1
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Từ sau đổi mới năm 1986, đất nước ta đi vào phát triển nền kinh
tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, từng bước hội nhập kinh tế
thế giới với nhiều động thái khác nhau, cụ thể là việc gia nhập các tổ chức
quốc tế, đặc biệt là sự kiện nước ta trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
thương mại thế giới (WTO). Điều đó đưa đến cho đất nước những cơ hội và
thách thức mới, đòi hỏi chúng ta phải nhạy bén trong việc nắm bắt và tiếp thu
các tri thức tiên tiến, các thành tựu khoa học công nghệ từ các nước phát triển.
Để thực hiện được điều đó, trước tiên chúng ta phải có được đội ngũ trí thức,
đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề. Tuy nhiên, một thực tế hiện nay là nền
giáo dục của chúng ta đang gặp phải rất nhiều khó khăn, bất cập chưa tìm ra
hướng giải quyết. Một trong những vấn đề mà ngành giáo dục hiện nay quan
tâm là tình hình đào tạo Đại học – Cao đẳng và thực trạng thừa thầy thiếu thợ.
Có thể nói, nguyên nhân chính của vấn đề này xuất phát từ việc chọn trường,
chọn ngành thi vào Đại học – Cao đẳng của học sinh THPT.
Các bạn học sinh hiện nay hầu như không được tư vấn và định hướng
đúng trong việc chọn trường,chọn ngành. Theo một số nghiên cứu trước đây
và qua sự phản ánh của các phương tiện truyền thông đại chúng thì học sinh
phổ thông chủ yếu chọn trường dựa vào các tiêu chí như: ngành đó đang
“hot” trên thị trường lao động, kiếm được nhiều tiền, nhàn nhã… mà ít quan
tâm đến năng lực và trình độ thực tế của bản thân. Một số khác lại chọn
trường theo sự quyết định của người thân hoặc xu hướng chung của bạn bè
tìm đến các trường có danh tiếng. Hoặc có học sinh chỉ chọn trường dựa vào
cảm tính mà bản thân không có sự tìm hiểu và nắm bắt những thông tin cần
thiết về trường thi tuyển… Để rồi đưa đến một số tình trạng như chán nản
trong việc học, bỏ học giữa chừng, ra trường không có việc làm hoặc làm trái
nghề, không đam mê nghề nghiệp…
-Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin tư vấn và hướng nghiệp cho
học sinh, sinh viên trong các bậc học
3
1.3.Mục đích của đề tài
Tìm hiểu, xác định các yếu tố ảnh hưởng tới việc chọn ngành của sinh
viên Nông Lâm từ đó hướng tới và tác động những nhóm yếu tố ảnh hưởng
lớn nhất nhằm tư vấn và định hướng cho HSSV chọn đúng ngành , đúng nghề
1.4.Ý nghĩa của đề tài
- Đối với sinh viên: Góp phần cho HSSV nhận thức đúng việc chọn
ngành cho tương lai của chính mình.Tìm ra các giải pháp các định hướng phù
hợp cho mối sinh viên khi họ bước vào giảng đường
- Đối với thực tế: Góp một phần công sức nhỏ bé cho lĩnh vực nghiên
cứu giáo dục.Biết được tình hình chung của sinh viên hiện nay từ đó định
hướng và nâng cao kiến thức và sự hiểu biết về các ngàng nghề đào tạo của
các trường đáp ứng được tốc độ phát triển của giáo dục trên thế giới.
1.5.Yêu cầu nghiên cứu
- Trong quá trình nghiên cứu phải đảm bảo chọn mẫu một cách khách
quan.
- Người điều tra phải giữ vị trí trung lập.
- Các số liệu phải được thu thập và sử lý một cách chính xác.
1.6.Câu hỏi nghiên cứu
- Các yếu tố ảnh hưởng tới việc chọn ngành của sinh viên Nông Lâm
là gì?
- Tại sao phải xác định các yếu tố đó?
- Giải pháp nào để nâng cao sự hiểu biết của HSSV hiểu đúng ngành
nghề mà mình chọn?
1.7.Giả thuyết nghiên cứu
duy của ta, nó là kẻ đưa đường dẫn lối ta sẽ làm ngành chuyên môn gì, giao
thiệp với tầng lớp nào, đời sống của ta có cơ may được hạnh phúc và đầy đủ
hay không, thậm chí trong một số trường hợp nó quyết giùm ta cả chuyện thứ
nhất nói trên. Thiết nghĩ điều đó ai cũng biết, kể cả các bạn trẻ chưa tròn đôi
mươi.
Quyết định đó quá quan trọng nên tại Việt Nam, nhiều bậc cha mẹ làm
giùm luôn cho con cái ! Ta vẫn thường nghe các vị phụ huynh khả kính nói
5
tôi sẽ "cho" con học ngành này ngành kia. Còn các bạn trẻ, nếu được ai hỏi,
thích học tập những gì, thích làm ngành nghề gì trong tương lai, phần lớn họ
rất lúng túng. Họ không biết chính xác mình muốn cái gì, dù trong một thời
đại được gọi là "thế kỷ của thông tin" như ngày hôm nay. Lý do chính của sự
"chủ động" của cha mẹ cũng như của sự lúng túng của bạn trẻ là ở chỗ, tất cả
mọi người đều nghĩ tới học ngành gì để về sau có việc làm, có nghề nghiệp
với mức thu nhập cao. Đó là tiêu chí thật ra rất chính đáng, quan trọng bậc
nhất mà con người ở Việt Nam hay ở phương Tây đều đặt ra như nhau.
Thế nhưng dù nó là tiêu chí chủ yếu nhất, nó chỉ là một trong nhiều tiêu
chí khác. Thanh niên nam nữ phương Tây, dù vừa xong phổ thông, khác với
bạn trẻ Việt Nam ở một điểm quan trọng: phần lớn họ biết mình muốn học
ngành gì, có ước vọng gì trong nghề nghiệp, biết mình yêu thích loại chuyên
môn nào. Dĩ nhiên trong đó có nhiều ước vọng đầy cảm tính và non nớt,
không phải họ muốn gì cũng được thực hiện cả.
Thế nhưng cha mẹ và các nhà giáo dục đều biết, khi bạn trẻ học đúng
ngành nghề mình yêu thích thì họ có say mê trong học tập, phát huy khả năng
sớm, thành tựu ngành học một cách xuất sắc. Đó chính là điều kiện tiên quyết
để có một việc làm xứng đáng, có thu nhập cao. Và với một công việc đúng
ngành nghề mình say mê thì có lẽ cuộc đời là một chuỗi những niềm vui.
luận của chính mình mới đưa mình đi xa nhất.
Không phải dễ dàng phát hiện ra "thiên hướng" của mình. Thế nhưng nó chỉ
trả lời khi có ai hỏi đến nó. Có khi nó đến rất chậm, lúc tất cả đều đã trễ. Có
khi nó không bao giờ lên tiếng.
Tìm hiểu khả năng và thiên hướng của mình không phải là câu kết luận
giản đơn của một thời điểm nhất định, mà là một quá trình ngày càng tinh tế.
Song song, việc học và nghề nghiệp cũng không phải là chuyện của một ngày,
một buổi mà là một cuộc hành trình với càng ngày càng nhiều cơ hội và khả
năng.
Cuối cùng, nghệ thuật sống của bạn trong quá trình học tập và thực hành
nghề nghiệp là theo đuổi được ý thích và say mê của mình một cách tối đa
nhưng phải phù hợp với điều kiện khách quan và cụ thể của đời mình. Có khi
7
bạn thực hiện được nhiều, có khi ít hơn, nhưng đã cố tâm và tỉnh giác thì bạn
sẽ không đánh mất cơ may.
2.1.2. Vài nét về tình hình chung của trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên
Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc Đại học Thái Nguyên được
thành lập ngày 19 tháng 9 năm 1970, theo quyết định số 98/TTD của thủ
tướng chính phủ, trên cơ sở trường Trung học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp
Việt Bắc, khi đó có tên là trường Đại học Kỹ thuật Miền núi. Theo Quyết
định số 56/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25 tháng 2 năm 1971, trường
đã đổi tên là Trường Đại học Nông Lâm Miền núi. Ngày 31 tháng 3 năm
1972, Phủ Thủ tướng đã có văn bản số 750 VP/15 về việc đổi tên Trường Đại
học Nông Lâm Miền núi thành Trường Đại học Nông nghiệp III. Từ ngày 04
tháng 4 năm 1994 Đại học Thái Nguyên được thành lập theo Nghị định số
31/CP của Chính phủ và Trường Đại học Nông nghiệp III trở thành một
học tiên tiến trên thế giới như các trường ở Đức, Canada, Mỹ, Thái Lan, Hàn
Quốc, Úc, Hà Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Philippin vvv… nhằm tạo điều
kiện cho các cán bộ và sinh viên của trường tiếp cập với nền khoa học và
công nghệ tiên tiến trên thế giới để nâng cao trình độ, trao đổi tài liệu và
phương pháp giảng dạy, tăng cường trang thiết bị phục vụ đào tạo và nghiên
cứu.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình, Nhà trường
luôn coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ cả về số lượng và
chất lượng, qui hoạch lâu dài và cân đối hợp lý cơ cấu cán bộ giữa hai khối
giảng dạy và phục vụ giảng dạy. Ngoài số lượng cán bộ giảng dạy thỉnh giảng
ngoài trường, nhà trường có có 450 cán bộ làm công tác giảng dạy và phục vụ
giảng dạy. Trong số 300 cán bộ giảng chuyên môn, trong đó có 17 giáo sư và
phó giáo sư, 67 tiến sỹ và 129 thạc sỹ. Đa phần các cán bộ giảng dạy đã được
bồi dưỡng chuyên môn ở nước ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày
càng cao của xã hội và quá trình hội và quá trình hội nhập quốc tế.
Để đáp ứng yêu cầu công nghiệp và hiện đại hoá nền nông nghiệp nước
nhà, Trường đã xây dựng một chiến lược phát triển toàn diện với định hướng
9
huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm đổi mới cơ bản nội
dung và phương pháp giảng dạy, phát triển đội ngũ cán bộ đảm bảo số lượng,
chất lượng và cân đối giữa các ngành nghề để thực hiện thành công các
chương trình đào tạo và chuyển gíao công nghệ khoa học mũi nhọn như: công
nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch và chế biến nông sản, công nghệ môi
trường, bảo tồn tài nguyên vv…
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là một tập thể đoàn kết nhất
trí, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và
Nhà nước giao cho. Đảng bộ nhà trường nhiều năm liền được Tỉnh uỷ Thái
Định hướng nghề nghiệp không thể chờ khi con người lớn lên mà phải được
bắt đầu ngay từ lúc bé trong gia đình, trong sự hình thành nhân cách của
thanh thiếu niên.
Vai trò quan trọng của gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp
cho con đã được thể hiện khá rõ nét qua đề tài này. Với kết cấu gồm 4 phần,
tác giả đã bắt đầu đi từ giải thích một số khái niệm quan trọng, trình bày lối
tiếp cận riêng của mình. Trên cơ sở những số liệu thu thập được, tác giả tiến
hành xử lý, phân tích bằng phần mềm SPSS 11.5 và phần mềm Microsoft
Excel từ đó kết luận về nhận thức, thái độ và những việc làm cụ thể của gia
đình trong việc định hướng về nghề nghiệp cho con. Mặt khác, những kết quả
này còn giúp tác giả so sánh sự tác động của các yếu tố chính như: trình độ
học vấn, nghề nghiệp của cha mẹ, điều kiện kinh tế của gia đình đến việc định
hướng nghề nghiệp cho con cái.
Để nâng cao vai trò của gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp cho
con cái ta cần phải :
- Cần phải có sự thống nhất nhận thức làm cho các gai đình đều thấy
rõ tầm quan trọng trong định hướng nghề nghiệp cho con cái;
- Trang bị những tri thức khoa học về nội dung định hướng nghề
nghiệp cho con;
- Cần khuyến khích các gai đình đa dạng hóa các hình thức định hướng
nghề nghiệp cho con;
- Nhà nước cần có những chính sách cụ thể để đảm bảo tính pháp lý
thống nhất trong toàn xã hội.
11
2.2.2. Đào tạo theo nhu cầu xã hội.
Trước hết, các đại học phải đào tạo đúng các ngành nghề mà xã hội có
nhu cầu và không đào tạo thừa, vì như thế là gây lãng phí. Nhưng đâu là
vậy, HSSV cần “bình tâm” suy nghĩ cho chính mình, đừng để quan điểm của
nhóm bạn chi phối sự chọn lựa của mình.
2.2.5.Chọn ngành nghề theo các yếu tố khác
Ngoài các yếu tố trên HSSV còn bị tác động bởi các yếu tố khác như:- Chọn
nghề may rủi theo kiểu chọn đại.
- Chọn nghề theo “mác”, theo “nhãn”, theo phong trào.
- Chọn nghề nổi tiếng, dễ kiếm tiền mà không biết nghề đó có phù hợp
với mình không.
- Chọn nghề theo những điều kiện có liên quan như: điều kiện kinh tế, cá
nhân hoặc gia đình.
- Nhờ những người dùng phương pháp thần bí lựa nghề giúp bạn như các
nhà chiêm tinh, thầy bói (xem chỉ tay, chữ viết, coi tướng...).
2.3. Tư vấn, hướng nghiệp
2.3.1.Khái niệm
Hướng nghiệp – là khái niệm chung của một trong những lĩnh vực văn
hóa xã hội, thực hiện dưới hình thức quan tâm của xã hội và tạo nghề cho thế
hệ đang lớn lên, hỗ trợ và phát triển những thiên hướng và thực hiện đồng bộ
các biện pháp chuyên môn tác động đến con người trong việc tự xác định
nghề nghiệp và chọn lựa hình thức tối ưu để có việc làm, có tính đến nhu cầu
và năng lực của con người, kết hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội trong thị
trường lao động. Do tình hình các nghề và việc làm hiện nay thường xuyên
thay đổi cho nên hoạt động hướng nghiệp không còn giới hạn ở trường phổ
thông mà cần thiết mở rộng cho các tầng lớp dân cư khác nhau.
2.3.2. Các phương pháp tư vấn hướng nghiệp :
- Tư vấn thông tin hướng dẫn nhằm giới thiệu với thanh thiếu niên
nội dung nghề mà mình định chọn.
13
2.3.3.1 Hướng nghiệp là hướng đối tượng được hướng nghiệp theo một
nghề nhất định
Thực chất, hướng nghiệp không chỉ là đơn thuần là định hướng nghề
nghiệp, là chỉ dẫn cho mỗi cá nhân đi theo một nghề nghiệp định trước và
theo đuổi nghề nghiệp đó suốt cuộc đời. Hướng nghiệp phải được hiểu là tạo
điều kiện để cá nhân đó khám phá và phát huy những năng lực của bản thân
để đóng góp tốt nhất cho xã hội trong khả năng có thể trong quá trình lao
động của mình.
Hướng nghiệp tốt sẽ tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được thử sức
mình và khám phá năng lực bản thân ở những lĩnh vực khác nhau
mà cá nhân đó có tiềm năng đóng góp tốt dựa trên những yếu tố như
sở thích, cá tính, khả năng kết hợp với những kỹ năng, nền tảng học vấn được
đào tạo ở trường học và trong quá trình lao động.
Những sai lầm trong việc hiểu về hướng nghiệp đã khiến không ít
những trẻ em bị bỏ qua năng khiếu và không phát triển được khả năng của
mình một cách tốt nhất, không ít em hầu như không có tiếng nói trong quyết
định ngành nghề theo học hoặc công việc mà mình sẽ làm. Điều này về lâu
dài dễ dẫn đến sự nhàm chán, bất mãn trong công việc và hạn chế khả năng
sáng tạo, khám phá bản thân và hạn chế sự đóng góp cho xã hội.
2.3.3.2 Thông tin hướng nghiệp là cung cấp thông tin về trường và ngành
nghề đào tạo
Những thông tin về trường nào dạy ngành gì, thi khối nào, hay chọn trung
tâm đào tạo, dạy nghề nào về thực chất chỉ mới là những thông tin bề nổi.
Thông tin hướng nghiệp cần phải hiểu ở một phạm vi rộng hơn đó là thông
tin về các ngành nghề, các nghề nghiệp gồm cả những nghề nghiệp mới xuất
hiện, thông tin thị trường lao động (nhu cầu tuyển dụng trên thị trường, mức
lương, phân bố lao động ở các vùng miền), thông tin cung cấp và hướng dẫn
hoàn thiện kỹ năng quản lý công việc và sự nghiệp của mình trong một thế
Sự phù hợp nghề là tập hợp những đặc điểm tâm sinh lý bảo đảm cho con
người đạt kết quả cao trong lao động nghề nghiệp.
16
Như vậy, vấn đề đặt ra là muốn có hiệu quả lao động nghề nghiệp cao
thì phải tuyển chọn được những người có sự phù hợp nghề ở mức độ cần thiết
vào học hay làm việc ở nghề tương ứng.
Tuyển chọn nghề là xác định xem ở các đối tượng dự tuyển có sự phù
hợp với một nghề cụ thể hay không để có quyết định tuyển hay không
tuyển vào học hay làm việc. Tuyển chọn nghề đi từ nghề / nhóm nghề đến
con người vào học hay làm việc. Trong khi đó như chúng ta đã biết, tư vấn
nghề lại xuất phát từ con người, đi từ con người đến nghề, xem xét đối chiếu
những đặc điểm tâm sinh lý cá nhân với yêu cầu của các nghề để khuyên con
người, chủ yếu là thanh thiếu niên đến với những nghề mà họ có thể đáp ứng,
phù hợp được.
Từ lâu, các nhà kinh tế, các chủ xí nghiệp, công ty đã rất quan tâm, chú ý đến
vấn đề tuyển chọn do thấy rõ lợi ích mà nó đem lại. Ở Mỹ, từ đầu thế kỷ 19
người ta đã rất chú trọng nghiên cứu nguyên nhân của sự khác biệt về năng
suất lao động của các cá nhân trong tập thể lao động sản xuất. Chẳng hạn, X.
Tompson, một nhà tổ chức lao động khoa học người Mỹ đã nghiên cứu tại
một phân xưởng vòng bi và đã phát hiện ra mức độ nhạy cảm của con người
đối với các vật nhỏ là nguyên nhân chủ yếu và trước hết của sự khác nhau về
năng suất lao động giữa các công nhân. Ông đã đề xuất cách xác định hệ số
nhạy cảm này để dựa vào đó người ta tuyển chọn được những người có các
đặc điểm tâm, sinh lý phù hợp. kết quả là chất lượng sản phẩm tăng 60-70%,
ngày công rút ngắn được 2 giờ và lương công nhân tăng 80%.
Tuyển chọn nghề giúp cho việc ngăn ngừa hay giảm bớt tai nạn lao động, đặc
biệt là trong ngành giao thông vận tải. Biện pháp thiết thực nhất, có hiệu
Tại Hội thảo khoa học “Nhận thức và thái độ của HSSV về định hướng
tương lai” được tổ chức tại Hà Nội vừa qua, các đại biểu đã nêu ra rất nhiều
bất cập giữa nội dung, phương pháp, tổ chức giáo dục so với mục tiêu đào
tạo; giữa mục tiêu đào tạo trước mắt với mục đích giáo dục lâu dài (định
hướng tương lai)… Cũng có rất nhiều lỗ hổng trong chất lượng và hiệu quả
đào tạo, như tính nhân bản, tính hướng nghiệp…
Thực trạng tình hình giáo dục cho thấy những điều đáng lo lắng về
sự bất cập trong chương trình, nội dung cũng như phương pháp dạy và học
18
vừa trì trệ, vừa hẫng hụt vừa lệch hướng… Một trong những lệch hướng và
bất cập nghiêm trọng nhất là đã biến việc dạy và học trong nhà trường thành
“lò thi đấu” giữa các sĩ tử chạy theo khoa bảng và đuổi theo bằng cấp. Đến
nỗi thầy giáo chỉ biết “dạy chữ” mà không quan tâm giáo dục hướng nghiệp;
học trò chỉ biết luyện thi mà không có chí lập nghiệp và lập thân. Và nhất là,
vì không được quan tâm rèn giũa các kỹ năng mềm (giao tiếp, ứng xử, tự
học, hợp tác, dấn thân, chuyên tâm…), nên khi vào đời lập nghiệp họ chỉ biết
ngơ ngác như gà công nghiệp!
Vấn đề được đặt ra và thu hút được nhiều ý kiến đóng tích cực trong
Hội thảo với chủ đề: Giải pháp nào cho việc hỗ trợ HSSV khi họ muốn định
hướng tương lai?
Có rất nhiều giải pháp được nêu ra. Trong đó có một giải pháp xuyên suốt, đó
là TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP. Bước đầu của tư vấn hướng nghiệp là giúp
họ giải tỏa được những băn khoăn trong nhận thức và thái độ khi chọn nghề,
lập nghiệp và định hướng tương lai.
Nhiều học sinh đã đến gặp nhà tư vấn để hỏi rằng, có một thực tế rất đời,
rất thật, khá phổ biến, khiến nhiều HSSV (ngay cả những người học giỏi
nhất) cũng phải băn khoăn:
biến bảo quản nông sản thực phẩm… vì đến nay mới tuyển được khoảng 50%
chỉ tiêu. Tương tự, tại ĐH Đồng Tháp, hiện các ngành như Nuôi trồng thủy
sản, Sư phạm Kỹ thuật nông nghiệp đang thiếu chỉ tiêu trầm trọng. Cụ thể,
ngành nuôi trồng thủy sản phải xét tuyển NV3 nhưng hiện nay chỉ khoảng 30
sinh viên. Còn ngành Kỹ phạm kỹ thuật nông nghiệp hầu như không có nguồn
tuyển, hiện mới có 25 sinh viên.
Theo Bộ GD - ĐT, mỗi năm Việt Nam cần khoảng 1.300 - 1500 người có
trình độ ĐH trở lên, 4.000 - 5.000 người có trình độ cao đẳng và Trung cấp
chuyên nghiệp(TCCN) và 6.500 - 7.000 công nhân kỹ thuật các chuyên ngành
nông - lâm - thủy sản.
Tuy nhiên, đến nay mới có hơn 14.000 sinh viên trong 1.603.484 sinh
viên đang theo học các ngành nghề liên qua trực tiếp đến chế biến nông - lâm
- thuỷ sản, chiếm tỷ lệ 4.82%. Đối với TCCN, tỷ lệ học sinh trong lĩnh vực
20
này chỉ chiếm 4%. Trong khi đó, tỷ lệ lao động có việc làm trong lĩnh vực
nông - lâm - thuỷ sản chiếm đến trên 50% và tỷ lệ dân số sống trong vùng
nông thôn của Việt Nam hiện là 72.56%.
Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Bành Tiến Long, nước ta có
mạng lưới các trường đào tạo chuyên về lĩnh vực nông nghiệp tương đối lớn,
trải dài từ Bắc vào Nam như Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Đại học Nông
-Lâm (Đại học Thái Nguyên), Đại học Nông -Lâm Huế, Đại học Nông -Lâm
TP. Hồ Chí Minh... Đó là chưa kể hệ thống các viện nghiên cứu khoa học với
các ngành nghề đào tạo phong phú, đa dạng. Số lượng các trường phục vụ cho
việc đào tạo nguồn nhân lực ngành nông nghiệp rất lớn nhưng thí sinh lại
không hào hứng với ngành này. Có rất nhiều nguyên nhân khiến sinh viên
không quan tâm như ngành học không hấp dẫn, việc làm cũng như thu nhập
không cao, việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực chưa được quan tâm đúng
việc làm lớn nhất. Các bạn thí sinh trước khi lựa chọn ngành học nên cân
nhắc, tính toán thật kỹ vấn đề này.
2.5.Việc chọn ngành,chọn nghề của sinh viên nước ngoài
Theo tài liệu thống kê của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ, gần 70% sinh viên
không biết chắc mình sẽ học ngành gì khi mới bước chân vào đại học. Điều
này cũng dễ hiểu vì hầu hết các trường đại học ở Mỹ không bắt buộc sinh
viên phải chọn “major” (ngành học chính) cho tới cuối năm học thứ hai
(ngoại trừ những trường 2 năm). Thêm vào đó, rất nhiều sinh viên ở Mỹ đổi
ngành học ít là một lần trong những năm học ở đại học. Do đó, nếu bạn chưa
biết chắc chắn sẽ học ngành gì khi mới vào đại học cứ bình tĩnh, đừng quá lo
lắng (don’t panic) .
22
PHẦN BA: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG,VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
-Các sinh viên trường Đại học Nông Lâm từ khoá 38 đến khoá 41
3.1.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Tại trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: Từ 20/10/2009 đến 15/11/2009
3.2.Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào tên đề tài, mục tiêu nghiên cứu nhóm chúng tôi đưa ra nội
dung nghiên cứu gồm :
- Nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đên việc chọn ngành của sinh
viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đó đến việc
chọn nghành của sinh viên hiện nay từ đó tác động tới các nhóm đối tượng có
mức độ ành hưỏng lớn nhất
gian
hiện
-Điều tra Nông
NC
Từ
hiện
ngẫu
Thị
25/10
Xác
-Xác địn
định các
h các yếu
cứu
yếu
tố ảnh
hưởng
đến việc
tố ảnh
chính tới
ngẫu
đến việc
chọn
hưởng
việc chọn
nhiên hỏi có
Ngọc
chọn
ngành
đên
ngành của
ngành
Học Nông
câu
Chức,
Học
của
Lâm Thái
hỏi
Lê Văn
Nông
sinh
Nguyên.
đã
Thườn
Lâm
các
Lâm
Đại Học
yếu
Thái
Nông Lâm
tố
Nguyê
Thái
ảnh
n.
Nguyên
hưởn
lâm
- Nghiên
ảnh
g đại
hưởng
học
đó đến
Nông
việc
lâm
qua bảng n Thị
sẵn.
24
chọn
Thái
nghành
Nguy
cứu
nhóm
từ phiếu đi
đối
ều tra thu
tượng
được
có mức
trong
độ ành
lần đi thực
hưỏng
tế.
lớn
-Thực
Excel lập
viên Đ
biểu đồ so
ại học
sánh kết
Nông
quả sau
Lâm.
khi sư lý,
25
thảo luận
kết quả
nghiên
cứu sau
khi sử lý
và đánh
giá các
yếu tố ành
-Tư vấn , - Nhu cầu tư -Chỉ tiêu :
đến
hướng
hướng
biết các
thứ c
Yên,
18/11
nghiệp
nghề
ngành nghề
ấp
Lê Văn
cho học
nghiệp
đào tạo của
cáo,
Toàn,
việc
nghành ngành.
và tài
Ngô
chọn
nghề
-Chỉ tiêu :
liệu
Quang
ngành,ch
đào
Sự hiệu quả
thứ c
Nông
động
nghề,
n cứu
Lâm
hướng
hướng
nghiệp
nghiệp, các
nhiện
phương tiện
-Thảo luận