những yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn ngành của sinh viên UEL - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ-LUẬT
BÁO CÁO THỐNG KÊ
ĐỀ TÀI: Những yếu tố ảnh hƣởng đến việc chọn ngành của sinh viên
khoa kinh tế-trƣờng đại học Kinh Tế-Luật Giảng viên hƣớng dẫn : Th.S Nguyễn Đình Uông
Sinh viên thực hiện : NHÓM 10
Lớp : K11401
KHÓA : 11 Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25 tháng 2 năm 2013
I. CƠ SỞ LÍ THUYẾT ............................................................................................................. 8
1. Yếu tố về cá nhân có ảnh hƣởng đến quyết định của học sinh. ........................................ 8
2. Yếu tố về đặc điểm của trƣờng đại học. .............................................................................. 9
3. Yếu tố về bản thân cá nhân học sinh. .................................................................................. 9
4. Yếu tố về cơ hội học tập cao hơn trong tƣơng lai ............................................................. 10
5. Yếu tố cơ hội việc làm trong tƣơng lai. ............................................................................. 10
6. Yếu tố đặc trƣng giới tính của học sinh. ........................................................................... 10
7. Lí thuyết chọn nghề của John Holland ............................................................................. 10
II. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ...................................................................... 13
1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới. ........................................................................... 13
2. Các nghiên cứu ở Việt Nam ............................................................................................... 15
CHƢƠNG II: KHÁI QUÁT VỀ ĐỀ TÀI .................................................................................. 19
1. Mục tiêu của đề tài .............................................................................................................. 19
2. Bảng câu hỏi khảo sát ......................................................................................................... 19
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 19
a. Tổng thể nghiên cứu: .......................................................................................................... 19
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................................... 20
5. Ý nghĩa của đề tài. ............................................................................................................... 21
CHƢƠNG III PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT ............................................................... 22
I. Đánh giá của sinh viên về tính đúng đắn của quyết định chọn ngành của sinh viên. ... 22
1. Lí do sinh viên muốn đổi ngành. ........................................................................................ 23
2. Nguyên nhân sinh viên chọn ngành không phù hợp ........................................................ 24
II. Những yếu tố ảnh hƣởng đến việc chọn ngành của sinh viên ..................................... 25
1. Thời gian bắt đầu chọn ngành ảnh hƣởng đến quyết định chọn lựa ngành học của sinh
viên. .............................................................................................................................................. 26
2. Ảnh hƣởng của ngành thi chính đến quyết định đổi ngành. ........................................... 26
3. Ảnh hƣởng của việc tìm kiếm thông tin từ website của trƣờng đến quyết định chọn
ngành của sinh viên. .................................................................................................................... 27
4. ảnh hƣởng của sở thích của sinh viên đến quyết định chọn ngành. ............................... 28
Giảng Viên Hƣớng Dẫn: Nguyễn Đình Uông

trí thức, đội ngũ kỹ sƣ, công nhân lành nghề. Tuy nhiên, một thực tế hiện nay là nền
giáo dục của chúng ta đang gặp phải rất nhiều khó khăn, bất cập chƣa tìm ra hƣớng
giải quyết. Một trong những vấn đề mà ngành giáo dục hiện nay quan tâm là tình hình
đào tạo Đại học – Cao đẳng và thực trạng thừa thầy thiếu thợ. Có thể nói, nguyên nhân
chính của vấn đề này xuất phát từ việc chọn trƣờng, chọn ngành thi vào Đại học – Cao
đẳng của học sinh THPT.
Theo thống kê gần đây mỗi năm có khoảng 1,1 triệu học sinh dự thi tốt nghiệp
THPT ở Việt Nam nhƣng hệ thống các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp chỉ có thể tiếp nhận khoảng 20%-30% số học sinh tốt nghiệp THPT. Tình hình
này dẫn đến áp lực hết sức nặng nề cho các học sinh trong các kỳ thi tuyển sinh đại
học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hàng năm, số thí sinh mỗi năm mỗi tăng
cao. Bên cạnh đó, theo thống kê của Bộ Giáo dục và đào tạo tháng 8 năm 2006, có
khoảng 37% sinh viên tốt nghiệp nhƣng không tìm đƣợc việc làm. Kết quả khảo sát
của đề tài trọng điểm cấp Bộ do ĐH Sƣ Phạm TP HCM cho thấy việc học tập không
định hƣớng dẫn đến hơn 50% sinh viên tốt nghiệp phải đƣợc đào tạo lại khi đƣợc
tuyển dụng. Việc định hƣớng nhƣ thế nào cho các công dân trẻ tuổi này nhận thấy sự
quan trọng của công việc mình đã chọn, tƣơng lai của họ sẽ nhƣ thế nào với sự lựa
chọn đó cũng nhƣ tạo ra một lòng nhiệt tâm trong công việc là một trong những vấn
đề đã và đang tồn tại. Những câu hỏi lớn đƣợc đặt ra là học sinh đã chọn ngành nghề
cho mình nhƣ thế nào? Họ dựa vào đâu để chọn trƣờng đại học cho mình?
Giảng Viên Hƣớng Dẫn: Nguyễn Đình Uông

NHÓM 10 Page 6

Riêng về sinh viên khoa kinh tế trƣờng đại học kinh tế luật những năm gần đây
đã có những biểu hiện sa sút về học tập và nghiên cứu, nhiều ý nghĩ bi quan về tƣơng
lai của ngành, cơ hội việc làm sau khi ra trƣờng. Nguyên nhân có phải do việc tƣ vấn
tuyển sinh chƣa tới nơi tới chốn hay do sự yếu kém của chính sinh viên?
Để trả lời các câu hỏi này, chúng tôi xin thực hiện đề tài: “Những yếu tố ảnh
hƣởng đến việc chọn ngành của sinh viên khoa kinh tế-trƣờng đại học Kinh Tế-

thả, năm ba cố gắng, năm tƣ chuẩn bị ra trƣờng thì các bạn chỉ mới ở giai đoạn I mà
thôi vội gì. “Thả phanh” ung dung suốt học kỳ để rồi đến kỳ thi lại lao đầu vào học,
thức khuya dậy sớm chạy mãi mà vẫn không đuổi kịp khối kiến thức mà cả học kỳ
không thèm để mắt tới. Cứ chọn đại một “tủ” may mắn thì trúng, còn không thì... học
lại.... Những bạn này thƣờng đến lớp thi bằng khuôn mặt mệt mỏi và đƣơng nhiên kết
quả đạt đƣợc chỉ có... trời mới biết. May mắn thì qua, coi nhƣ thoát hiểm, còn không
lại lục đục mƣợn vở bạn bè ôn luyện, lại thi, qua đƣợc lần hai có thể thở phào, hú vía,
còn nếu không, chuyện nhỏ, học lại với các em cũng vui. Kết quả là các cô cậu sinh
viên đƣợc “tốt nghiệp sớm” hoặc “tốt nghiệp trễ” hay tốt nghiệp đúng lúc nhƣng
không biết gì? " Đây cũng là hiện trạng “học để lấy bằng cấp chứ không phải để lấy
kiến thức” - tấm bằng cử nhân của chúng ta lúc này có giá trị bằng một tờ giấy chứng
nhận “năng lực ảo" là công lao của những đêm thức trắng ôm tập “tụng” một cách vội
vã gấp gáp để rồi quên ngay sau khi kỳ thi vừa kết thúc.
Làm thêm, dạy kèm, bán hàng , tiếp thị dẫn đến lơ là học tập, hoặc không theo
nổi chƣơng trình học ĐH là những lý do sinh viên bị buộc thôi học. Tuy nhiên đó
không phải là lý do chính, vì có những sinh viên vừa học vừa làm thêm nhƣng kết quả
học tập vẫn đạt điểm cao. Sinh viên không chịu tìm tòi sách, tài liệu phục vụ cho
chuyên môn của mình.
Đặc thù của khoa kinh tế là nghiên cứu, không có nhiều sinh viên quan tâm.
Hơn nữa khó có thể tìm hiểu đúng về ngành ngay từ ban đầu, điểm đầu vào thấp nhất
biến khoa kinh tế trở thành phao cứu sinh cho những bạn rớt ngành chính. Tỉ lệ sinh
viên chọn đại, chọn sai ngành vì thế mà rất cao. Mà nhƣ vậy sẽ gây ra những hậu quả
sau này rất nghiêm trọng sẽ trình bày trong phần sau.
Chúng tôi tin rằng nghiên cứu này sẽ giải quyết đƣợc những vấn đề xảy ra
trong công tác học tập của sinh viên khoa kinh tế, từ công tác tuyển sinh đến dạy học
và hỗ trợ sau khi ra trƣờng. chúng tôi mong muốn khoa kinh tế sẽ ngày càng phát triển
hơn . Giảng Viên Hƣớng Dẫn: Nguyễn Đình Uông

trƣờng đại học của học sinh đã đƣợc tổng quan ở trên sẽ là cơ sở hình thành mô
hình nghiên cứu của đề tài này.
1. Yếu tố về cá nhân có ảnh hƣởng đến quyết định của học sinh.
Theo D.W.Chapman, trong việc lựa chọn trƣờng đại học, các học sinh bị
tác động mạnh mẽ bởi sự thuyết phục, khuyên nhủ của bạn bè và gia đình của
Giảng Viên Hƣớng Dẫn: Nguyễn Đình Uông

NHÓM 10 Page 9

chính họ. Sự ảnh hƣởng của các cá nhân này đến các học sinh có thể đƣợc thực
hiện theo 3 cách sau: (1) Ý kiến của họ ảnh hƣởng đến mong đợi về một trƣờng
đại học cụ thể nào đó là nhƣ thế nào. (2) Họ cũng có thể khuyên trực tiếp về
nơi mà học sinh nên tham dự thi. (3) Trong trƣờng hợp là bạn thân, thì chính
nơi mà bạn thân dự thi cũng ảnh hƣởng đến quyết định chọn trƣờng của học
sinh.
Theo Hossler và Gallagher một lần nữa khẳng định ngoài sự ảnh hƣởng
mạnh mẽ của bố mẹ, sự ảnh hƣởng của bạn bè cũng là một trong những ảnh
hƣởng mạnh đến quyết định chọn trƣờng của học sinh. Bên cạnh đó, Hossler
và Gallagher còn cho rằng ngoài bố mẹ, anh chị và bạn bè, các cá nhân tại
trƣờng học cũng có ảnh hƣởng không nhỏ đến quyết định chọn trƣờng của học
sinh. Xét trong điều kiện giáo dục của Việt Nam, cá nhân có ảnh hƣởng lớn đến
quyết định chọn trƣờng của học sinh chính là thầy cô của các học sinh. Do vậy,
gia đình, bố mẹ, anh chị, bạn thân và các thầy cô phổ thông chính là những
nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định của học sinh.
2. Yếu tố về đặc điểm của trƣờng đại học.
Trong nghiên cứu của mình, D.W.Chapman cho rằng các yếu tố cố định
của trƣờng đại học nhƣ học phí, vị trí địa lý, chính sách hỗ trợ về chi phí hay
môi trƣờng ký túc xá sẽ có ảnh hƣởng đến quyết định chọn trƣờng của học
sinh.
M.J. Burns và các cộng sự đã bổ sung thêm một số các yếu tố về đặc

bị ảnh hƣởng không nhỏ của đặc trƣng về giới tính của học sinh. Ruth E. Kallio cho
rằng giới tính khác nhau sẽ có mức độ tác động gián tiếp khác nhau lên quyết định
lựa chọn trƣờng đại học của học sinh.
7. Lí thuyết chọn nghề của John Holland
Sau đây chúng tôi xin phép đƣợc giới thiệu sơ lƣợc lí thuyết lựạ chọn nghề
nghiệp của tiến sĩ tâm lí học của Holland. Lí thuyết này nghiên cứu về những ngành
nghề, hoạt động giải trí phù hợp với tính cách và kĩ năng của từng ngƣời. Holland đƣa
ra vài trắc nghiệm để đánh giá cá nhân thuộc về nhóm tính cách nào và đƣa ra lời
khuyên về ngành nghề phù hợp. Lí thuyết này có thể làm cơ sở giúp sinh viên chọn
nghề tốt hơn.

Giảng Viên Hƣớng Dẫn: Nguyễn Đình Uông

NHÓM 10 Page 11 NHÓM MÃ TÍNH
CÁCH KỸ
NĂNG
NGHỀ
NGHIỆP
HOẠT
ĐỘNG
NGHỀ
NGHIỆP
HOẠT
ĐỘNG
GIẢI TRÍ
Kỹ thuật
(Realistic)

móc, thiết
bị, thao tác
vận động,
xây dựng,
sửa chửa,
cắm trại, lái
xe, làm việc
ngoài trời.
Nghiên cứu
(Investigative)
I Độc lập,
sâu sắc,
ham hiểu
biết. Khả
năng định
hƣớng, khả
năng tự
học, tự tổ
chức
nghiên cứu,
khả năng
phân tích,
viết, toán
học.
Nghiên cứu
khoa học,
toán học,
vật lí học, tự
nhiên, y
khoa.

truyền
thong, nghệ
thuật biểu
diễn, nghệ
thuật hình
ảnh vào tạo
hình, nghệ
thuật ẩm
thực.
Soạn nhạc,
biểu diễn,
sáng tác,
nghệ thuật
tạo hình.
Thích tự thể
hiện, thu
thập các tác
phẩm nghệ
thuật, tham
dự có buổi
biểu diễn,
tham quan
bảo tang,
chơi nhạc
cụ, quan
tâm đến
truyền
thống, văn
hóa.
Giảng Viên Hƣớng Dẫn: Nguyễn Đình Uông

tạo và chăm
sóc, giúp
đỡ, hỗ trợ.
Thích làm
việc với con
ngƣời, tham
gia các hoạt
động tình
nguyện, đọc
sách, hoàn
thiện bản
thân.
Mạnh bạo
(Enterprising)
E Quyết
đoán, tự tin,
năng động,
thích giao
lƣu, ƣa mạo
hiểm, cạnh
tranh, địa
vị, có khả
năng gây
ảnh hƣởng,
thuyết phục
và chỉ đạo
ngƣời khác.
Quản lí,
kinh doanh
Marketing

toán, tài
chính, đầu
tƣ, công
chức nhà
nƣớc, phát
triển phần
mềm
Thiết lập
các thủ tục,
hệ thống, tổ
chức, lƣu
trữ nhiều dữ
liệu, sử
dụng các
phần mềm
ứng dụng.
Có hứng
thú trong
lĩnh vực tổ
chức, quản
lí dữ liệu,
kế toán đầu
tƣ, hệ thống
thong tin,
tham gia
các hoạt
động tình
nguyện
Bảng tóm tắt 6 tính cách môi trƣờng làm việc nhƣ sau:
Nguồn tham khảo:

ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp đó là một số những nghề nghiệp mà cá nhân
có thể chọn để có đƣợc kết quả làm việc cao nhất. Lý thuyết này của J.L Holland đã
đƣợc sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hƣớng nghiệp trên thế giới.
Trên cơ sở các luận điểm về hƣớng nghiệp của C.Mác và V.I Lênin các nhà
giáo dục Liên xô nhƣ B.F Kapêep; X.Ia Batƣsep; X.A Sapôrinxki; V.A Pôliacôp
trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra mối quan hệ giữa
hƣớng nghiệp và các hoạt động sản xuất xã hội, và nếu sớm thực hiện giáo dục
hƣớng nghiệp cho thế hệ trẻ thì đó sẽ là cơ sở để họ chọn nghề đúng đắn, có sự phù
hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội. Đồng thời các tác giả này
cũng đã trình bày những nguyên tắc, phƣơng pháp thực hành lao động nghề nghiệp
cho HS phổ thông tại các cơ sở học tập - lao động liên trƣờng. Mei Tang, Wei Pan và
Mark D.Newmeyer đã áp dụng mô hình lý thuyết phát triển xã hội nghề nghiệp
Giảng Viên Hƣớng Dẫn: Nguyễn Đình Uông

NHÓM 10 Page 14

(SCCT, Lent, Brown và Hackett, 1994) để khảo sát các yếu tác động đến xu hƣớng
lựa chọn nghề nghiệp của học sinh trung học.
Những phát hiện của nghiên cứu này chứng minh tầm quan trọng của các yếu
tố: kinh nghiệm học tập, tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, lợi ích, và kết quả mong
đợi trong quá trình phát triển nghề nghiệp của học sinh trung học. Mối quan hệ của
các yếu tố này là động, vì vậy, để can thiệp thành công cần phải xem xét mối quan hệ
phức tạp giữa các yếu tố và kết hợp một loạt các biện pháp can thiệp ở mức độ đa hệ
thống. Các nhà tƣ vấn nên góp phần vào sự phát triển và thực hiện một chƣơng trình
phát triển nghề nghiệp toàn diện giúp học sinh phát triển năng lực nghề nghiệp thông
qua hoạt động học tập thiết thực. Nghiên cứu của Bromley H. Kniveton, trên cơ sở
khảo sát 384 thanh thiếu niên (trong đó có 174 nam và 174 nữ) từ 14 đến 18 tuổi đã
đã đƣa ra kết luận: Cả nhà trƣờng và gia đình đều có thể cung cấp những thông tin và
hƣớng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hƣởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của thanh
niên. Giáo viên có thể xác định những năng khiếu và khả năng qua đó khuyến khích

yếu tố ảnh hƣởng đến quyết định chọn trƣờng của học sinh . Theo Cabera và La Nasa
(đƣợc trích bởi M.J.Burns), ngoài mong đợi về học tập trong tƣơng lai thì mong đợi
về công việc trong tƣơng lai cũng là một trong những yếu tố ảnh hƣởng đến quyết
định chọn trƣờng của học sinh. S.G.Washburn và các cộng sự còn cho rằng sự sẵn
sàng của bản thân cho công việc và cơ hội kiếm đƣợc việc làm sau khi tốt nghiệp
cũng là những yếu tố ảnh hƣởng đến quyết định chọn trƣờng của học sinh.
D.W.Chapman, trong việc chọn trƣờng, các học sinh bị tác động mạnh mẽ
bởi sự thuyết phục, khuyên nhủ của bạn bè và gia đình. Bên cạnh đó, Hossler và
Gallagher (đƣợc trích bởi Quí và Thi) còn cho rằng các cá nhân tại trƣờng học
cũng có ảnh hƣởng không nhỏ đến quyết định chọn trƣờng của học sinh.

2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam giáo dục hƣớng nghiệp tuy đƣợc xếp ngang tầm quan trọng với
các mặt giáo dục khác nhƣ đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhƣng bản thân nó lại rất
non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất thiếu về lực lƣợng, không
mang tính chuyên nghiệp... Vì vậy, việc thực hiện không mang lại nhiều hiệu quả.
Vấn đề hƣớng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và đƣợc xã hội quan tâm khi nền kinh tế
đất nƣớc bƣớc sang cơ chế thị trƣờng với sự đa dạng của các ngành nghề và nhu cầu
rất lớn về chất lƣợng nguồn nhân lực. Đảng và Nhà nƣớc ta cũng rất quan tâm công
tác hƣớng nghiệp, điều này đƣợc thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết, văn kiện, các
nguyên lý giáo dục của Đảng và nhà nƣớc. Có thể lấy ví dụ nhƣ nghị định 126/CP
ngày 19/03/1981 của Chính phủ về công tác hƣớng nghiệp trong trƣờng phổ thông và
Giảng Viên Hƣớng Dẫn: Nguyễn Đình Uông

NHÓM 10 Page 16

việc sử dụng hợp lý HS các cấp PTCS và THPT tốt nghiệp ra trƣờng. Trong văn kiện
Đại hội Đảng lần thứ IX đã ghi rõ “Coi trọng công tác hƣớng nghiệp và phân luồng
HS trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù
hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nƣớc và từng địa phƣơng”. Luật Giáo


của mình tác giả đã đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hƣớng nghiệp
cho HS Việt Nam”. Tác giả đã xây dựng đƣợc luận chứng cho hệ thống giáo dục
hƣớng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Gần đây (2006),
ông cũng đã cho xuất bản cuốn sách: “Hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp và giảng dạy
kĩ thuật trong trƣờng THPT”, cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống về cơ sở lí
luận của giáo dục hƣớng nghiệp, vấn đề tổ chức giáo dục hƣớng nghiệp trong trƣờng
THPT và giảng dạy kĩ thuật ở nhà trƣờng THPT trong điều kiện kinh tế thị trƣờng và
sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc hiện nay. Trong thời gian gần đây nhằm hiện thực
hoá những phƣơng hƣớng, mục tiêu mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra về
giáo dục hƣớng nghiệp và phân luồng HS phổ thông. Đã có rất nhiều những nghiên
cứu về hƣớng nghiệp ở nhiều cách tiếp cận khác nhau tạo nên một giai đoạn mới với
sự đa dạng trong nghiên cứu khoa học hƣớng nghiệp ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của Khoa Tâm lý – Đại học sƣ phạm Hà Nội [13] đã rút ra
kết luận: (1) Các hình thức hƣớng nghiệp trong nhà trƣờng phổ thông hiện tại chƣa
thực sự phong phú và đƣợc tổ chức thƣờng xuyên. Nhiều hình thức hấp dẫn, có sức
thuyết phục tốt nhƣ tham quan thực tế các cơ sở sản xuất địa phƣơng, nghe các nghệ
nhân nói chuyện về nghề ... ít đƣợc thực hiện. (2) Nhu cầu tìm hiểu nghề là nhu cầu
chính đáng của học sinh, nhƣng khi tìm hiểu về nghề thì các em gặp phải rất nhiều
khó khăn nhƣ nhà trƣờng ít tổ chức hƣớng nghiệp, các nội dung hƣớng nghiệp thực
hiện không đồng bộ...(3) Do tác động của nhà trƣờng trong việc hƣớng nghiệp chƣa
cao nên các thông tin về nghề mà học sinh thu nhận đƣợc khi chọn nghề phần lớn từ
các kênh ngoài nhà trƣờng, ngoài giáo viên nhƣ từ cha mẹ ngƣời thân, từ những
ngƣời đang làm trong nghề đó hay từ các sách báo hoặc phƣơng tiện thông tin đại
chúng khác.
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn – ĐHQG TP.HCM do PGS.TS Nguyễn Văn Tài chủ trì [12], qua khảo sát hệ
thống thứ bậc động cơ chọn ngành học tại ĐHQG TP.HCM đã kết luận: Yêu thích
nghề nghiệp và có đƣợc nghề phù hợp với năng lực là lựa chọn chính của sinh viên
khi vào học tại các trƣờng thuộc ĐHQG TP.HCM, ngƣợc lại các yếu tố nhƣ: điểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status