Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án nâng cấp cải tạo tuyến đường ĐT258 qua xã Khang Ninh - huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƯƠNG TRUNG SƠN Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG
MẶT BẰNG DỰ ÁN NÂNG CẤP CẢI TẠO TUYẾN ĐƯỜNG
ĐT258 QUA XÃ KHANG NINH - HUYỆN BA BỂ
- TỈNH BẮC KẠN”

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khoa : Quản lý tài nguyên
Khoá học : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Nguyễn Thị Yến
Khoa quản lý tài nguyên – Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên thực hiện Dương Trung Sơn MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1. Đặt vấn đề 1

1.2. Mục đích 2

1.3. Yêu cầu 2

1.4. Ý nghĩa của đề tài 3

Phần 2:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1. Khái niệm GPMB, Cơ sở lý luận của công tác bồi thường GPMB 4

2.1.1. Khái niệm GPMB, hỗ trợ, tái định cư 4

2.1.2. Một số tiêu chuẩn về bồi thường và tái định cư 5

2.2. Cơ sở pháp lý của công tác giải phóng mặt bằng 6

3.3.4. Một số nhận xét về kết quả đạt được, những khó khăn, tồn tại và
kinh nghiệm chỉ đạo trong công tác GPMB 32

3.4. Phương pháp nghiên cứu 32

Phần 4:

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình quản lý, sử dụng đất và
ảnh hưởng của nó đến công tác GPMB 33

4.1.1. Điều kiện tự nhiên 33
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 36 4.1.3. Tình hình quản lý, sử dụng đất và ảnh hưởng của nó đến công tác
GPMB 37
4.1.4. Nhận xét về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình quản lý
và sử dụng đất đai 40
4.2. Đánh giá kết quả công tác bồi thường GPMB của dự án nâng cấp cải
tạo tuyến đường ĐT258 qua xã Khang Ninh- huyện Ba Bể - tỉnh Bắc
Kạn 42
4.2.1. Tổng quan về khu vực giải phóng mặt bằng 42

4.2.2. Đánh giá đền bù về đất phi nông nghiệp 44

4.2.3. Đánh giá đền bù về đất nông nghiệp 45

4.2.4. Kết quả thực hiện đền bù vật kiến trúc và nhà cửa 46
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Ký hiệu Giải thích
1 BT, GPMB Bồi thường, Giải phóng mặt bằng
2 BT, HT và TĐC Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
3 GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
4 GPMB Giải phóng mặt bằng
5 TN & MT Tài nguyên và Môi trường
6 HĐND, UBND Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
7 XD Xây dựng
8 TT-BTC Thông tư – Bộ tài chính
9 NĐ-CP Nghị định – Chính phủ
10 UBND-KTTH Ủy ban nhân dân – Kinh tế tổng hợp
11 QĐ-UBND Quyết định - Ủy ban nhân dân
12 TTLB Thông tư liên bộ
12 TTg Thủ tướng
13 HĐ-KT Hợp đồng kinh tế
14 (ĐT258)
Xây dựng, nâng cấp, cải tạo đường giao
thông nông thôn đến các xã miền núi đặc
biệt khó khăn tỉnh Bắc Kạn
1
Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới Đảng và Nhà nước ta
đã xác định đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
của đất nước. Trong đó quá trình thu hút vốn đầu tư từ nhiều nguồn phục vụ
cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế xã hội là điều kiện tiên quyết
giúp nước ta có đủ mạnh để có thể tham gia vào thị trường rộng lớn này.
Ngày nay các dự án đầu tư vào đất ngày càng nhiều, cùng với quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là tốc độ đô thị hoá ngày càng mạnh
mẽ trên cả nước. Với tốc độ phát triển kinh tế như thế, làm cho nhu cầu về
thuế đất, chuyển mục đích sử dụng đất ngày càng lớn. Để cho các dự án đầu
tư vào các công trình phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế có tính khả thi, đúng tiến
độ thì công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) đóng một vai trò hết sức quan
trọng. Vì nó là điều kiện ban đầu để triển khai nhanh, đúng tiến độ nhưng
ngược lại nó cũng có thể trở thành rào cản và luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ
khiếu kiện, mất ổn định an ninh vì khi thực hiện công tác này ảnh hưởng trực
tiếp đến quyền lợi của tổ chức, các cá nhân và hộ gia đình.
Với dân số ngày càng tăng, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu sử
dụng đất ngày càng lớn. Thực tế qua nhiều dự án cho thấy công tác GPMB
vẫn còn nhiều bất cập, nhiều khó khăn. Mặc dù Nhà nước đã ban hành rất
nhiều các văn bản pháp quy phục vụ cho công tác này như nghị định số
197/NĐ-CP về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất, thông tư số 116/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghị định trên.
Nghị định số 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất, thông tư số

2

những kinh nghiệm đã làm.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Bổ sung những kiến
thức đã học trên lớp, học hỏi, tiếp nhận những kiến thức, kinh nghiệm ngoài
thực tế và hiểu rõ hơn về công tác quản lý nhà nước về đất đai, cụ thể là công
tác bồi thường hỗ trợ, tái định cư.
- Ý nghĩa trong thực tiễn: Đưa ra những giải pháp có tính khả thi, rút ra
những bài học kinh nghiệm cho công tác bồi thường GPMB, để thực hiện
công tác bồi thường GPMB tốt hơn. 4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Khái niệm GPMB, cơ sở lý luận của công tác bồi thường GPMB
2.1.1. Khái niệm GPMB, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Thực chất của việc GPMB là chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển
mục đích sử dụng đất dưới sự điều tiết của Nhà nước.
- Bồi thường: Là đền bù những tổn hại đã gây ra. Đền bù là trả lại tương
xứng với giá trị và công lao.
Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đối với diện tích đất bị nhà nước thu hồi.
- Hỗ trợ: Là khi thu hồi đất thì Nhà nước có kế hoạch trợ giúp người có
đất bị thu hồi thông qua đào tạo nghề, hỗ trợ việc làm, cấp kinh phí để di dời
đến nơi ở mới, giúp người bị thu hồi đất ổn định đời sống và sản xuất.
- Tái định cư: Là việc Nhà nước bố trí chỗ ở cho người có đất bị thu hồi
mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí chỗ ở. Hiện nay có
hai hai hình thức định cư: Tái định cư phân tán và tái định cư tập chung.
Theo điều 42 Luật đất đai 2003 của nước ta thì:

thu hồi và việc hỗ trợ để thực hiện thu hồi đất.
2.1.2. Một số tiêu chuẩn về bồi thường và tái định cư
- Cá nhân, hộ gia đình và tổ chức bị ảnh hưởng sau khi tái định cư và
nhận tiền bồi thường phải có cuộc sống tốt hơn hoặc ít nhất là không kém hơn
đời sống của họ trước khi di dời.
- Phải có hỗ trợ bổ xung cho tất cả các cá nhân, hộ gia đình sẽ bị mất thu
nhập do tái định cư đặc biệt, họ không thể duy trì nghề nghiệp trước đây và
phải đào tạo lại.

6
- Tái định cư kể cả bồi thường phải được xem xét và xử lý trên cơ sở các
quyền được hưởng của cá nhân, hộ gia đình, tổ chức bị ảnh hưởng, cũng như
nguyên tắc tái định cư chứ không dựa trên khả năng thanh toán bồi thường có
đủ ngân sách chi trả cho tất cả các khoản bồi thường và các chi phí tái định cư
khác trước khi tiến hành công tác tái định cư.
- Công tác tái định cư đặc biệt đối với những dự án lớn cần được lên kế
hoạch kỹ lưỡng trước khi tiến hành và phải chuẩn bị phương án tái định cư
thích hợp. Những phương án này là hết sức cần thiết cho việc lập dự toán
ngân sách cuối cùng để thực hiện dự án.
- Phải tiến hành thảo luận với cộng đồng dân cư sở tại, nơi bị thu hồi đất
và nơi tái định cư về các vấn đề có liên quan dựa trên cơ sở tham gia đầy đủ
và chân thực.
- Các phương án tái định cư cần phải được thống nhất với tất cả cộng
đồng dân cư và đại diện cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức có liên quan.
- Cần luôn luôn xem xét đến công tác bồi thường và tái định cư với những
người gặp khó khăn về thể xác hoặc tinh thần như: Người già, người độc thân
hay phụ nữ goá chồng, người dân tộc thiểu số, thiếu hiểu biết về văn hoá.
- Trước khi công bố một dự án hay một công trình thì cần điều tra tình hình
dân số của khu vực bị ảnh hưởng. Làm như vậy để giảm thiểu khả năng người
dân cố tình chiếm diện tích đất bị ảnh hưởng nhằm đòi thêm tiền bồi thường.

nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất.
Căn cứ Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
Căn cứ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ
quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư;

8
2.2.2. Các văn bản của tỉnh Bắc Kạn có liên quan đến công tác này
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND 2003.
Căn cứ Văn bản số 87/UBND – KTTH, ngày 16 tháng 1 năm 2008 của
UBND tỉnh Bắc kạn V/v chấp thuận cho Ban bồi thường GPMB thị xã Bắc
Kạn thực hiện công tác GPMB công trình xây dựng, cải tạo nâng cải tạo
đường giao thông nông thôn đến các xã miền núi đặc biệt khó khăn tỉnh Bắc
Kạn (ĐT258).
Căn cứ hợp đồng kinh tế số 01/HĐ – KT , ngày 21 tháng 04 năm 2008
giữa Ban bồi thường GPMB thị xã Bắc Kạn với Ban Quản lý dự án Sở Giao
thông V/v thống kê lập phương ấn BT GPMB công trình xây dựng, nâng cấp,
cải tạo đường giao thông nông thôn đến các xã miền núi đặc biệt khó khăn
tỉnh Bắc Kạn (ĐT258).
Căn cứ Quyết định số 948/QĐ – UBND, ngày 08/05/2009 của tỉnh Bắc
Kạn về việc thu hồi và giao đất cho Sở Giao thông Vận tải để xây dựng công
trình xây dựng, nâng cấp, cải tạo đường giao thông nông thôn đến các xã
miền núi đặc biệt khó khăn tỉnh Bắc Kạn (ĐT258) đoạn qua xã Khang Ninh –
huyện Ba Bể.
Căn cứ Quyết định số 617/2006/QĐ – UBND, ngày 01/4/2008 của
UBND tỉnh Bắc Kạn về việc Ban hành quy định thực hiện một số chính sách
hỗ trợ khi Nhà Nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
Căn cứ Quyết định số 1325/2008/QĐ – UBND, ngày 22/7/2008 của
UBND tỉnh Bắc Kạn về việc Ban hành đơn giá bồi thường nhà ở, công trình

khai tiến độ thực hiện dự án, thời hạn chậm nhất mà các hộ phải di chuyển.
Bước 5:
Công khai đơn giá bồi thường đất đai, tài sản cho các hộ biết, giải đáp
thắc mắc (nếu có).
Bước 6:
Kiểm tra thực tế so với tờ khai của các hộ và thu hồi các loại giấy tờ nhà
đất có liên quan. Nếu các hộ không kê khai, không ký vào biên bản kiểm kê
thì phải lập biên bản có xác nhận của chính quyền cơ sở. Biên bản kiểm kê đất

10
đai thì theo mẫu quy định và có đầy đủ chữ ký của tổ công tác, xác nhận của
chính quyền địa phương và chủ dự án.
+ Biên bản kiểm kê đất đai thể hiện diện tích, loại đất, hạng đất, vị trí, số
thửa trên bản đồ.
+ Biên bản kiểm kê tài sản, nhà của, vật kiến trức, cây cối, khối lượng
riêng biệt, ghi đầy đủ các thông số bảng giá bồi thường theo quy định (đối với
cây trồng dài ngày thì phải xác định số cây trên diện tích đất).
Bước 7:
Công khai số liệu sau khi kiểm tra, kiểm kê cho từng hộ biết.
Bước 8:
Lập phương án bồi thường theo quy định (bao gồm bảng tổng hợp và
bảng tính toán chi tiết).
Bước 9:
Tổ chức thực hiện:
- Công khai phương án bồi thường đã được phê duyệt để các hộ biết.
- Công bố lịch trả tiền bồi thường theo phương án bồi thường đã được
phê duyệt.
- Tổ chức chi trả tiền bồi thường đảm bảo an toàn và thuận tiện.
- Quy định thời gian mà các hộ di chuyển và giao đất cho dự án.
Bước 10:

Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử
dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia thì Nhà nước có chính sách
bồi thường và tổ chức tái định cư cho người bị thu hồi đất.
Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai
Trung Quốc quy định như sau:
Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có chính phủ (Quốc vụ viện) và chính
quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương mới có thẩm quyền thu hồi đất.
Quốc vụ viện có thẩm quyền thu hồi đất Nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha
trở lên đối với các loại đất khác. Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh,

12
thành phố trực thuộc Trung Ương ra quyết định thu hồi. Đất nông nghiệp sau khi
thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu Nhà nước.
Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật Trung Quốc quy định, người nào
sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường. Tiền bồi thường bao gồm
các khoản như lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả
cho người có đất bị thu hồi. Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy
định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao
tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp,
khoảng 442.000 - 2.175.000 nhân dân tệ/ha.
Pháp luật đất đai Trung Quốc có nhiều nội dung tương đồng với pháp
luật Việt Nam. Tuy nhiên nhìn tổng thể, việc chấp hành pháp luật của người
Trung Quốc rất cao, việc sử dụng đất tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm.
Do đất đai thuộc sở hữu Nhà nước nên không có chính sách đền bù thiệt hại
khi Nhà nước thu hồi đất, kể cả đất Nông nghiệp, tuy nhiên tùy trường hợp cụ
thể, Nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi đất. Nhà nước chỉ
đền bù cho các công trình gắn liền với đất bị thu hồi đất của các chủ sử dụng.
Về phương thức đền bù thiệt hại: Nhà nước thông báo cho người sử dụng
đất biết trước việc họ sẽ thu hồi đất trong thời hạn một (01) năm, người dân
có quyền lựa chọn các hình thức đền bù thiệt hại bằng tiền hoặc bằng nhà tại

Theo Hiến pháp Úc, chính quyền Liên bang (Chính phủ) “có quyền ban
hành các Luật từ việc thu hồi bất động sản theo những điều khoản chính đáng
từ bất kỳ Bang hoặc cá nhân nào mà Quốc hội có quyền ban hành Luật”.
Cơ quan chức trách có thể thu hồi lại đất đai bằng hai cách: Thoả thuận
tự nguyện và cưỡng bức (bắt buộc).
Về bồi thường, luật quy định chủ sở hữu sẽ được bồi thường thiệt hại do
việc thu hồi đất.

14
Nguyên tắc bồi thường bao gồm:
1- Giá thị trường mảnh đất của chủ sở hữu
2- Giá trị đặc biệt dành cho chủ sở hữu cao hơn hoặc trên giá trị thị
trường của mảnh đất.
3- Những thiệt hại gây ra khi thu hồi đất.
4- Thiệt hại về việc gây phiền hà.
5- Các khoản chi phí về luật pháp và thẩm định giá.
6- Bất cứ người nào có quyền lợi trên mảnh đất đó đều có thể khiếu nại
về bồi thường.
Quy định mức bồi thường: Khi tính toán mức bồi thường cần xem xét 6
yếu tố sau:
1- Giá trị thị trường của mảnh đất.
2- Sự chia cắt đất đai.
3- Những phiền nhiễu.
4- Các khoản chi phí về chuyên môn hoặc pháp lý hợp lý.
5- Người đi thuê, có thể khiếu nại mức bồi thường cho bất cứ tài sản nào
bị ảnh hưởng mà ban quản lý theo hợp đồng cho thuê.
6- Tiền bồi thường về mặt tinh thần.
Thanh toán khoản bồi thường gồm thanh toán ứng trước và thanh toán
cuối cùng.
+ Thanh toán ứng trước: Chính phủ sẽ thanh toán cho chủ nhân toàn bộ

thu hồi đất hoặc trưng thu đất mà đó tồn tại không có tranh chấp hoặc khiếu
nại đều được bồi thường. Hay nói cách khác là tất cả những người có đất bị
ảnh hưởng bởi dự án đều có quyền được bồi thường.
Phương thức bồi thường đất: Việc bồi thường được thực hiện theo hai
phương thức là bồi thường bằng hiện vật (đất, nhà, lương thực, vật liệu xây
dựng, ) hoặc bồi thường bằng tiền cho đất đai bị thiệt hại. Tuy nhiên, dù thực

16
hiện theo phương thức nào thì cũng đều phải xác định giá trị đất bị thu hồi để
làm cơ sở thực hiện việc bồi thường.
Giá trị đất bị thu hồi, trưng thu: Giá trị đất bị thu hồi hoặc trưng thu
được tính trên cơ sở giá trị thực của đất. Nguyên tắc chung là giá bồi thường,
giá trưng thu phải là giá thị trường hoặc giá thay thế.
Chính sách hỗ trợ khi bị thu hồi đất, trưng thu đất: Ngoài việc bồi
thường cho người bị thu, trưng thu, trưng mua hoặc thu hồi đất, các quốc gia
cũng quy định việc hỗ trợ cho người bị thu hồi đất hoặc bị trưng thu đất. Đó
là các khoản hỗ trợ bổ sung ngoài bồi thường nhằm tạo điều kiện cho người bị
thu hồi đất hoặc bị trưng thu đất ổn định và cải thiện đời sống, sản xuất, thu
nhập, chuyển đổi nghề nghiệp.
Qua nghiên cứu cho thấy chính sách bồi thường, hỗ trợ & GPMB của
một số nước, Việt Nam chúng ta cần học hỏi một số kinh nghiệm để tiếp tục
hoàn thiện chính sách bồi thường thiệt hại & GPMB ở một số điểm sau:
- Hoàn thiện các quy định về giá đất nói chung và định giá đất để bồi
thường thiệt hại và GPMB nói riêng.
- Bổ sung thêm một số giải pháp nhằm hỗ trợ người dân có đất bị thu
hồi khôi phục thu nhập, ổn định cuộc sống, đặc biệt là đối với lao động trên
35 tuổi.
2.3.3. Công tác GPMB trong nước
2.3.3.1. Trước khi có Luật Đất đai năm 1993
Quá trình hình thành các triều đại phong kiến, trong mỗi kiểu Nhà nước,

định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất. Đây có thể coi là văn bản pháp
quy đầu tiên liên quan đến bồi thường và tái định cư bắt buộc ở Việt Nam.
Tiếp sau đó, liên Bộ Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội vụ ban hành
Thông tư Liên bộ số 1424/TTLB ngày 06/7/1959 hướng dẫn việc thi hành
Nghị định 151/TTg với các nguyên tắc cơ bản như phải đảm bảo kịp thời và
đủ diện tích cần thiết cho xây dựng, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi

18
và đời sống của người có ruộng đất, những người có ruộng đất bị trưng dụng
được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công ăn
việc làm, chỉ được trưng dụng số ruộng đất cày cấy trồng trọt, hết sức tránh
những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, chùa, đền, những
người có ruộng đất trưng dụng cần được báo trước một thời gian là hai (02)
tháng để kịp di chuyển.
Khi trưng dụng ruộng đất, Nhà nước xác định, cách bồi thường tốt nhất là
vận động nông dân điều chỉnh hoặc nhượng ruộng đất cho người bị trưng dụng
để họ tiếp tục sản xuất. Trường hợp không làm được như vậy, về đất sẽ được
bồi thường bằng tiền từ 1 - 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trưng
dụng. Mức bồi thường căn cứ vào thực tế ở mỗi nơi, đời sống của nhân dân cao
hay thấp, ruộng đất ít hay nhiều, tốt hay xấu mà định. Đối với ruộng đất bị đào
để tu bổ đường xá, làm đập thì tuỳ theo đất bị đào sâu hay nông, sản lượng bị
giảm nhiều hay ít mà định mức bồi thường nhưng không quá hai (02) năm sản
lượng thường niên. Nếu ruộng đất bị trưng dụng chuyên trồng cây ăn quả, cây
công nghiệp lưu niên thì bồi thường cao hơn so với các loại hoa màu khác. Nếu
phải dời nhà, giếng nước đi nơi khác thì sẽ được giúp đỡ để xây dựng cái khác.
Ruộng đất bị trưng dụng thuộc Hợp tác xã nông nghiệp thì không cần bồi
thường nếu như có khả năng thu xếp để việc trưng dụng không ảnh hưởng đến
đời sống xã viên hoặc chỉ được bồi thường một phần nào.
Những ruộng đất công do nhân dân sử dụng thì cơ quan cần ruộng đất
phải báo cho người sử dụng biết trước khi làm thời vụ, nếu không báo trước

từng vùng mà quy định giá bồi thường cho thoả đáng.
- Đối với cây lưu niên, việc bồi thường các cây ăn quả lâu dài và ngắn
ngày phải căn cứ sản lượng thu hoạch thường niên và thời hạn trồng, hoa lợi
của mỗi loại cây để quy định bồi thường.
- Như vậy, mặc dù chính sách bồi thường về đất chưa được quy định
trong Luật và thể chế thành một chính sách đầy đủ, song quy định về bồi
thường khi Nhà nước trưng dụng đất tại Thông tư 1792/TTg đã có sự thay đổi

Trích đoạn Điều kiện tự nhiên Tổng quan về khu vực giải phóng mặt bằng Đánh giá về chính sách hỗ trợ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status