Rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 - Pdf 35

Kinh nghiệm rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.
MỤC LỤC
Mục
A/ PHẦN MỞ BÀI
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục tiêu, nhiệm vụ đề tài
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Phạm vi nghiên cứu
V. Phương pháp nghiên cứu
B/ PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài
II. Thực trạng
III. Giải pháp, biện pháp
1. Mục tiêu
2. Nội dung và cách thức thực hiện
2.1. Bồi dưỡng khả năng cảm thụ, viết văn của giáo viên
2.2. Hướng dẫn học sinh nắm cấu tạo từng dạng văn miêu tả
2.3. Chọn đề tài gần gũi với học sinh
2.4. Hướng dẫn quan sát, bồi dưỡng vốn từ, dùng từ đặt câu
2.5. Hướng dẫn lập dàn ý và xây dựng đoạn văn
2.6. Xây dựng mở bài và kết bài
2.7. Hướng dẫn học sinh viết hoàn chỉnh bài văn
2.8. Nhận xét bài viết
2.9. Tiết trả bài
3. Điều kiện để thực hiện các giải pháp, biện pháp
4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
IV. Kết quả nghiên cứu
C/ KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị

22

1


Kinh nghiệm rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.
A . MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Lý do khách quan:
Tập làm văn có vai trò quan trọng trong việc trau dồi ngôn ngữ cho học
sinh. Làm công cụ tư duy, giao tiếp, học tập và trong cuộc sống. Góp phần làm
giàu cho học sinh về cách nhìn nhận thế giới xung quanh các em, giúp các em
phát triển ngôn ngữ, phát triển tư duy, năng lực liên tưởng và sáng tạo. Qua đó
bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ và nhân cách cho các em.
Tập làm văn là môn học có yêu cầu tổng hợp, mức độ cao nhất trong quá
trình học của học sinh. Nó mang tính thực hành toàn diện, đòi hỏi học sinh phải
có kiến thức tổng hợp và sáng tạo. Môn Tập làm văn là tổng hợp kiến thức của
các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Kể chuyện trong môn Tiếng
Việt. Do đó môn Tập làm văn được xem là môn học khó đối với học sinh Tiểu
học nói chung và đặc biệt rất khó khăn đối với học sinh dân tộc thiểu số vùng
khó khăn nói riêng.
2. Lý do chủ quan:
Trên thực tế, dạy học Tập làm văn ở trường Tiểu học Tình Thương là môn
học rất khó đối với các em và giáo viên. Hiện nay, với lượng kiến thức và số
lượng môn học quá tải bao gồm các môn theo qui định trong chương trình, còn
thêm các môn học như tiếng Anh, Tin học, Ê- đê (4 tiết/ tuần), nhiều giáo viên
dạy/ 1lớp, đối với học sinh dân tộc vùng khó khăn quả là quá khó khăn. Học 2
buổi/ ngày nhưng dạy tăng thêm môn Toán, Tiếng Việt chỉ được 1 tiết/tuần. Dạy
hết chương trình theo quy định để học sinh đạt yêu cầu đã không đủ thời gian.
Thông thường, rèn cho các em các kĩ năng đọc thông, viết đúng chính tả đã là

1. Mục tiêu:
Tìm ra biện pháp phù hợp trong quá trình dạy học nhằm giúp học sinh dân
tộc thiểu số vùng khó khăn lớp 5 có kĩ năng:
+ Có thói quen quan sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế
giới xung quanh.
+ Biết chọn lọc từ ngữ (đặc biệt là từ ngữ có biểu cảm), trình bày suy nghĩ
của mình một cách mạch lạc (sống động), thành những câu văn sáng rõ về nội
dung, có tình cảm chân thực.
+ Bồi dưỡng cho các em yêu đồ vật, con vật, cây cối, cảnh vật, tình yêu
quê hương đất nước, con người; bồi dưỡng vốn sống, vốn ngôn ngữ và khả năng
giao tiếp cho các em.
2. Nhiệm vụ:
Tìm hiểu thực trạng và đưa ra những giải pháp, biện pháp thiết thực để rèn kĩ
năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Tình Thương nói riêng
và học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Tiểu học vùng khó khăn ở Tây Nguyên
nói chung.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Các biện pháp, giải pháp giúp học sinh
thiểu số lớp 5 vùng khó khăn viết văn miêu tả.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 trường Tiểu học Tình Thương.
- Chương trình, SGK Tiếng Việt lớp 5. Các tài liệu tham khảo như Sách
giáo viên Tiếng Việt lớp 4,5,...
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp quan sát

Trần Thị Tuyết Nga – Giáo viên trường Tiểu học Tình Thương

3



a. Thuận lợi:
- Giáo viên được tham gia các buổi chuyên đề về phương pháp dạy học văn
miêu tả đối với đối tượng học sinh DTTS.
- Thường xuyên thao giảng, dự giờ, trao đổi, rút kinh nghiệm nhằm cải tiến
phương pháp để nâng cao chất lượng dạy học.

Trần Thị Tuyết Nga – Giáo viên trường Tiểu học Tình Thương

4


Kinh nghiệm rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.
- Với sự phát triển của công nghệ thông tin, GV chuẩn bị đầy đủ ĐDDH
giúp các em rèn kĩ năng quan sát nhiều hơn qua thực tế.
- Các dự án đã quan tâm cung cấp đầy đủ các loại sách giáo khoa cho học
sinh dân tộc thiểu số.
- Thư viện trường đạt chuẩn, có nhiều đầu sách cho học sinh đọc tham
khảo.
- Giáo viên nhiệt tình, có nhiều năm trong công tác.
b. Khó khăn :
* Học sinh:
- Phần lớn học sinh là người dân tộc thiểu số. Học sinh có thói quen sử
dụng tiếng mẹ đẻ, ít có thói quen sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp. Mặt bằng
kinh tế, trình độ dân trí của phụ huynh ở đây còn thấp, cho nên khả năng phát
triển ngôn ngữ của các em còn kém do ảnh hưởng lối sống, sinh hoạt, giao tiếp
của gia đình, các em ít có dịp đi đây đi đó, tiếp xúc với thế giới xung quanh, có
em chưa một lần được ra khỏi thôn buôn.
- Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của các em, vốn tiếng Việt của các em hết
sức hạn chế.
- Học sinh hay nghỉ học, nhiều học sinh thuộc gia đình khó khăn, con đông,

làm giàu vốn từ, sử dụng vốn từ, cảm thụ thơ văn,... trong các tiết học này để hỗ
trợ dạy tốt phân môn Tập làm văn.
- Việc sử dụng đồ dụng dạy học đôi khi chưa khai thác triệt để kênh hình
giúp HS quan sát tìm ý hoặc bỏ qua bước quan sát tìm ý hay lập dàn ý vì nghĩ
học sinh không làm được hoặc mất thời gian nên giáo viên hay đốt cháy giai
đoạn.
2. Thành công và hạn chế khi thực hiện đề tài:
a. Thành công:
- Học sinh biết viết bài văn trình bày rõ 3 phần, bám sát yêu cầu đề bài,
làm chủ được ngôn từ, diễn đạt rõ ràng, lưu loát hơn, sử dụng dấu câu phù hợp.
Bước đầu bài văn đã có biểu cảm.
- Học sinh tự tin trong giao tiếp, các em có nhiều vốn từ hơn, diễn đạt
trong nói và viết lưu loát và giàu hình ảnh hơn và hạn chế được nhiều lỗi chính
tả.
b. Hạn chế:
Thời lượng của một tiết dạy thường kéo dài.
3. Mặt mạnh, mặt yếu:
a. Mặt mạnh:
Đề tài đã đưa ra được những giải pháp, biện pháp cụ thể để giải quyết
những tồn tại, khó khăn trong việc dạy văn miêu tả đối với học sinh DTTS trên
địa bàn trường tôi.
b. Mặt yếu:
Đòi hỏi giáo viên phải thực sự nhiệt tình, tâm huyết với học sinh, kiên trì
thực hiện tốt các giải pháp, biện pháp mà đề tài đã đưa ra để đạt hiệu quả cao
trong dạy học. Khả năng tiếp thu của học sinh có nhiều hạn chế, đòi hỏi giáo
viên phải nhẹ nhàng, hướng dẫn cụ thể, động viên, khuyến khích học sinh kịp
thời. Công tác chữa bài đòi hỏi mất nhiều thời gian và sự cẩn trọng, sửa chữa tỉ
mỉ của giáo viên. Cần phải tăng thời lượng cho tiết học. Giáo viên phải tăng
Trần Thị Tuyết Nga – Giáo viên trường Tiểu học Tình Thương


mặc cho nhà trường và ý thức của các em, đa số phụ huynh đứng ngoài cuộc. Do
đó dẫn đến học sinh chưa ham học, chưa thích học. Công tác phối kết hợp giữa
nhà trường và phụ huynh chưa đạt hiệu quả cao do phụ huynh chưa hợp tác. Ví
dụ: Học sinh không đi học, giáo viên vào nhà làm việc với phụ huynh, gọi học
sinh đi học, phụ huynh chỉ trả lời: không biết hoặc nó không thích học, nó thích
làm rẫy,…Học sinh có thói quen thường xuyên sử dụng tiếng mẹ đẻ, ở địa
phương tiếng phổ thông không thông dụng. Việc dạy các kĩ năng thông thường
như đọc, viết chính tả,...cho các em đã tốn nhiều thời gian. Do đó để rèn cho học
sinh kĩ năng viết văn miêu tả mang tính chất tổng hợp kiến thức, yêu cầu cao
nên học sinh rất ngại phải viết văn. Giáo viên cũng hay nản, nếu không có sự
kiên trì.
Trần Thị Tuyết Nga – Giáo viên trường Tiểu học Tình Thương

7


Kinh nghiệm rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.
Trước đặc thù của đối tượng học sinh trên địa bàn, vấn đề dạy học tiếng Việt
cho các em nói chung và dạy phân môn Tập làm văn nói riêng gặp rất nhiều khó
khăn, dẫn đến việc định hướng cho sự lựa chọn các phương pháp dạy học của
một số giáo viên còn lúng túng. Do đó sử dụng phương pháp dạy học ở một số
giáo viên còn qua loa, chưa đi vào nghiên cứu đối tượng học sinh cụ thể để lựa
chọn phương pháp dạy học phù hợp, dẫn đến hiệu quả dạy học còn chưa cao.
III. GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP:
1. Mục tiêu: Giúp học sinh
+ Có thói quen quan sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế
giới xung quanh.
+ Biết chọn lọc từ ngữ (đặc biệt là từ ngữ có biểu cảm), trình bày suy nghĩ
của mình một cách mạch lạc (sống động), thành những câu văn sáng rõ về nội
dung, có tình cảm chân thực.

2.2. Hướng dẫn học sinh nắm cấu tạo từng dạng văn miêu tả:
Với mỗi dạng văn miêu tả, để giúp học sinh biết cách viết, điều kiện cần đầu
tiên là học sinh phải biết được cấu tạo của từng dạng văn miêu tả. Bởi văn tả
cảnh, khác với văn tả người,...Thông thường trước khi vào mỗi dạng văn miêu tả
thì theo chương trình trong SGK sẽ có một bài tập đọc hay bài chính tả có nội
dung viết về văn miêu tả ở dạng này, đây là ngụ ý của SGK, giáo viên cần linh
động tích hợp giới thiệu cho học sinh làm quen dần, sẽ giúp các em bớt bỡ ngỡ
khi vào tìm hiểu dạng văn này và giúp các em học bài tốt hơn. Ví dụ: Trước khi
vào bài “Cấu tạo bài văn tả cảnh”, đầu tuần GSK đã giới thiệu bài: “Quang cảnh
làng mạc ngày mùa”,...
Để học sinh viết được bài văn miêu tả đảm bảo về cấu trúc và nội dung, giáo
viên cần hình thành và giúp học sinh nắm được cấu tạo của từng dạng văn miêu
tả. Khi dạy từng dạng cấu tạo của bài văn miêu tả của mỗi bài, ở phần nhận xét
đều có một bài văn tả tương ứng. Giáo viên cần cho học sình tìm hiểu kĩ và đưa
ra nhận xét về cấu tạo của từng dạng văn. Sau đó cho học sinh nêu cấu tạo của
dạng văn miêu tả. Nội dung này đối với học dân tộc thiểu số phải được nhắc đi
nhắc lại nhiều lần và được củng cố liên tục ở các tiết sau đó.
Ví dụ: Cấu tạo của bài văn tả cảnh
Bài văn tả cảnh thường có ba phần:
1. Mở bài:

Giới thiệu bao quát về cảnh sẽ tả.

2. Thân bài: Tả từng phần của cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời
gian.
3. Kết bài:

Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người viết.

2.3. Chọn đề tài gần gũi với học sinh.

Đề 2: Tả một người bạn mà em quý mến.
Đề 3: Tả một nghệ sỹ hài mà em yêu thích.
Đề 4: Tả một ca sĩ mà em yêu thích.
2.4. Hướng dẫn quan sát, tìm ý, bồi dưỡng vốn từ, cách dùng từ đặt
câu và dùng dấu câu cho học sinh:
a. Hướng dẫn quan sát, tìm ý:
Trong dạy học học sinh dân tộc thiểu số, muốn học sinh nắm được bài,
hiểu được bài thì trực quan là yêu cầu đầu tiên cần phải có. Bởi các em phần lớn
chỉ biết tư duy trực quan, chỉ cần lắt léo, trừu tượng một tí là rất khó khăn đối
với các em. Các em có quan sát, có nhìn thấy thì mới tìm ra được từ và hiểu
đúng nghĩa từ đó. Mặt khác, điều đặc trưng của văn miêu tả là phải trực tiếp
quan sát sự vật thì mới viết được bài văn mang sắc thái riêng, gắn với sự vật đó.
Nếu không quan sát sự vật theo yêu cầu đề bài mà các em viết thì phần lớn là
chép theo văn mẫu hoặc bắt chước người khác viết một cách máy móc.
Ví dụ: Tả về mẹ, có em viết: “Mẹ em dong dỏng cao, có nước da ngăm
ngăm đen và khuôn mặt hình trái xoan” nhưng trên thực tế thì mẹ em đó nước
da trắng và chiều cao khiêm tốn. Hay tả bạn thì bạn nào cũng khuôn mặt trái
xoan,...
Do đó chúng ta cần hướng dẫn trẻ quan sát và hình thành thói quen quan
sát vì muốn miêu tả tốt thì quan sát phải tốt và có được những nhận xét đúng để
tìm ra được sự khác biệt, nét đặc trưng của sự vật, hiện tượng để có thể phân biệt
sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác. Vai trò người giáo viên đối
với hoạt động này hết sức quan trọng, các em không biết quan sát từ đâu, tìm ý
như thế nào? Là người tổ chức hướng dẫn các em cần hướng dẫn các em dựa
Trần Thị Tuyết Nga – Giáo viên trường Tiểu học Tình Thương

10


Kinh nghiệm rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.

- Tả khuôn mặt, diện mạo: Bầu bĩnh, trẻ măng, hồng hào, đen sạm, rám
nắng, xanh xao, tái mét, xanh tái như chàm, không còn chút máu, vuông vắn,
vuông chữ điền, trái xoan, hốc hác, vô tư, đần độn, thông minh sáng sủa, khôi
ngô, khả ái, xấu xí, rỗ như tổ ong, tươi tỉnh, niềm nở, hớn hở, ủ rũ, cau có, bơ
phờ, hung tợn, ngờ nghệch khờ khạo, lầm lì, là lạ, đạo mạo, thơ ngây, nhăn
nheo, thờ thẫn, đăm chiêu, thiểu não, hiền hậu, dễ thương,…

Trần Thị Tuyết Nga – Giáo viên trường Tiểu học Tình Thương

11


Kinh nghiệm rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.
- Tả làn da: Nhăn nheo, xanh như tàu lá, bạch tạng, trắng nõn, trắng trẻo,
nõn nà, mịn màng, chai cứng, nứt nẻ, rám nắng, sần sùi, tái mét, xanh xao, xanh
lét, hồng hào, đỏ thắm, mốc thếch, đen sạm, da bánh mật, ngăm ngăm, ngăm
đen, đen đủi, trắng như trứng gà bóc…
- Tả mắt: Đen huyền, đen láy, trong sáng, u buồn, lung linh, ươn ướt, sắc
sảo, đượm buồn, thâm quầng, trắng đục, đỏ ngầu, sáng, lồi, tròn vo, xếch, một
mí, mất ốc bươu, trao tráo, ti hí, mắt bồ câu,…
- Tả cái nhìn của đôi mắt: Đăm đắm, mơ mộng, đắm đuối, dáo dác, trìu
mến, mơ màng, chòng chọc, chăm chú, ngơ ngác, hằn học,…
- Diễn tả tính cách: Nóng nảy, bạo dạn, vị tha, hời hợt,lười nhác, lì lợm,
trầm tính, đứng đắn, thật thà, ôn hoà, hiền hậu, vui vẻ, nhút nhát, nghiêm nghị,
dè dặt, siêng năng, thận trọng, lỗ mãng, bao dung, nhân hậu, khoác lác, ba hoa,
nham hiểm, xảo quyệt, tham lam, ích kỉ, ưa giễu cợt, cau có, gắt gỏng, hấp tấp,
khắt khe, láu táu, ít nói, nhã nhặn,...
- Diễn tả thái độ: Vui sướng, hớn hở, hân hoan, hả hê, thoả thích, sảng
khoái, khoái chí, vui nhộn, vui đáo để, vui mừng, đắc chí,…
b. Dùng từ đặt câu:

nhẹn, tóc ngang vai hay buộc cao, vầng trán cao. Vậy ta cần thay đổi câu văn
này như thế nào, để miêu tả bạn H Duyên toát lên được những đặc điểm đó?
Sau khi gợi ý cho học sinh nêu, tôi giúp học sinh chỉnh sửa và hoàn chỉnh
câu văn có hình ảnh cảm xúc hơn, làm nổi bật đặc điểm của bạn H Duyên: “Mái
tóc dài chấm ngang vai, luôn được bạn buộc cao như tóc đuôi gà, để lộ vầng trán
cao, toát lên vẻ thông minh, nhanh nhẹn vốn có của bạn.”
* Cách dùng từ miêu tả, liên tưởng, so sánh:
- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách dùng từ miêu tả để giúp các em
viết được câu văn sinh động hơn. Ví dụ: Khi tả hoa "nở", từ “nở” chỉ mang tính
chất thông báo, mà cần phải sử dụng từ miêu tả như: bung nở, hé nở, xòe nở,
bung cánh, hé cánh, xòe cánh,... Từ "xanh" chỉ miêu tả nhưng không gợi tả, cần
hướng dẫn học sinh dùng từ gợi tả cho màu xanh: xanh biếc, xanh lam, xanh
ngọc, xanh mướt,...Nếu giáo viên chú ý dạy tích hợp Tập làm văn vào trong Tập
đọc, Luyện từ và câu thì sẽ giảm bớt được nhiều thời gian trong cung đoạn này.
Ví dụ: Màu “vàng” được dùng từ gợi tả rất cụ thể trong bài: “Quang cảnh làng
mạc ngày mùa”- Tiếng Việt 5, tập 1, trang 10.
- Để câu văn sinh động hơn, giáo viên không chỉ hướng dẫn học sinh
cách dùng từ miêu tả mà còn phải hướng dẫn học sinh cách dùng các biện pháp
nhân hóa, so sánh mà các em đã được học, đưa vào bài để miêu tả sự vật được
sinh động hơn. Rất khó đối với các em là cách liên tưởng để tìm hình ảnh so
sánh sự vật.
Ví dụ: Tìm từ so sánh với mặt trời thì cần hướng dẫn học sinh:
+ Mặt trời có hình gì? Giống cái gì? (hình tròn giống như quả cầu)
+ Mặt trời có màu gì? Giống hình ảnh nào? (đỏ rực, giống như lửa)
Dẫn dắt học sinh đặt câu: "Mặt trời thì đỏ rực như quả cầu lửa",
Tương tự để có câu: "Mảnh trăng cong cong như lưỡi liềm"
- Đối với những học sinh khá, giỏi, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
cách sáng tạo câu văn bằng cách liên tưởng, so sánh sự vật nâng cao hơn. Ví dụ:
Khi miêu tả “Hồ nước lặng yên” thì cho học sinh so sánh với trạng thái "lặng
yên" của con người. Giáo viên có thể hỏi: Khi nào con người lặng yên? và học

khi xác định xong đề bài.
Khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý một bài văn tôi thường theo các bước
sau:
- Xác định đề bài
- Nhắc lại cấu tạo bài văn theo đề bài đã cho
- Tiến hành hướng dẫn lập dàn ý.
Ví dụ:
Đề bài: Hãy tả ngôi trường thân yêu gắn bó với em trong nhiều năm qua.
Với đối tượng học sinh như đã nêu, tôi dẫn dắt học sinh thực hiện lập dàn
ý từ hệ thống câu hỏi khá tỉ mỉ sau:
+ Đề bài yêu cầu chúng ta làm gì? (Tả ngôi trường của em)
+ Đề bài thuộc dạng văn miêu tả nào? (tả cảnh)
Trần Thị Tuyết Nga – Giáo viên trường Tiểu học Tình Thương

14


Kinh nghiệm rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.
+ Hãy nêu cấu tạo của bài văn tả cảnh? (Hs nêu)
+ Em quan sát vào thời gian nào? (buổi sáng khi học sinh chưa đến
trường, buổi chiều khi học sinh đã ra về hay trong giờ học,...)
+ Em quan sát bằng những giác quan nào? ( mắt nhìn, tai nghe các âm
thanh như tiếng giảng bài của cô, tiếng trống,...tiếng cảnh vật xung quanh như
tiếng ve kêu, chim hót,..)
+ Phần mở bài em cần giới thiệu như thế nào? (Hs nêu)
+ Phần thân bài em tả những cảnh nào của trường? ( HS nêu)
+ Phần kết bài, em nêu cảm nghĩ của mình đối với ngôi trường như thế
nào?
*Lưu ý: Các em có thể tả cảnh trường vào một thời điểm nhất định hoặc
theo thứ tự thời gian trong ngày như sáng đến chiều hay theo mùa. Khi quan sát,

phải là thư viện,...
*Kết bài:
+ Em rất yêu quý và tự hào về trường em
+ Dù sau này đi xa em vẫn luôn nhớ mãi hình ảnh mái trường thân yêu
của em.
Tiếp theo, tôi cho học sinh chọn và viết hoàn chỉnh một đoạn văn phần
thân bài, tổ chức nhận xét, sửa chữa hoàn chỉnh.
2.6. Xây dựng mở bài và kết bài:
a. Xây dựng mở bài:
Mở bài là phần có vai trò hết sức quan trọng trong mỗi bài văn. Nó thu
hút người đọc, người nghe chú ý,tập trung vào bài ngay đầu bài. Có hai cách mở
bài: mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp. Mở bài trực tiếp thì mọi đối tượng học
sinh đều có thể thực hiện được. Riêng mở bài gián tiếp ( không bắt buộc) nhưng
giáo viên khuyến khích học sinh sử dụng khi làm bài, giúp các em có được bài
văn hay hơn, hấp dẫn người nghe hơn.
Để giúp học sinh có cách mở bài và kết bài phong phú, đa dạng. Trước
hết người giáo viên phải giúp học sinh hiểu Thế nào là mở bài trực tiếp, gián
tiếp?
+ Mở bài trực tiếp: Là giới thiệu trực tiếp sự vật mình định tả
+ Mở bài gián tiếp: Nói chuyện khác để dẫn vào chuyện (có thể bằng cách
đưa ra một mẩu chuyện, một so sánh, một liên tưởng, một câu văn thơ, một âm
thanh,... để đi đến điều mình cần giới thiệu).
Ví dụ: Mở bài gián tiếp
Có nhiều cách mở bài để thu hút người đọc, người nghe, chẳng hạn các
cách mở bài sau:
“ Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn thương con.”
Ôi! Tình mẹ yêu con chỉ có thể so sánh với biển nước mênh mông. Mẹ!
Người em yêu nhất trên đời. (mở bài bằng câu thơ)
b. Hướng dẫn học sinh xây dựng kết bài: Cũng như mở bài, kết bài

đoạn, mỗi đoạn diễn tả một nội dung chính. Ví dụ: Tả con vật thì có đoạn tả hình
dáng, đoạn tả thói quen sinh hoạt,...)
+ Kết bài có mấy cách? Nêu từng cách kết bài?
* Lưu ý học sinh: Sau mỗi phần hay mỗi đoạn cần phải xuống dòng (một
số em thường hay viết liền mạch). Đầu đoạn phải lùi vào một ô và viết hoa.
Trong khi học sinh làm bài, giáo viên hướng dẫn học sinh bám sát dàn ý
đã lập để viết. Giáo viên theo dõi giúp đỡ học sinh, đặc biệt là những học sinh
yếu.
2.8. Nhận xét bài viết của học sinh:

Trần Thị Tuyết Nga – Giáo viên trường Tiểu học Tình Thương

17


Kinh nghiệm rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.
Mỗi bài văn học sinh viết được, kết hợp với cách đánh giá của giáo viên
đúng cách sẽ giúp các em trưởng thành trong nhận thức, trong cách suy nghĩ. Do
đó, tôi thường nhận xét bài rất tỉ mỉ sau mỗi bài học sinh viết, sửa sai trực tiếp
về lỗi chính tả, gạch chân dưới những câu, từ học sinh đặt chưa đúng và nhận
xét cụ thể để giúp các em chữa bài trong tiết trả bài. Những góp ý nhẹ nhàng, chi
tiết hay những lời khen của giáo viên như một định hướng giúp học sinh hoàn
thiện bài viết hơn.
2.9. Tiết trả bài
Trong tiết trả bài, giáo viên cần nhận xét rõ ưu, khuyết điểm chung. Luôn
đưa ra những ưu điểm cụ thể sau dó mới nhận xét những sai sót, tồn tại của học
sinh về lỗi chính tả, bố cục, cách dùng từ, đặt câu, cách diễn đạt. Sau đó, cho
học sinh sửa bài theo nhóm hoặc cá nhân, gọi một vài học sinh nêu lỗi vấp phải
và cách sửa của mình hay của nhóm, lớp góp ý, giáo viên chốt lại câu văn như
thế nào là hay, là đúng. Cuối cùng giáo viên đọc những đoạn văn hay, bài văn

rõ rệt. Đa số học sinh xác định đúng đề, làm bài đảm bảo về cấu trúc, trong đó
có một số bài giàu hình ảnh, cảm xúc, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc như các bài văn
của các em: H Duyên, h Ruyn Niê, H Như, H Diệp, …. Các em tự tin hơn trong
giao tiếp. Qua kiểm tra chất lượng, kết quả cụ thể như sau:
Lớp

5a1

Năm học

2015- 2016

Thời điểm

Cuối HK1

Hoàn thành
TS

16

SL

%

16

100,0

Chưa hoàn

Trần Thị Tuyết Nga – Giáo viên trường Tiểu học Tình Thương

19


Kinh nghiệm rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 5.
bài nữa. Vì thế, giáo viên không nên nặng lời to tiếng hay cáu gắt với các em,
ngược lại cần phải động viên khích lệ và khen thật nhiều dù chỉ là sự tiến bộ
nhỏ, mới giúp các em hứng thú trong học tập và tiếp thu bài tốt.
- Đọc sách báo thường xuyên để có thêm vốn ngôn ngữ trong cuộc sống, bồi
dưỡng khả năng cảm thụ văn và cảm xúa khi viết văn để đưa vào giảng giải giúp
học sinh dễ hiểu bài.
- Phải tạo được thói quen tự giác học tập, chuẩn bị bài ở nhà, đọc bài và tự tìm
hiểu nội dung, quan sát thế giới xung quanh.
- Tăng cường mượn sách, báo cho học sinh đọc thêm sách, báo, truyện,...hoặc
nhắc nhở các em lên thư viện đọc sách để giúp các em hiểu biết thêm về cuộc
sống quanh em, từ đó tự tin để bộc lộ của mình, nâng cao khả năng nói, viết .
2. Kiến nghị
- Giáo viên các lớp dưới, cần chú ý rèn các kĩ năng viết văn cho học sinh.
- Cần tăng thêm thời lượng dạy Tiếng việt, giảm bớt thời lượng dạy tiếng
Ê- đê cũng như các môn công cụ khác.
Trên đây là một vài kinh nghiệm về “Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học
sinh dân tộc tiểu số vùng khó khăn lớp 5” tôi đã thực hiện. Tôi sẽ tiếp tục áp
dụng đề tài, rà soát lại, bổ sung thêm để hoàn thiện hơn, từ đó nâng cao chất
lượng đồng bộ cho các em, chuẩn bị tốt cho các em hành trang để học tốt kiến
thức ở lớp trên. Chắc chắn đề tài vẫn còn nhiều hạn chế, kính mong được sự góp
ý chân thành từ Ban giám khảo, các cấp quản lí và đồng nghiệp để đề tài này áp
dụng có hiệu quả cao hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!./.

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

Hướng dẫn dạy học các môn học cho các vùng,
miền

Bộ giáo dục và đào
tạo

(Ban hành kèm theo công văn số 7580/GDTH)

2

Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.

Nguyễn Quý Thành,
trường Đại học Quy
Nhơn, năm 2010.

3

Sách giáo viên Tiếng Việt 4, lớp 5 - Tập 1, Tập
2

Nhà xuất bản GD,
năm
2008

4

Tăng cường tiếng Việt cho học sinh có hoàn
cảnh khó khăn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status