậu… Do vậy là
sai lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể và giữa các phần khác nhau trên một
cơ thể.
Sai lệch môi trƣờng riêng (Environmental deviation) (Eg) là các sai
lệch do các yếu tố môi trƣờng tác động riêng rẽ lên từng nhóm cá thể vật hay các
phần khác nhau của con vật. Loại yếu tố này có tính chất không thƣờng xuyên và
cục bộ nhƣ các thay đổi về thức ăn, khí hậu, trạng thái sinh lý… gây ra.
Nhƣ vậy, quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trƣờng (E)
của một cá thể biểu hiện nhƣ sau:
P = A + D + I + Eg + Es


10
Trong đó:
P: Là giá trị kiểu hình
A: Là giá trị cộng gộp (Additive value)
I: Là giá trị sai lệch tƣơng tác (Interaction devition)
Eg: Là sai lệch môi trƣờng chung (General enviromental deviation)
Es: Là sai lệch môi trƣờng riêng (Special enviromental deviation)
Do đó để đạt đƣợc năng suất, chất lƣợng cao trong chăn nuôi (Giá trị
kiểu hình nhƣ mong muốn) chúng ta cần phải có giống tốt và tạo ra môi
trƣờng thích hợp để phát huy hết tiềm năng của giống.

sản xuất của từng giống, dòng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật
nuôi mà vẫn đảm bảo đƣợc các chỉ tiêu về kinh tế.
Chi phí thức ăn thƣờng chiếm tới 70% giá thành sản phẩm, tiêu tốn thức
ăn càng thấp cho hiệu quả kinh tế càng cao và ngƣợc lại. Đánh giá về vấn đề
này, đối với gia cầm sinh sản ngƣời ta đƣa ra chỉ tiêu: Tiêu tốn thức ăn cho 10
quả hay 1 kg trứng. Hiện nay, nhiều cơ sở chăn nuôi trên thế giới đã áp dụng
phƣơng pháp tính mức tiêu tốn thức ăn bằng chi phí thức ăn cho gia cầm từ
lúc 1 ngày tuổi đến kết thúc 1 năm đẻ.
Theo Phùng Đức Tiến và cs (1999) [21], gà Ai Cập tiêu tốn 2,33 kg thức
ăn trên 10 quả trứng trong 43 tuần đẻ. Nguyễn Huy Đạt và cs (1996) [7], cho
biết, tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng trong 12 tháng của gà Goldline - 54
thƣơng phẩm đạt 1,65 - 1,84 kg. Nhachannuoi.vn (2015) [31], cho biết, tiêu
tốn thức ăn trên 10 quả trứng của Gà Leghorn, Gold – Line và Brown nick lần
lƣợt là 1,3 – 1,6 kg ; 1,3 – 1,6 kg và 1,3 – 1,6 kg.
Lƣợng thức ăn tiêu thụ hàng ngày phản ánh tình trạng sức khỏe của đàn
gà, chất lƣợng thức ăn và trình độ chăm sóc nuôi dƣỡng. Không những thế, nó
còn ảnh hƣởng trực tiếp tới sinh trƣởng, từ đó ảnh hƣởng đến năng suất con
giống. Lƣợng thức ăn tiêu thụ hằng ngày liên quan đến mức năng lƣợng và


12
protein trong khẩu phần, ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và khả năng sản xuất của
gia cầm.
Theo Vũ Duy Giảng và cs (1997) [8], thì hàm lƣợng protein khác nhau
trong thức ăn cũng có ảnh hƣởng đến lƣợng thu nhận thức ăn của gia cầm. Từ
đó ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và khả năng cho sản phẩm của gia cầm.
2.2.1.6. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm
* Khả năng sinh sản của gia cầm
Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố
cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia

gia cầm đẻ sớm. Tuổi đẻ trứng đầu sớm hay muộn liên quan đến khối lƣợng
cơ thể ở một thời điểm nhất định. Những gia cầm thuộc giống bé có khối
lƣợng cơ thể nhỏ, tuổi thành thục sinh dục sớm hơn những gia cầm có khối
lƣợng cơ thể lớn. Trong cùng một giống, cơ thể nào đƣợc nuôi dƣỡng chăm
sóc tốt, điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp
sẽ có tuổi thành thục sinh sản sớm hơn. Nhiều công trình nghiên cứu đã
chứng minh tuổi thành thục sinh dục sớm là trội so với tuổi thành thục sinh
dục muộn.
* Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Năng suất trứng hay sản lƣợng trứng của một gia cầm mái là tổng số
trứng đẻ ra trên một đơn vị thời gian. Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan
trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục.
Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hƣớng sản xuất, mùa vụ và
đặc điểm của cá thể. Năng suất trứng là tính trạng số lƣợng nên nó phụ thuộc
nhiều vào điều kiện ngoại cảnh.
Tỷ lệ đẻ là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của gia cầm. Đỉnh cao của tỷ
lệ đẻ có mối tƣơng quan đến năng suất trứng. Giống gia cầm nào có tỷ lệ đẻ


14
cao kéo dài trong thời kì sinh sản, chứng tỏ là giống tốt, nếu chế độ dinh
dƣỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao. Năng suất trứng của một quần
thể gà mái cao sản đƣợc thể hiện theo quy luật, cƣờng độ đẻ cao nhất vào
tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần cho đến hết năm.
Cƣờng độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn. Tổng thời
gian này có thể loại trừ ảnh hƣởng của môi trƣờng. Thời gian kéo dài sự đẻ có
liên quan đến chu kỳ đẻ trứng. Chu kỳ đẻ dài hay ngắn phụ thuộc vào cƣờng
độ và thời gian chiếu sáng. Đây là cơ sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong
chăn nuôi gà đẻ. Giữa các trật đẻ gà thƣờng có thời gian đòi ấp, sự xuất hiện
bản năng đòi ấp này phụ thuộc vào yếu tố di truyền vì ở các giống khác nhau

cùng một độ tuổi thì khối lƣợng trứng tăng lên chủ yếu do khối lƣợng lòng trắng
lớn hơn nên giá trị năng lƣợng giảm dần. Khối lƣợng gà con khi nở thƣờng bằng
62 % - 78 % khối lƣợng trứng ban đầu. Khối lƣợng trứng của các loại giống
khác nhau thì khác nhau.
* Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm
Sức sản xuất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động, nó chịu ảnh
hƣởng bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài.
- Giống, dòng: Ảnh hƣởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp. Cụ thể
giống Leghorn trung bình có sản lƣợng 250 – 270 trứng/năm. Về sản lƣợng
trứng, những dòng chọn lọc kỹ thƣờng đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chƣa
đƣợc chọn lọc kỹ khoảng 15 % - 30 % về sản lƣợng.
- Tuổi gia cầm: Có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng của nó. Nhƣ một
quy luật, ở gà sản lƣợng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai
giảm 15 % - 20 % so với năm thứ nhất, còn ở vịt thì ngƣợc lại, năm thứ hai có
sản lƣợng trứng cao hơn năm thứ nhất 9 % - 15 %.


16
- Tuổi thành thục sinh dục: Liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm, nó
là đặc điểm di truyền cá thể. Sản lƣợng trứng của 3 – 4 tháng đầu tiên tƣơng
quan thuận với sản lƣợng trứng cả năm.
- Mùa vụ: Ảnh hƣởng đến sức đẻ trứng rất rõ rệt. Ở nƣớc ta, mùa hè
sức đẻ trứng giảm xuống nhiều so với mùa xuân, đến mùa thu lại tăng lên.
- Nhiệt độ môi trƣờng xung quanh: Liên quan mật thiết đến sản lƣợng
trứng. Ở điều kiện nƣớc ta nhiệt độ chăn nuôi thích hợp với gia cầm đẻ trứng
là 14 – 22oC. Nếu nhiệt độ trên giới hạn cao sẽ thải nhiệt nhiều qua hô hấp và
nếu dƣới giới hạn thấp thì gia cầm sẽ phải huy động năng lƣợng chống rét.
- Ánh sáng: Nó đƣợc xác định qua thời gian chiếu sáng và cƣờng độ
chiếu sáng. Yêu cầu của gà đẻ thời gian chiếu sáng 12 – 16 giờ/ngày, có thể
sử dụng ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo để đảm bảo giờ chiếu sáng và

bầu; bộ lông ép sát vào thân, lông đuôi dài, xòe rộng; chân cao, khô; thần kinh
linh hoạt.
- Khả năng sản xuất:
+ Isa Shaver khả năng thích nghi cao, phù hợp với điều kiện khí hậu
Việt Nam.
+ Tỷ lệ nuôi sống cao. Gà có tuổi thành thục sớm, đẻ bói khi 18 tuần
tuổi (2%), thời gian khai thác dài (tuần tuổi 79).
+ Năng suất trứng bình quân 320 – 330 trứng/mái/năm. Khối lƣợng
trứng bình quân 54 – 62g.
+ Tiêu thụ thức ăn: 120g/con/ngày.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Sau hơn 20 năm đổi mới, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói
riêng có tốc độ tăng trƣởng nhanh và bền vững với giá trị sản xuất lớn. Chăn
nuôi gia cầm có giá trị sản xuất năm 1986 là 1.701 tỷ đồng tăng lên 3.712,8 tỷ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status