ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ MINH HẠNH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG
CỦA VIỆC SỬ DỤNG THỨC ĂN ĐỊA PHƯƠNG
ĐẾN SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GÀ LAI F1
(TRỐNG ÁC X MÁI H’MÔNG)
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60 62 01 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thuý Mỵ
Thái Nguyên, 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ của Ts. Nguyễn Thị Thuý
Mỵ, Viện Khoa học sự sống, cơ sở chăn nuôi, bạn bè đồng nghiệp về các số
liệu và kết quả nghiên cứu. Các số liệu và kết quả trong luận văn này là trung
thực, mọi trích dẫn chính xác và đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Các số liệu và kết quả này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 201
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Hạnh
ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Thuý
Mỵ - Phó trưởng khoa Chăn nuôi thú y, Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Cô
đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này. Đồng thời tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các
thầy cô, cán bộ kĩ thuật tại phòng phân tích, Viện Khoa học sự sống, gia đình
1.4 Vài nét về giống gà H’Mông và giống gà Ác 24
1.4.1 Giống gà H’Mông 24
1.4.2 Giống gà Ác 25
1.4.3. Gà lai F1 của gà Ác và gà H’Mông 25
Chương 2:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 27
iv
2.1.3. Thời gian nghiên cứu 27
2.2. Nội dung nghiên cứu 27
2.3. Phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 27
2.3.2. Thức ăn cho gà thí nghiệm 28
2.3.2.1. Kết quả phân tích nguyên liệu địa phương 28
2.3.2. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 31
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu 35
Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 36
3.2 Khả năng sinh trưởng của gà thí nghiệm 38
3.2.1. Sinh trưởng tích lũy 38
3.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 41
3.2.3.Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 44
3.3. Khả năng thu nhận và chuyển hóa thức ăn của gà thí nghiệm 47
3.3.1 Khả năng thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm 47
3.3.2. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng 48
3.3.3. Tiêu tốn protein và năng lượng cho 1 kg tăng khối lượng 50
3.4. Khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà thí nghiệm 53
3.4.1 Năng suất thịt 53
3.5. Hiệu quả kinh tế của mô hình 60
: Tiêu chuẩn Việt Nam
TTTĂ
: Tiêu tốn thức ăn
VPQTN
: Viêm phế quản truyền nhiễm
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thực trạng sản xuất, chăn nuôi tại huyện Phú Lương 6
Bảng 2.1: Kết quả phân tích nguyên liệu 29
Bảng 2.2: Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn cho gà thí nghiệm 30
Bảng 2.3:Lịch dùng vac-xin cho gà thí nghiệm 31
Bảng 3.1: Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm (n = 3 đàn) 36
Bảng 3.2: Khối lượng cơ thể gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (n = 3 đàn) 39
Bảng 3.3: Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (n = 3 đàn) 42
Bảng 3.4: Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (n =3 đàn) 45
Bảng 3.5: Khả năng thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm 47
Bảng 3.6 Tiêu tốn thức ăn cộng dồn/1kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm49
Bảng 3.7: Tiêu tốn protein cho tăng khối lượng của gà thí nghiệm 51
Bảng 3.8: Tiêu tốn năng lượng cho tăng khối lượng của gà thí nghiệm 52
Bảng 3.9: Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm 85 ngày tuổi 60
Bảng 3.10 Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm (PI) 61
Bảng 3.11. Chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm 61
Bảng 3.12 Sơ bộ hạch toán kinh tế cho 1kg gà hơi (đồng) 62
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 41
Hình 3.2: Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 43
Hình 3.3: Sinh trưởng tương đối 46
1
MỞ ĐẦU
vườn nói riêng nhằm tận dụng được nguyên liệu sẵn có, giảm chi phí sản xuất,
tăng thu nhập cho người chăn nuôi, kích thích sản xuất nông nghiệp, tạo công
ăn việc làm, thu nhập cho người nông dân chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thức ăn địa phương đến sức
sản xuất thịt của gà lai F1 (trống Ác x mái H’Mông)”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của thức ăn địa phương đến khả năng sản xuất của
gà lai F1 (♂Ác x ♀H’Mông).
- Cung cấp thông tin kỹ thuật giúp người chăn nuôi lựa chọn phương
thức nuôi phù hợp để phát triển sản xuất.
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế, từ đó làm cơ sở để nhân rộng mô hình,
đưa vào phát triển sản xuất tại địa phương.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên và huyện Phú
Lương
1.1.1. Tình hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên
1.1.1.1. Vị trí địa lí – điều kiện tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du, nằm trong vùng trung
du và miền núi Bắc bộ, phía bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với
các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc
Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội.
Tổng diện tích đất là 3.562,82 km², trong đó đất đã sử dụng là 246.513
ha (chiếm 69,22 % diện tích đất tự nhiên) và đất chưa sử dụng là 109.669 ha
(chiếm 30,78 % diện tích tự nhiên). Trong đất chưa sử dụng có 1.714 ha đất
có khả năng sản xuất nông nghiệp và 41.250 ha đất có khả năng sản xuất lâm
nghiệp (www.thainguyen.gov.vn, 2010)[ 30].
1.1.1.2. Tình hình sản xuất nông nghiệp
- Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng năm 2013 là 90.517 ha. Tổng sản
mạnh phát triển đậu tương, nhất là tận dụng trên đất 2 vụ lúa. Cần đẩy mạnh
việc áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, đưa giống mới vào thâm canh
tăng vụ, nâng cao năng suất cây trồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tại chỗ
của nhân dân và cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thức
ăn gia súc, chế biến thực phẩm trong giai đoạn tới. Dự kiến đến năm 2020 là
4.800 ha; năm 2030 là 7.500 ha.
5
+ Lạc: Diện tích 4.284 ha, sản lượng 6.684 tấn. Tăng diện tích lạc hè thu, lạc
đông, trong đó vụ lạc đông chủ yếu mở rộng trên đất 2 lúa được tưới tiêu chủ động.
Dự kiến diện tích lạc đến năm 2020 là 7.000 ha; năm 2030 là 9.000 ha.
+ Khoai lang: Diện tích 6.252 ha, sản lượng 39.568 tấn;
+ Sắn: Diện tích 3.7841 ha, sản lượng 55.752 tấn;
- Chăn nuôi
+ Tổng đàn trâu, bò là 104.943 con, trong đó: Trâu 70.578 con; bò
34.765 con.
+ Tổng đàn lợn là 544.822 con.
+ Sản lượng thịt hơi xuất chuồng các loại đạt: 82.322 tấn trong đó: Trâu
3.133 tấn, bò 2.027 tấn, lợn 63.342 tấn, gia cầm 13.820 tấn (UBND tỉnh Thái
Nguyên, 2011) [40].
1.1.2. Tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Phú Lương
1.1.2.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của huyện Phú Lương
- Vị trí địa lý:
Phú Lương là huyện miền núi thấp nằm ở phía Bắc tỉnh Thái Nguyên.
Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Thái Nguyên khoảng 22 km theo quốc lộ 3,
với vị trí địa lý: phía Bắc giáp tỉnh Bắc Cạn; phía Nam giáp Thành phố Thái
Nguyên; phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ và phía Tây giáp huyện Đại Từ.
Huyện có tổng diện tích tự nhiên 36.894,65 ha với 16 đơn vị hành chính,
bao gồm thị trấn Đu, thị trấn Giang Tiên và 14 xã. Thị trấn Đu là trung tâm
huyện lỵ.
Nằm kề với Thành phố Thái Nguyên (trung tâm kinh tế, chính trị, văn
Đất nông nghiệp
ha
30.503,30
3
Đất sản xuất nông nghiệp
ha
12.450,05
4
Đất lâm nghiệp
ha
17.223,86
5
Đất nuôi trồng thủy sản
ha
829,39
6
Đất trồng lúa
ha
4.077,09
7
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi
ha
49,52
8
Diện tích gieo trồng lúa
Tấn
6.904
35.981
9
Diện tích trồng ngô
Diện tích gieo trồng lúa cả năm 2013 là 6.904 ha, sản lượng là 35.981
tấn, Diện tích đất lúa là đồng bãi chăn thả vịt, tận dụng lượng lúa rơi vãi sau
khi thu hoạch, đem lại thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi thủy cầm; đồng
thời, với sản lượng lúa gần 36 nghìn tấn qua xay xát có thể thu được cám là
nguyên liệu để chế biến thức ăn gia súc hoặc sử dụng trực tiếp cho chăn nuôi
(lợn, gà) làm giảm được giá thành sản phẩm chăn nuôi. Mặt khác, đồng ruộng
trồng lúa cũng cung cấp nguồn rơm sử dụng làm thức ăn thô cho trâu bò; song
hiện tại lượng rơm sử dụng làm thức ăn thô cho trâu bò còn ít so chủ yếu sử
dụng rơm vụ Mùa, còn phần lớn người nông dân để lại rơm tại đồng ruộng.
Khi Phú Lương phát triển mạnh đàn trâu, đàn bò, cần khuyến cáo nông dân
nên tận dụng rơm phơi khô dự trữ và ủ urê để làm thức ăn, đây là nguồn cung
cấp thức ăn thô rất quan trọng trong mùa đông.
Ngoài ra, hàng năm có trên 1.000 ha ngô, gần 90 ha đậu tương,… có
thể sử dụng phụ phẩm như thân cây ngô, rơm rạ, … làm thức ăn xanh cho
chăn nuôi trâu bò. Đặc biệt, hiện nay ở nhiều hộ nông dân đã tận dụng
trồng cỏ xen trong vườn cây lâu năm để giải quyết một phần thức ăn thô
xanh cho đàn trâu, bò.
Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các trang trại và gia trại chăn nuôi nói
chung và gia cầm nói riêng vẫn sử dụng thức ăn chăn nuôi hỗn hợp dạng
viên bán sẵn, chỉ có một số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ sử dụng nguyên liệu địa
phương vào chăn nuôi.
8
1.1.2.3. Thực trạng chăn nuôi gia cầm của huyện Phú Lương
* Diễn biến đàn gia cầm, sản lượng thịt:
Tổng đàn gia cầm có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, bình quân tăng
12,21%/năm giai đoạn 2005 - 2013. Về sản lượng thịt tăng trưởng cao hơn so
với quy mô tăng tổng đàn trong cùng thời kỳ. Đó là nhờ việc tăng cường đầu
tư thâm canh chăn nuôi gia cầm, chăn nuôi trang trại tập trung quy mô lớn.
Tổng đàn gia cầm của huyện năm 2005 là 253 nghìn con, đến 1/10/2013
là 867,04 nghìn con, giai đoạn 2005 - 2013 đạt tốc độ tăng trưởng
nhiều người đó là “Thức ăn là những sản phẩm của thực vật , động vật,
khoáng vật và các chất tổng hợp khác, mà động vật có thể ăn, tiêu hóa, hấp
thu để duy trì sự sống, phát triển và tạo ra sản phẩm” (Lê Đức Ngoan,
2005)[20].
Dựa trên nguồn gốc, thức ăn chăn nuôi được phận loại như sau:
- Thức ăn xanh
- Thức ăn thô khô
- Thức ăn ủ xanh
- Thức ăn giàu năng lượng
- Thức ăn giàu protein
- Thức ăn bổ sung khoáng
- Thức ăn bổ sung vitamin
- Thức ăn bổ sung phi dinh dưỡng (chất tạo màu, mùi, chất chống
oxy hóa, chất chống mốc, thuốc phòng bệnh, kháng sinh, chất kích thích
sinh trưởng.
10
Mỗi loại thức ăn chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu dinh dưỡng của
vật nuôi. Do đó khi sử dụng cần phối hợp nhiều loại thức ăn có nguồn gốc
khác nhau để đảm bảo khẩu phần cân bằng và đầy đủ dinh dưỡng.
1.2.1 Thức ăn hỗn hợp
Thức ăn hỗn hợp (TĂHH) là loại thức ăn được phối hợp từ nhiều loại
nguyên liệu thức ăn khác nhau đã qua chế biến nhằm đạt được tối ưu về dinh
dưỡng, giá thành, khẩu vị và tiêu hóa hấp thu của vật nuôi (Từ Quang Hiển,
2012)[4].
Mỗi loại thức ăn hỗn hợp đã được phối hợp từ nhiều loại nguyên liệu
khác nhau, bao gốm các nguyên liệu giàu năng lượng (bột ngô, cám mỳ, cám
gạo, dầu đậu tương), các nguyên liệu giàu protein (khô dầu đậu tương, bột
cá), các nguyên liệu bổ sung axit amin, khoáng, vitamin, enzym, chính nhờ có
sự phối hợp từ nhiều loại nguyên liệu này mà thức ăn hỗn hợp có đầy đủ các
chất dinh dưỡng theo yêu cẩu của vật nuôi và giá thành thấp.
Lợn được ăn thức ăn hỗn hợp dạng viên tăng trọng cao hơn 4 – 7%,
giảm tiêu tốn thức ăn 5 – 8%, còn gà thì tăng trọng cao hơn 2 – 6%, giảm tiêu
tốn thức ăn 8 – 10% so với được ăn thức ăn hỗn hợp dạng bột. Nguyên nhân
chính là vật nuôi ăn thức ăn hỗn hợp dạng bột mất nhiều thời gian và phải vận
động nhiều hơn. Thời gian ăn của gà đối với thức ăn bột gấp 2,8 lần so với
thức ăn viên, còn thời gian ăn thức ăn bột của lợn gấp 2 lần so với ăn thức ăn
viên. Trong suốt thời gian ăn, vật nuôi phải vận động để lấy thức ăn, vì vậy,
tiêu hao năng lượng cho việc thu nhận thức năn bột sẽ nhiều hơn so với thức
ăn viên (Từ Quang Hiển, 2012)[4].
12
- Thức ăn dạng bột có tính bụi cao, gây bệnh đường thở cho vật nuôi,
thức ăn viên đã khắc phục được nhược điểm này.
- Khi vật nuôi ăn, thường có một tỷ lệ thức ăn bị rơi vãi, hoặc bị dính
vào máng ăn làm cho gia súc không lợi dụng được hết. Tỷ lệ này đối với thức
ăn dạng bột vào khoảng 8 – 15%, còn đối với thức ăn viên khoảng 3 – 6%.
- Thức ăn hỗn hợp dạng viên có khả năng hút ẩm kém hơn so với dạng
bột, điều đó cũng có nghĩa là khả năng xâm nhập của nấm mốc, sâu, mọt, vi
khuẩn vào nó kém hơn so với thức ăn bột.
- Thức ăn dạng viên được xử lý nhiệt bằng hơi nước nóng trước khi đóng
viên nên một số vi khuẩn gây bệnh đã bị tiêu diệt, một số chất kháng dinh
dưỡng, độc tố bị phá hủy.
- Đối với các trang trại thực hiện việc phân phối thức ăn cho vật nuôi bằng
cơ giới hóa, tự động hóa thì thức ăn dạng viên dễ thực hiện hơn thức ăn bột.
Thức ăn dạng viên được nén chặt nên nó có dung tích nhỏ hơn thức ăn
bột khi cả hai có cùng một khối lượng. Điều này dẫn đến nó tiết kiệm được
dung tích khi vận chuyển và kho chứa.
- Do được nén chặt, nên thức ăn viên có năng lượng và hàm lượng các chất
dinh dưỡng lớn hơn thức ăn bột khi cả hai có cùng dung tích. Điều đó có nghĩa là
với cùng một dung tích thức ăn thu nhận được thì vật nuôi sẽ thu nhận được nhiều
năng lượng và các chất dinh dưỡng hơn khi nó ăn thức ăn viên.
đoạn. Tùy theo thời gian kết thúc vỗ béo để giết thịt mà thời gian sử dụng
thức ăn ở các giai đoạn khác nhau: (1) Thức ăn khởi động; (2) Thức ăn sinh
trưởng; (3) Thức ăn vỗ béo (kết thúc).
14
Với các nước có nền chăn nuôi gia cầm phát triển, thức ăn cho gà
Broiler còn được sản xuất cho nuôi tách trống, mái, cho gà Broiler xuất
bán ở khối lượng khác nhau và cho gà Broiler nuôi trong điều kiện nhiệt
độ cao ở mùa hè.
Thức ăn giai đoạn khởi động yêu cầu có hàm lượng protein cao (22 –
25%) và các chất dinh dưỡng khác (axit amin, khoáng, vitamin ) cũng cao.
Đó là vì khả năng thu nhận thức ăn của gà con ở giai đoạn này rất thấp (7 –
10g/con/ngày) nên thức ăn phải có nồng độ dinh dưỡng cao thì mới đáp ứng
nhu cầu dinh dưỡng của gà. Để thức ăn đạt được tỷ lệ protein, axit amin cao
thì cần phải phối hợp vào thức ăn hỗn hợp các nguyên liệu thức ăn giàu
protein chất lượng cao như bột đậu tương, bột cá > 55% protein, khô dầu đậu
tương tách vỏ. Không nên phối hợp vào thức ăn hỗn hợp bột các loại củ vì
chúng nghèo protein, và cũng không nên phối hợp các loại cám vì hàm lượng
xơ trong chúng cao.
Thức ăn giai đoạn sinh trưởng yêu cầu có nồng độ năng lượng protein và
các chất dinh dưỡng khác cao ở mức độ vừa phải. Vì ở giai đoạn này, khả
năng thu nhận thức ăn của gà đã nhiều hơn (10 – 30g/con/ngày). Có thể phối
hợp các nguyên liệu thức ăn như bột cá có chất lượng cao trung bình (>45%
protein), khô dầu đậu tương không tách vỏ và phối hợp với các loại củ, cám
với tỷ lệ thấp vào thức ăn hỗn hợp.
Thức ăn giai đoạn kết thúc yêu cầu có nồng độ năng lượng cao, nhưng
protein và các chất dinh dưỡng khác lại thấp hơn hai giai đoạn trước. Điều
này đòi hỏi phải phối hợp vào thức ăn hỗn hợp các nguyên liệu giàu năng
lượng (bột hạt hòa thảo, bột các loại củ, dầu thực vật ), có thể phối hợp các
nguyên liệu giàu protein chất lượng trung bình như bột cá 40 – 50% protein,
khô dầu các loại và có thể phối hợp cám, bột lá thực vật vào thức ăn hỗn hợp.
còn giá trị dinh dưỡng tương tự nhau.
Tuy nhiên, hiện nay tại Anh việc sử dụng ngô vàng và đỏ không được
ưa chuộng trong khẩu phần vỗ béo gia súc vì lý do làm mỡ có màu vàng, vì
vậy đối tượng gia súc này thường sử dụng chủ yếu là ngô trắng.
Ngô chứa nhiều vitamin E nhưng ít vitamin D và vitamin nhóm B. Ngô
chứa ít canxi, nhiều photpho nhưng chủ yếu dưới dạng kém hấp thu là
phytate.
Giống như các loại thức ăn hạt cốc khác, ngô là loại thức ăn có tỷ lệ
tiêu hóa năng lượng cao, giá trị protein thấp và thiếu cân đối axit amin. Ngô
chứa 730 g tinh bột/kg vật chất khô. Protein thô từ 8 - 13% (tính theo vật chất
khô). Lipit của ngô từ 3 - 6%, chủ yếu là các axit béo chưa no, nhưng là
nguồn phong phú axit linoleic. Protein của ngô tồn tại dưới 2 dạng chính: zein
và glutelin. Zein nằm trong nội nhũ chiếm tỷ lệ cao nhưng thiếu các axit amin
thiết yếu như tryptophan và lysine. Glutelin chiếm tỷ lệ thấp hơn zein, nó
cũng nằm trong nội nhủ. Gần đây người ta tạo được một số giống ngô giàu
axit amin hơn so với các giống ngô bình thường, song vẫn nghèo methionine.
Vì vậy, khi dùng ngô Oparque-2 cho lợn và gia cầm, cần bổ sung thêm
methionine. Một giống ngô mới nữa là Floury-2 có hàm lượng lysine và cả
methionine cao hơn ngô Oparque-2. Dùng loại ngô này không phải bổ sung
thêm methionine.
Ngô là loại thức ăn chủ yếu dùng cho gia súc và gia cầm, và là loại thức
ăn rất giàu năng lượng, 1 kg ngô hạt có 3200 - 3300 kcal ME. Người ta dùng
ngô để sản xuất bột và glucoz cho người. Nhiều sản phẩm của ngô rất thích
hợp cho động vật, trong đó quan trọng là mầm ngô, cám và gluten. Khi 3 loại
này hỗn hợp lại tạo thành sản phẩm có tên là bột gluten - ngô, chứa xấp xỉ
24% protein thô, 3 - 5% xơ thô. Hỗn hợp này thích hợp cho tất cả các loại gia
17
súc và gia cầm, đực biệt là bò sữa, tuy vậy cũng vẫn cần bổ sung thêm axit
amin công nghiệp.
Ngô còn có tính chất ngon miệng với lợn. Lysine và tryptophan là hai