LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, Khoa
Tiểu học - Mầm non trường Đại học sư phạm Hà nội 2 đã tạo điều kiện và
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Nhà giáo ưu tú.PGS.TS Đỗ
Huy Quang, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, các em học
sinh trường tiểu học Thị trấn Thuận Châu, huyện Thuận Châu, trường tiểu học
Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi
trong thời gian thực hiện luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới những người thân trong
gia đình, bạn bè - những người đã luôn cổ vũ, động viên, hỗ trợ tôi trong suốt
quá trình học tập và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Người thực hiện
Trần Thị Thu Hường
LỜI CAM ĐOAN
Viết là
Đọc là
DTTS
Dân tộc thiểu số
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
MĐGT
Mục đích giao tiếp
NVGT
Nhân vật giao tiếp
Nxb
Nhà xuất bản
SL
Số lượng
SGK
Sách giáo khoa
TB
Trung bình
TL
Tỉ lệ
TLV
Tập làm văn
TV
Tiếng Việt
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU………………………………………………………………….….1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 4
3. Mục đích nghiên cứu 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6. Phương pháp nghiên cứu. 6
7. Giả thuyết khoa học 6
NỘI DUNG 7
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC
VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC LỚP 4
TỈNH SƠN LA 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Văn bản. Văn bản văn. Phẩm chất văn, phẩm chất nghệ thuật của
văn bản văn 7
1.1.1.1 Khái niệm văn bản. 7
1.1.1.2 Đặc điểm của văn bản 8
Tiểu học theo phương pháp chọn mẫu, phân tích mẫu và thực hành theo
mẫu. 37
2.1.1.2 Hệ thống bài tập: 42
2.2.2 Biện pháp rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh Tiểu học theo
cơ chế 4 bước. 49 2.2.2.1. Tổng quát về biện pháp rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học
sinh Tiểu học theo cơ chế 4 bước 49
2.2.2.2 Hệ thống bài tập: 53
2.2.3 Biện pháp rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh Tiểu học theo
quan điểm giao tiếp 55
2.2.3.1. Tổng quát về biện pháp rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học
sinh Tiểu học theo quan điểm giao tiếp 55
2.2.3.2 Hệ thống bài tập 59
2.2.4 Biện pháp rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh Tiểu học lớp 4
thông qua hệ thống bài tập hoàn thiện, sửa chữa. 66
2.2.4.1 Bài tập chữa lỗi sai về hình ảnh so sánh, dùng từ 67
2.2.4.2 Bài tập chữa lỗi sai về cách diễn đạt 69
2.2.4.3 Bài tập chữa lỗi sai về trình tự quan sát 71
2.2.4.4 Bài tập chữa lỗi sai về bố cục (cấu trúc ba phần, tách ý, nội
dung trong phần thân bài thành các đoạn nhỏ). 72
2.2.4.5 Bài tập chữa lỗi sai, hoàn thiện về thể hiện cảm xúc của người
viết 74
2.2.4.6 Bài tập hoàn thiện 74
2.3 Tiểu kết 76
CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 79
3.1 Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm 77
3.2 Tổ chức quá trình thực nghiệm 79
3.2.1 Chuẩn bị thực nghiệm 79
sống, trình độ văn hoá, năng lực ngôn ngữ của mỗi học sinh. Bài văn của HS
không chỉ thể hiện kết quả của việc học Tiếng Việt mà còn thể hiện tình cảm,
hứng thú, cách suy nghĩ và mang màu sắc cá nhân của từng em.
Dạy viết văn miêu tả là dạy sản sinh văn bản, nhưng chất lượng văn bản
phải mang chất văn, chất nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi của học sinh. Bên
cạnh đó, dạy viết văn miêu tả còn hướng tới hình thành cho các em thói quen
đọc sách, kỹ năng quan sát cuộc sống nhằm tìm ra cái hay, cái đẹp của thiên
nhiên, cảnh vật, con người. Từ đó bồi dưỡng cho các em tình yêu, trách nhiệm
đối với môi trường xung quanh, hình thành tình yêu quê hương, đất nước.
1.2 Xuất phát từ thực tiễn dạy học viết văn miêu tả cho học sinh tiểu học
Để nâng cao chất lượng dạy và học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến
hành đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa cũng như hình thức tổ
chức, phương pháp dạy học, bổ sung hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị
dạy học cho các trường tiểu học. Nhiều lớp tập huấn cho giáo viên được mở
ra, từ đó dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy học Tập Làm Văn miêu tả cho
học sinh tiểu học nói riêng đang có nhiều đổi mới.
Bắt đầu từ năm 2003, việc cả nước thực hiện chung một chương trình,
dùng chung một bộ sách giáo khoa, một chuẩn kiến thức kỹ năng đã thể hiện
quan điểm bảo đảm sự bình đẳng, công bằng trong giáo dục của Đảng và Nhà
nước. Tuy nhiên đây lại là một khó khăn đối với thầy và trò các trường tiểu
2
học miền núi nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng do những đặc điểm về tâm
lý, ngôn ngữ, năng lực nhận thức của học sinh. Dạy Tiếng Việt và dạy Tập
Làm Văn cho HS miền núi cần được nghiên cứu để bảo đảm dạy sát đối
tượng, đạt hiệu quả như quy định của chuẩn kiến thức, kỹ năng.
Thực tiễn dạy học Tập Làm Văn ở các trường Tiểu học hiện nay cho
thấy vẫn còn một số giáo viên gặp khó khăn trong việc dạy học phân môn
biết viết gì, viết thế nào. Bài văn miêu tả của các em thường mang tính liệt kê,
kể lể, khô khan thiếu cảm xúc.
“Trong mỗi đứa trẻ đều có một mầm tài năng”. Nhiệm vụ quan trọng
của mỗi giáo viên là phát hiện và phát triển mầm tài năng đó. Với dạy học
viết văn miêu tả, giáo viên cần hướng dẫn các em cách quan sát, cung cấp cho
các em vốn từ miêu tả dễ hiểu, trong sáng cũng như cách diễn đạt và bố cục
của bài văn miêu tả, và hơn thế nữa đó là quy trình, cách thức làm một bài văn
miêu tả. Tất cả những điều này cần phải được hướng dẫn một cách cụ thể, tỉ
mỉ, chi tiết thông qua các bài tập, nhằm hình thành kỹ năng Tập làm văn miêu
tả cho các em.
1.3 Định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nâng cao chất lượng giáo
dục ở tiểu học
Giáo dục trẻ em là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà cả xã hội đều
quan tâm, bởi “ Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Trong Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI, Đảng ta đã xác định: "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng
đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn
hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế", "Tập trung
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống,
năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành " [1,130]. Để thực hiện mục tiêu ấy
Đảng, Nhà nước ta luôn coi giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ là quốc
sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển. Xác định được
4
nhiệm vụ to lớn đó, Bộ Giáo dục đã và đang tiến hành những công cuộc đổi
mới mang tính chiến lược trong sự nghiệp giáo dục. Điều đó được thể hiện ở
quan điểm chỉ đạo dạy học lấy học sinh làm trung tâm (năm 1994); dạy học
theo hướng tích cực hóa (từ sau năm 2000), trong đó nêu rõ “phương pháp
Nguyễn Trí (1998), Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở
Tiểu học, Nxb Giáo dục.
Nguyễn Trí (chủ biên), Nguyễn Trọng Hoàn (2009), Rèn kỹ năng Tập
làm văn 4,5, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Đây là những công trình nghiên cứu rất bổ ích đối với giáo viên dạy
tiểu học và là những chỉ dẫn quan trọng để tác giả luận văn phát triển, đi tiếp
và triển khai vào một đề tài cụ thể, trên đối tượng học sinh cụ thể là “Rèn kỹ
năng viết văn miêu tả cho học sinh tiểu học lớp 4 tỉnh Sơn La”
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm được những biện pháp phù hợp để rèn kỹ năng viết văn miêu tả
cho các em học sinh tiểu học lớp 4 trên địa bàn tỉnh Sơn La, góp phần nâng
cao chất lượng dạy và học phân môn Tập Làm Văn nói riêng và môn Tiếng
Việt nói chung ở một tỉnh miền núi.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề về văn bản, phương pháp tạo lập văn bản, lý thuyết giao
tiếp, nội dung chương trình sách giáo khoa và hoạt động dạy học phân môn
Tập Làm Văn miêu tả ở trường tiểu học.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi là đối tượng học
sinh khối lớp 4 thuộc một số trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Sơn La và tập
trung vào nhiệm vụ rèn kỹ năng viết văn miêu tả.
6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận về bản chất môn Tập Làm Văn, về văn
bản, cơ chế tạo lập văn bản, các phương pháp tạo lập văn bản.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC VIẾT VĂN
MIÊU TẢ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC LỚP 4 TỈNH SƠN LA
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Văn bản. Văn bản văn. Phẩm chất văn, phẩm chất nghệ thuật của
văn bản văn
1.1.1.1 Khái niệm văn bản.
Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó được tạo
lập bởi sự liên kết các câu, các đoạn văn, tạo thành một đơn vị hoàn chỉnh về
nội dung và hình thức và hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định.
Với tư cách là một đối tượng nghiên cứu, văn bản đã được nhiều tác giả
đề cập đến, mỗi tác giả có mỗi cách hiểu khác nhau về vấn đề này. Tuy nhiên,
có thể hiểu khái niệm văn bản trong sự toàn diện của nó cả về cấu trúc hình
thức và nội dung, với những định nghĩa tiêu biểu như sau:
"Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các
câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu phần tử, trong hệ thống văn bản còn
có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan
hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản
nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy".
(Trần Ngọc Thêm, 1985)
"Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ giải thuyết được ở mặt hình thức, bên
ngoài ngữ cảnh" (Cook, 1989 - dẫn theo Diệp Quang Ban).
Trong các định nghĩa trên cần chú ý những đặc điểm sau:
- Văn bản có thể ở dạng nói hoặc ở dạng viết
- Văn bản cũng có thể dài hoặc ngắn
- Cấu trúc của văn bản bao gồm cả cấu trúc hình thức và cấu trúc ngữ nghĩa
8
- Văn bản có đề tài hoặc chủ đề.
Tính liên kết trong văn bản được thể hiện ở các yếu tố ngôn ngữ như:
kiểu cấu tạo câu, cách sắp xếp các câu, kiểu quan hệ giữa các câu trong một
văn bản, bố cục văn bản, ; ở thủ pháp nghệ thuật như: phép lặp, phép thay
thế, ; ở thủ pháp kết cấu: diễn dịch, quy nạp, Sự thống nhất giữa các yếu tố
đó sẽ cho người đọc, người nghe thấy được tính mạch lạc trong văn bản.
Văn bản có chủ đề:
Chủ đề là đối tượng, là vấn đề chính được tác giả nêu lên, đặt ra trong
văn bản. Văn bản có tính chủ đề là văn bản chỉ trình bày những vấn đề liên
quan tới chủ đề đã được nêu ra. Tính chủ đề của văn bản thông thường được
thể hiện ở các yếu tố như: tên (nhan đề) của văn bản, quan hệ về nội dung
giữa các đoạn, phần trong văn bản,
Như vậy, tính mạch lạc, liên kết, tính chủ đề của văn bản có mối quan
hệ qua lại, chi phối lẫn nhau. Sự thống nhất giữa các yếu tố đó làm nên sự
hoàn chỉnh về cả nội dung và hình thức của một của văn bản. Dạy học Tập
Làm Văn là dạy cho các em biết cách tạo lập, sản sinh văn bản văn, trong đó
không thể không nhắc đến tính mạch lạc, tính liên kết, tính có chủ đề của văn
bản. Đặc biệt là trong dạy Tập Làm Văn miêu tả.
1.1.1.3 Văn bản trong chương trình tập làm văn ở Tiểu học
Một trong những mục tiêu của môn Tiếng Việt là HS có thể sử dụng
thành thạo tiếng Việt và giao tiếp hiệu quả trong các môi trường hoạt động
của lứa tuổi. Nhằm thực hiện mục tiêu đó chương trình tập làm văn từ lớp 2
đến lớp 5 đã từng bước rèn cho học sinh cách tạo lập văn bản theo những yêu
cầu và thể loại khác nhau. Cũng từ chương trình tập làm văn ở tiểu học, quan
niệm về văn bản có nhiều đổi mới, phù hợp với lứa tuổi tiểu học.
- Văn bản có thể là lời nói trong các tình huống giao tiếp cụ thể, nhằm
thực hiện một mục đích như lời chào, lời cảm ơn, lời xin lỗi, lời khẳng định,
phủ định, (chương trình Tiếng Việt lớp 2).
11
là cái đẹp mang tính vật chất (cái đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp trong cuộc
sống gia đình, nhà trường và xã hội), cái đẹp tinh thần (cái đẹp trong tâm hồn,
trong cách giao tiếp, ứng xử trong các mối quan hệ, ),
Đối với học sinh tiểu học, học phân môn Tập làm văn là để biết cách
tạo ra những văn bản mang chất văn, chất nghệ thuật. Đó là những bài văn
đẹp cả về hình thức và nội dung, thể hiện: chữ viết rõ ràng, nắn nót, sạch đẹp,
đúng chính tả, câu văn gọn, giàu hình ảnh, gợi tả, bài văn thể hiện được
những cảm xúc, ý nghĩ của HS trong từng thể loại văn. Những văn bản đó
được thể hiện rõ nét trong sản phẩm tập làm văn kể chuyện, miêu tả và viết
thư. Trong đó, tập làm văn miêu tả là thể loại tạo ra sản phẩm văn bản mang
đậm chất văn và tính nghệ thuật hơn cả.
1.1.2 Bản chất môn Tập Làm Văn. Phân môn Tập Làm Văn ở Tiểu học.
1.1.2.1 Bản chất môn Tập làm văn.
Tập Làm Văn là phân môn thực hành, tổng hợp tri thức, năng lực
tiếng Việt và văn học của HS. Phân môn này nhằm rèn luyện cho HS các kỹ
năng tạo lập văn bản trong quá trình lĩnh hội các kiến thức khoa học, góp phần
dạy HS biết sử dụng tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt lứa tuổi.
- Tập làm văn là một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Tập làm văn là hoạt động thực hành giao tiếp. Khác với các phân môn
khác, Tập Làm Văn đòi hỏi HS phải thực hành thật nhiều để trau dồi lí thuyết,
từ bài tập thực hành để quay trở lại nhận diện lí thuyết. Ngay từ chương trình
tập làm văn của lớp 2 các em đã được thực hành giao tiếp qua các tiết nói lời
chào, lời cảm ơn, lời xin lỗi, Đó chính là thực hành giao tiếp bằng lời nói.
Lên đến lớp 4 các em phải học để tạo ra một bài văn hoàn chỉnh. Đây chính là
thực hành giao tiếp thông qua quá trình tạo lập văn bản (viết bài văn miêu tả,
bài văn viết thư, bài văn kể chuyện, ). 13
tạo lập lời nói. Đó là quá trình đi từ ý đến lời trong hoạt động giao tiếp, là quá
trình chuyển từ nội dung ngữ nghĩa thuộc lĩnh vực tinh thần sang hình thức
vật chất thuộc lĩnh vực ngôn ngữ. Muốn tạo được ngôn ngữ cũng là tạo lập
được một bài văn, HS phải chuẩn bị tốt về nội dung. Để có được nội dung đó
trước hết các em phải có vốn sống, vốn hiểu biết phong phú, phải biết quan
sát và lắng nghe, phải có cảm xúc. Những yếu tố nội dung này sẽ được biểu
hiện qua ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ. Việc mã hóa những thông tin đó được
thể hiện ở các cấp độ: từ, cụm từ, câu. Cấp độ tiếp theo là dàn ý của bài văn,
và cuối cùng là chuyển từ dàn ý, lựa chọn, sắp xếp để tạo thành sản phẩm là
bài văn.
- Tập làm văn là một hoạt động tạo lập văn bản theo những mục đích,
phương thức khác nhau
Trong dạy học Tiếng Việt, Tập Làm Văn là phân môn khó nhất, đặc
biệt là Tập Làm Văn miêu tả ở lớp 4. Xuất hiện trong chương trình học từ lớp
2 nhưng ở đây các em mới chỉ dừng lại ở thực hành nói lời chào, nói lời cảm
ơn, nói lời xin lỗi, Đến lớp 4 các em phải học để thực hiện một bài văn
hoàn chỉnh. Các em phải làm quen với nhiều thể loại bao gồm: văn kể chuyện,
văn miêu tả, văn viết thư, trao đổi ý kiến, giới thiệu hoạt động, tóm tắt tin tức,
điền vào giấy tờ in sẵn. Mỗi thể loại đòi hỏi cách thức, phương pháp làm bài
khác nhau, có những phương thức biểu đạt khác nhau.
Phương thức biểu đạt là cách thức phản ánh và tái hiện lại đời sống
(thiên nhiên, xã hội, con người) của người viết, người nói. Mỗi phương thức
biểu đạt phù hợp với một mục đích, ý đồ phản ánh nhất định. Ở Tiểu học, có
thể chia các kiểu bài tập làm văn theo hai phương thức biểu đạt: phương thức
tự sự và phương thức tả.
Văn kể chuyện được tạo bởi phương thức tự sự. Đây là phương thức
biểu đạt dùng để tái hiện một câu chuyện bằng cách trình bày một chuỗi sự
bản đều có những đặc trưng riêng phân biệt với các phương thức biểu đạt, các
15
kiểu văn bản khác. Do vậy, việc giúp HS nắm những đặc trưng riêng biệt ấy
từ đó tìm ra được những cách thức, phương pháp luyện tập riêng nhằm hình
thành, phát triển kỹ năng, kỹ xảo viết từng kiểu văn bản cho HS là một việc
cần thiết, không thể thiếu đối với GV trong quá trình dạy TLV.
Phương thức biểu đạt tạo ra các văn bản văn theo thể loại, mục đích
khác nhau. Song, dù được viết theo phương thức nào thì hoạt động làm văn
của HS cũng cần phải có khâu lập dàn ý với ba phần: mở đầu, phần phát triển,
phần kết thúc. Sự phân chia bài văn thành ba phần không phải là cách phân
chia duy nhất nhưng nó là sự phân chia phổ biến nhất, tạo được ấn tượng về
sự hoàn chỉnh, trọn vẹn của vấn đề trình bày.
1.1.2.2 Tập làm văn ở tiểu học
Phân môn Tập Làm Văn ở tiểu học có mục đích, yêu cầu như sau:
- Trang bị kiến thức và rèn luyện các kỹ năng làm văn, bao gồm:
+ Kỹ năng phân tích đề
+ Kỹ năng tìm ý, lập dàn ý cho bài văn
+ Kỹ năng viết đoạn, liên kết đoạn thành bài văn
+ Kỹ năng tự kiểm tra, sửa chữa bài văn nói và viết
- Góp phần cùng các môn học khác phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốn
sống, rèn luyện tư duy logic, tư duy hình tượng cho HS.
Nội dung phân môn TLV lớp 4 được triển khai theo các chủ điểm trong
chương trình Tiếng Việt lớp 4. Do vậy, việc thực hiện các kỹ năng phân tích
đề, tìm ý, quan sát, viết đoạn là dịp để các em mở rộng vốn từ, nói lên tâm tư
tình cảm của mình, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, Việc phân tích dàn bài,
lập dàn ý, chia đoạn, tóm tắt truyện, quan sát đối tượng,… giúp khả năng
phân tích, tổng hợp, phân loại của HS được rèn luyện qua các thao tác cụ thể,
lại miêu tả cuộc sống bằng câu chữ, ngôn từ. Nhưng sự miêu tả trong văn
chương có ưu thế riêng so với sự miêu tả bằng màu sắc, đường nét của hội
17
họa và sự miêu tả bằng âm thanh của âm nhạc. Người ta chỉ có thể thấy, hiểu
được ý đồ của họa sĩ, nhạc sĩ khi tai được nghe bản nhạc, ca khúc, mắt được
nhìn thấy màu sắc, đường nét mà thôi. Nhưng bằng hệ thống ngôn từ, câu chữ
văn chương không chỉ miêu tả lại thiên nhiên đời sống con người theo khả
năng vốn có của nó mà văn chương còn có thể mô tả lại màu sắc, đường nét
của hội họa cũng như âm thanh trong âm nhạc. Dùng ngôn ngữ, văn chương
có thể miêu tả sự vật trong một quá trình vận động của nó mà miêu tả trong
âm nhạc và hội họa không làm được. Là một trong những phương thức biểu
đạt quan trọng của văn chương, miêu tả xuất hiện trong từng câu thơ (Dòng
sông mới điệu làm sao/ Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha/ / Chiều trôi thơ
thẩn áng mây/ Cài lên màu áo hây hây ráng vàng, (Dòng sông mặc áo,
Nguyễn Trọng Tạo), ), trong đoạn văn, câu chuyện, trong các trang truyện
ngắn, Đồng thời, miêu tả cũng trở thành một phương thức biểu đạt trong
phân môn Tập Làm Văn của HS tiểu học lớp 4.
Văn miêu tả là loại văn căn cứ vào những điều quan sát, ghi chép, cảm
nhận được về đối tượng (đồ vật, cây cối, loài vật, con người, ) dùng ngôn
ngữ để vẽ ra hình ảnh chân thực của đối tượng đó, trình bày theo một bố cục
hợp lý và diễn đạt bằng lời văn sinh động khiến cho người đọc, người nghe
cùng thấy, cùng cảm nhận như mình. Những sự vật, sự việc được tạo ra bởi
văn miêu tả không phải là những bức tranh chụp lại, sao chép lại một cách
vụng về. Nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu
sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sát cuộc sống.
Ở bậc học Tiểu học, các em cũng đã bắt đầu được làm quen với phương
thức miêu tả thông qua các câu thơ, bài thơ, câu chuyện trong các tiết Tập