Đánh giá về nhận thức của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THANH HUY

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ VỀ NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
LÂM THÁI NGUYÊN VỚI VẤN ĐỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi Trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS. Phan Thị Thu Hằng
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm


PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1. Những vấn đề chung về vệ sinh an toàn thực phẩm 5
2.1.1. Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm: 5
2.2. Ảnh hưởng của thực phẩm không an toàn đến sức khỏe con người 6
2.3. Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới và ở tại Việt Nam
10
2.3.1. Thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới 10
2.3.2. Thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam 14
2.4. Nguyên nhân gây mất vệ sinh an toàn thực phẩm 17
2.5. Các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 20
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 25
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
3.2. Địa điểm và thời gian điều tra 25
3.3. Nội dung nghiên cứu 25
3.4. Phương pháp điều tra 25
3.5. Phương pháp xử lý số liệu 26
PHẦN 4: DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 27
4.1. Tình hình chung về trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 27
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên 27
4.1.1.1. Vị trí địa lý 27
4.1.1.2. Địa hình 27
4.1.1.3. Khí hậu, thời tiết 27
4.1.1.4. Điều kiện kinh tế - xã hội 28
4.1.1.5. Giới thiệu chung về trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 28
4.1.2. Quy mô sinh viên 31
4.1.3. Phân khu chức năng 31
4.2. Hiện trạng việc cung ứng thực phẩm trên địa bàn trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên 33
4.3. Hiện trạng sử dụng thực phẩm trong sinh viên trường Đại học Nông

phẩm (n=200) 48
Bảng 4.12 Đánh giá nhận thức của sinh viên về vệ sinh an toàn thực phẩm có
ảnh hưởng tới môi trường (n=200) 48

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Giải thích
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
ATTP An toàn thực phẩm
NĐTP Ngộ độc thực phẩm
WHO Tổ chức Y Tế Thế giới
UBND Ủy ban nhân dân
KTX Ký túc xã

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Tên chuyên đề
“Đánh giá về nhận thức của sinh viên trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm”
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thái Nguyên là thành phố có nhiều trường đại học, cao đẳng với một số
lượng sinh viên rất lớn. Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là một ngôi
trường đã có bề dày kinh nghiệm giảng dạy hơn 40 năm với các ngành liên
quan tới nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản – tài nguyên – môi trường và
một số ngành khác. Hằng năm sinh viên có nhu cầu học vào các ngành mà
trường đào tạo là rất lớn. Tới đây, các bạn sinh viên được giao lưu học hỏi lẫn
nhau để làm cho mình được hoàn thiện hơn, được tiếp thu kiến thức mà các
giảng viên có trình độ cao, tâm huyết với nghề giảng dạy. Sẽ có rất nhiều vấn
đề mà các bạn sinh viên cần quan tâm trong thời gian học tại trường, đặc biệt

Đánh giá được nhận thức của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm.
1.3. Yêu cầu của đề tài
Đánh giá, phân tích tổng hợp các hành vi, nhận thức của sinh viên
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên về vệ sinh an toàn thực phẩm, và có
biện pháp tuyên truyền để nâng cao nhận thức.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
Trên cơ sở những thông tin thu thập được của cuộc điều tra, góp phần
xây dựng cơ sở lý thuyết cho vấn đề này. Từ đó có một cái nhìn chân thực và
khách quan về nhận thức của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm
* Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua điều tra sẽ hình thành cơ sở lý luận của vấn đề vệ sinh an
toàn thực phẩm trong nhận thức của sinh viên và từ đó đề ra một số định
hướng, giải pháp và kiến nghị góp phần giải quyết hiệ tượng trên.

PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Những vấn đề chung về vệ sinh an toàn thực phẩm
2.1.1. Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm:
Bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng
trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh,
duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự
tăng trưởng kinh tế, văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minh. Mặc dù
cho đến nay đã có khá nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong công tác bảo
vệ và vệ sinh an toàn thực phẩm, cũng như biện pháp về quản lý giáo dục như
ban hành luật, điều lệ và thanh tra giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng
các bệnh do kém chất lượng về vệ sinh thực phẩm và thức ăn vẫn chiếm tỷ lệ

sữa, bột đá trong kẹo, aldehyde trong rượu…v.v). Về lâu dài, thực phẩm
không những có tác dụng thường xuyên đối với sức khỏe con người mà còn
ảnh hưởng lâu dài đến nòi giống. Sự dụng các thực phẩm không đảm bảo vệ
sinh trước mắt có thể bị ngộ độc cấp tính với các triệu chứng dễ nhận thấy,
nhưng vấn đề nguy hiểm là sự tích lũy dần dần các chất độc hại ở một số cơ
quan trong cơ thể. Sau một thời gian bệnh mới biểu hiện hoặc có thể gây các
dị tật, dị dạng cho thế hệ mai sau. Những ảnh hưởng tới sức khỏe đó phụ
thuộc vào các tác nhân gây bệnh.
Đối với Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác, lương
thực, thực phẩm là loại sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý
nghĩa chính tri, xã hội rất quan trọng. Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế,
thực phẩm không những cần được sản xuất, chế biến, bảo quản phòng tránh ô
nhiễm các loại vi sinh vật mà còn không được chứa các chất hóa học tổng hợp
hay tự nhiên vượt quá mức quy định cho phép của tiêu chuẩn quốc tế hoặc
quốc gia, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Những ảnh hưởng của thực phẩm khi không đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm:
Thiệt hại chính do các bệnh gây ra từ thực phẩm đối với cá nhân là chi
phí khám bệnh, phục hồi sức khỏe, chi phí do phải chăm sóc người bệnh, sự
mất thu nhập do phải nghỉ làm… Có rất nhiều căn bệnh nguy hiểm cũng chỉ
vì sử dụng các loại thực phẩm không an toàn mà gây ra bi kịch thảm thương
một số căn bệnh như: Bệnh tiêu chảy, bệnh tim mạch, các bệnh liên quan tới
da, ngộ độc thực phẩm… Và còn rất nhiều những căn bệnh khác được ủ bệnh
bên trong cơ thể tới khi phát bệnh thì đã không còn thuốc chữa.
Đối với nhà sản xuất, đó là những chi phí do phải thu hồi, lưu giữ sản
phẩm, hủy hoặc loại bỏ sản phẩm, những thiệt hại do mất lợi nhuận do thông
tin quảng cáo… Và thiệt hại lớn nhất là mất lòng tin của người tiêu dùng.
Ngoài ra còn có các thiệt hại khác như phải điều tra, khảo sát, phân tích,
kiểm tra độc hại, giải quyết hậu quả.
Do vậy, hậu quả mà các bệnh do sử dụng thực phẩm không an toàn là

Clostridium perfringens, vi khuẩn E.coli…
Vi khuẩn Salmonella là vi khuẩn gram ( - ), di động, không sinh nha
bào, kém đề kháng với điều kiện bên ngoài, bị phá hủy bằng phương pháp tiệt
trùng Pasteur và đun nấu kỹ thức ăn. Nhưng vi khuẩn Salmonella có thể sống
sót một thời gian dài ở thực phẩm khô và ướp lạnh. Do đó khi làm tan thực
phẩm khô, đông lạnh vi khuẩn này vẫn có thể dễ dàng phát triển lại. Vi khuẩn
phát triển thích hợp nhất là từ 35
0
C – 37
0
C.
Vi khuẩn Clostridium perfringens là trực khuẩn gram ( + ), sống kỵ khí,
có nha bào, tồn tại trong đất, nước, đường tiêu hóa của người, động vật. Nha
bào của Clostridium perfringens dễ đề kháng với nhiệt độ. Clostridium
perfringens sinh ra 6 týp độc tố: A, B, C, D, E, F; Trong đó độc tố týp A là
độc tố chủ yếu gây ra ngộ độc thực phẩm, sau đo đến týp F. Chúng là những
trực khuẩn tạo thành bào tử, không chuyển động. Nhiệt độ thích hợp cho sinh
trưởng của chúng là 37
0
C – 45
0
C, độc tố nhiều nhất là ở điều kiện 37
0
C.
Vi khuẩn E.coli là loại trực khuẩn gram ( - ), thuộc nhóm Escherichia,
không sinh nha bòa, có thể di động hoặc không di động. Sự có mặt của E.coli
được coi chỉ điểm của sự nhiễm phân người hoặc động vật trong thực phẩm.
E.coli ký sinh bình thường ở ruột người, đặc biệt là ở ruột già. E.coli phát
triển ở nhiệt độ 5
0

Công tác quản lý chất lượng VSATTP vừa là yêu cầu cấp bách, vừa có tính
chiến lược lâu dài, đồng thời đây cũng là mảng công tác rất rộng lớn và phức
tạp, đan xen với nhau bởi rất nhiều hoạt động. VSATTP là tập hợp các điều
kiện và biện pháp cần thiết để thực phẩm không gây hại cho sức khỏe và tính
mạng con người. Để đảm bảo chất lượng VSATTP thì tất cả các khâu trong
chuỗi đảm bảo chất lượng thực phẩm ( từ khâu nuôi trồng, đánh bắt, đến sản
xuất chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh, và sử dụng) đều phải đạt vệ
sinh an toàn. Nếu bất kỳ khâu nào không đạt yêu cầu thì nguy cơ ngộ độc
thực phẩm đều có thể xảy ra. Trách nhiệm bảo đảm chất lượng VSATTP là
của tất cả mọi người trong xã hội từ các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể
đến các nhà khoa học, các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh và đến cả
người tiêu dùng.
Theo thống kê của Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) cho biết vào năm
2009 có hơn 400 các bệnh lây truyền qua thực phẩm không an toàn. VSATTP
đã được đặt lên hàng đầu nghị trình tại nhiều hội nghị y tế và sức khỏe cộng
đồng toàn cầu, nhưng tình hình gần như không được cải thiện bao nhiêu, nhất
là khi thế giới liên tiếp xả ra thiên tai và nguồn nước sạch ngày càng khan
hiếm. Khi người dân không có đủ miếng ăn thì việc kiểm tra chất lượng
những gì mà họ ăn đã trở thành điều quá xa vời. Tiến sĩ Margaret Chan, Tổng
giám đốc Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO), cho biết mỗi tháng Liên Hợp Quốc
nhận được khoảng 200 báo cáo từ 193 quốc gia về các trường hợp thực phẩm bị
nhiễm độc. Bà nhấn mạnh “Một lần nữa, tôi xin khẳng định, vệ sinh an toàn
thực phẩm là vấn đề chung của cả nhân loại chứ không riêng một nước nào”.
Theo WHO đã thống kê và cho biết mỗi năm những ca bị ngộ độc ở
một số nước trên thế giới như sau:
Tại Mỹ có 76.000.000 người bị ngộ độc thực phẩm trong đó có 325.000
người phải nhập viện, tử vong 5.000 người.
Tại Anh mỗi năm có 190 ca ngộ độc/1.000 dân.
Tại Nhật Bản cứ 100.000 người có 40 ca ngộ độc thực phẩm mỗi năm.
Tại Úc mỗi năm có 4.2 triệu người bị ngộ độc thực phẩm.

phép, hoặc hóa chất được phép sử dụng trong chế biến thực phẩm, nhưng lại
được dùng quá hàm lượng hoặc chất độc sinh ra trong quá trình bảo quản, chế
biến, chưa kể một số độc tố tự nhiên).
Về chính sách pháp luật, đã có rất nhiều các văn bản quy định, hướng
dẫn. Tuy có rất nhiều văn bản, nhưng vừa chồng chéo, không phân định rõ
ràng trách nhiệm quản lý giữa các bộ, các ngành lại vừa thiếu sót, chưa phủ
hết các lĩnh vực, có khoảng trống giữa các khâu trong trách nhiệm quản lý
liên tục một loại sản phẩm. Một số lĩnh vực mới phát sinh (như thực phẩm
chức năng, một số độc chất và vi chất) chưa được hướng dẫn quản lý cụ thể,
chi tiết nên địa phương rất khó thực hiện. Bên cạnh đó có những quy định
không phù hợp với thực tế như hiện tuyến xã không thể nào đủ cán bộ đủ
chuyên môn để thực hiện việc khám sức khỏe, thẩm định cơ sở, cấp giấy phép
theo quy định (thực tế cơ sở cũng chưa đủ điều kiện VSATTP để xét cấp).
Về tổ chức bộ máy, chưa có một hệ thống tổ chức làm công tác
VSATTP thống nhất từ trung ương đến địa phương, chưa có mạng lưới thanh
tra chuyên nghành về VSATTP. Tại Mỹ có cơ quan Kiểm soát Thực phẩm và
Dược phẩm (CDC), ở Trung Quốc cũng có cơ quan tương tự. Còn tại Việt
Nam có tới 5 bộ quản lý về VSATTP gồm: Bộ Y Tế, Bộ Công Thương, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài
Nguyên và Môi trường và UBND các cấp, dẫn đến một thực trạng không có
cơ quan nào chịu trách nhiệm chính khi có vấn đề về VSATTP. Đối với tuyến
tỉnh, các tỉnh đã thành lập Chi cục Vệ sinh an toàn thực phẩm trực thuộc Sở Y
tế, nhưng do văn bản hướng dẫn của Trung ương không quy định thống nhất
về biên chế của Chi cục, nên mỗi tỉnh có mô hình tổ chức và số lượng biên
chế khác nhau, mặc dù khối lượng công việc giữa các tỉnh không khác nhau
bao nhiêu. Cán bộ sang Chi cục VSATTP làm nhiệm vụ không được hưởng
phí cấp ưu đãi ngành. Còn tuyến huyện, xã vẫn chưa có quy định về tổ chức
bộ máy và cán bộ chuyên trách trong khi nội dung và khối lượng công tác trên
lĩnh vực VSATTP là rất lớn, lại thực hiện chủ yếu tại cơ sở. Đây là một
nghịch lý ai cũng thấy rõ, nhưng vẫn chưa có biện pháp nào để giải quyết phù

gia trong sản xuất trở nên phổ biến. Các loại phẩm màu, đường hóa học đang
bị lạm dụng trong pha chế nước giải khát, sản xuất bánh kẹo, chế biến thức ăn
sẵn như thịt quay, giò chả, ô mai… Nhiều loại thịt bán trên thị trường không
qua kiểm duyệt thú y. Tình hình sản xuất thức ăn, đồ uống giả, không đảm
bảo chất lượng và không theo đúng thành phần nguyên liệu cũng như quy
trình công nghệ đã đăng ký với cơ quan quản lý. Nhãn hàng và quảng cáo
không đúng sự thật vẫn xảy ra. Ngòa ra việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
bao gồm thuốc trừ sâu, diệt cỏ, hóa chất kích thích tăng trưởng và thuốc bảo
quản không theo đúng quy định gây ô nhiễm nguồn nước cũng như tồn dư các
hóa chất này trong thực phẩm. Việc bảo quản lương thực thực phẩm không
đúng quy cách tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm mốc phát triển đã dẫn đến
các vụ ngộ độc thực phẩm. Các bệnh do thực phẩm gây nên không chỉ là các
bệnh cấp tính do ngộ độc thức ăn mà còn là các bệnh mãn tính do nhiễm và
tích lũy các chất độc hại từ môi trường bên ngoài vào thực phẩm, gây rối loạn
chuyển hóa các chất trong cơ thể, trong đó có bệnh tim mạch và ung thư.
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, năm 2007 cả nước xảy ra 248 vụ
ngộ độc thực phẩm (NĐTP) với 7.329 người mắc, trong đó 55 người tử vong.
So với năm 2006 tuy số lượng tử vong giảm 3,5% nhưng tổng số người mắc
lại tăng 2,7%. Từ đầu năm 2008 đến hết tháng 9-2008 cả nước xảy ra 150 vụ
ngộ độc thực phẩm với 6.724 người mắc, trong đó 49 người tử vong. Riêng
trong tháng 10/2008 có ít nhất 12 vụ ngộ độc thực phẩm trên cả nước với
khoảng 300 người mắc, trong đó đáng lưu ý nhất là tình trạng ngộ độc rượu
tại TP. Hồ Chí Minh (bảy vụ với 12/30 người tử vong).
Hiện có 40 tỉnh, thành phố trong nước xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm
thường xuyên. Số ca ngộ độc thực phẩm phải nhập viện tập chung cao nhất ở
miền Đông Nam Bộ (chiếm 51,91%). Nguyên nhân là do khu vực này đang
phát triển nhiều khu công ngiệp và chế xuất nhưng vệ sinh an toàn thực phẩm
ở các bếp ăn tập thể chưa được đảm bảo. Thế nhưng số ca tử vong do ngộ độc
lại tập chung nhiều ở các vùng núi phía Bắc (55,81%) và nguyên nhân thường
do người dân vô tình sử dụng nấm độc, bánh ngô chứa độc tố nấm mốc và

đổi về ATTP. Từ năm 2007 đến nay, vấn đề ngộ độc thực phẩm tập thể đang
có chiều hướng giảm nhưng chưa chuyển biến mạnh. Đến năm 2010, xu thế
ngộ độc thực phẩm cũng có nhiều thay đổi so với 10 năm trước đây. Nếu như
trước đây ngộ độc chủ yếu do yếu tố vi sinh, thì đến nay trội lên nhiều hơn là
từ hóa chất, trong đó có vấn đề sử dụng phẩm màu thực phẩm. Dùng phẩm
màu trong thực phẩm là rất cần thiết, tuy nhiên nó đòi hỏi sự an toàn và đầu tư
văn minh. Hoặc như vấn đề chăn nuôi hiện nay cũng đang đặt ra khâu kiểm
soát với những thách thức rất lớn. Nếu như ở các nước tiên tiến trên thế giới,
kiểm soát thức ăn chăn nuôi chặt chẽ như thức ăn cho người thì tại Việt Nam,
điều đó còn bỏ ngỏ. Hoặc trong nuôi trồng thủy sản xuất khẩu đã có nhiều
tiến bộ trong khai thác và chế biến, áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất thực
phẩm như GAP, HACCP… nhưng tiêu dùng trong nước lại đặt ra nhiều vấn
đề khó quản lý. Mặc dù trên thế giới đã xây dựng được hệ thống các tiêu
chuẩn và quy chuẩn, nhưng việc sử dụng nó như thế nào, ra sao sẽ không dễ
gì thay đổi hành vi gian lận trong kinh doanh.
2.4. Nguyên nhân gây mất vệ sinh an toàn thực phẩm
Sau đây là những nguyên nhân tiêu biểu của vấn đề gây mất vệ sinh an
toàn thực phẩm:
* Do vi khuẩn, virus, ký sinh, nấm gây nên
Nguyên làm cho thực phẩm không an toàn gồm thực phẩm ngiễm vi
sinh độc hại (vi khuẩn, virus, ký sinh, nấm) là nguyên nhân chính yếu gây
nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm tập thể và sử dụng những loại hóa chất,
phụ gia dùng trong nông sản, thực phẩm không đúng quy định gây ảnh hưởng
xấu đến sức khỏe người tiêu dùng (như dùng hóa chất không cho phép, hoặc
hóa chất được phép sử dụng trong chế biến thực phẩm, nhưng lại được dùng
quá hàm lượng hoặc chất độc sinh ra trong quá trình bảo quản, chế biến, chưa
kể một số độc tố tự nhiên).

* Quá trình chăn nuôi, gieo trồng, sản xuất thực phẩm, lương thực
- Thực phẩm có nguồn gốc từ gia súc, gia cầm bị bệnh hoặc thủy sản

* Công tác thanh tra và kiểm tra chưa đầy đủ và hiệu quả
Tại hội nghị toàn cầu về Vệ sinh an toàn thực phẩm lần II (9/4/2008)
các số liệu thống kê đã khiến không ít người phải nghi ngờ về khả năng quán
xuyến của Cơ quan Nhà nước trong việc kiểm tra Vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ban Chỉ đạo Quốc gia về Vệ sinh an toàn thực phẩm có hơn mười bộ, ngành
tham gia, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách về thanh
tra, kiểm tra Vệ sinh an toàn thực phẩm.
Năm 2007, một xã trung bình chỉ có 0,73 lượt đoàn đi thanh tra, kiểm
tra về Vệ sinh an toàn thực phẩm. Hiện nay, lực lượng và số lần thanh tra y tế
quá mỏng khiến những người kinh doanh thực phẩm dễ dàng tìm cách đối phó.
Theo phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng, một trong những
nguyên nhân khiến tình trạng mất Vệ sinh an toàn thực phẩm xảy ra nhiều
trong thời gian qua là do việc xử lý các vụ việc vi phạm còn nhẹ, chưa kiên
quyết và quá qua loa, khiến nhiều người kinh doanh thực phẩm “lờn thuốc”.
Trên thực tế trong năm 2007 số cơ sở vi phạm chiếm hơn 14% số cơ sở được
thanh tra. Tuy nhiên 61% số cơ sở vi phạm được hưởng “án treo” (cảnh báo),
25,9% số cơ sở bị phạt hành chính với tổng số tiền phạt là 2,33 tỉ đồng, mức
độ tiêu hủy sảm phẩm chỉ chiếm 8,67% và mức độ đóng cửa cơ sở vi phạm
cong khiêm tốn hơn, chỉ 0,44%.
Trên đây là những nguyên nhân tiêu biểu nhất gây nên việc mất vệ sinh
an toàn thực phẩm. Vệ sinh an toàn thực phẩm không được đảm bảo sẽ gây ra
rất nhiều hậu quả khó có thể lường trước được và biến chứng của việc sử
dụng các loại thực phẩm không đảm bảo an toàn là rất lớn. Vì vậy chúng ta
cần có những biện pháp cụ thể và hành động thiết thực để bảo vệ sức khỏe
tránh khỏi những hậu quả của việc mất an toàn vệ sinh trong thực phẩm.
2.5. Các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Sau đây là các biện pháp bảo đảm Vệ sinh an toàn thực phẩm
* Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi cung ứng:
- Khâu sản xuất ban đầu
+ Đảm bảo an toàn trong chăn nuôi:

Thực hiện đầy đủ chế độ vận chuyển (phương tiện, thời gian, chế độ
bảo quản khi vận chuyển).
Đảm bảo đủ điều kiện Vệ sinh an toàn thực phẩm các cơ sở phân phối
và tiêu dùng (siêu thị, chợ, cửa hàng bán buôn, bán lẻ, các kho hàng).
- Giai đoạn tiêu dùng
Đảm bảo đủ diều kiện Vệ sinh an toàn thực phẩm của các nhà ăn, bếp
ăn tập thể, các cửa hàng ăn, quán ăn uống đường phố, bếp ăn gia đình.
Phải đảm bảo sản phẩm thực phẩm còn hạn sử dụng, không hư hỏng,
biến chất, không ô nhiễm, đủ chất lượng Vệ sinh an toàn thực phẩm.
Mỗi người tiêu dùng phải là “người tiêu dùng thông thái”.
Biết cách chọn mua thực phẩm an toàn.
Biết cách chế biến thực phẩm an toàn.
Biết cách sử dụng thực phẩm an toàn.
Là một “tuyên truyền viên” và “thanh tra viên” về vệ sinh an toàn
thực phẩm.

Trích đoạn Hiện trạng sử dụng thực phẩm trong sinh viên trường Đại học Nông Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thá xuất giải pháp nâng cao nhận thức cho sinh viên trường Đại học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status