1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khi đời sống kinh tế xã hội của con người ngày càng được
nâng cao và phát triển, vấn đề chăm sóc sức khoẻ con người ngày càng được
quan tâm chú ý. Các ứng dụng khoa học hiện đại trong y học đã giúp phát
hiện, chế tạo nhiều loại thuốc đặc trị những căn bệnh trước kia được xem là
bệnh nan y. Không chỉ dừng lại ở chữa trị, người ta còn đi sâu tìm hiểu
nguyên nhân, cơ chế của bệnh để đưa ra phương pháp điều trị tối ưu. Một
trong những nguyên nhân chính gây ra một số bệnh nguy hiểm ở người, động
vật và thực vật đó là các vi sinh vật.
Hiện nay, chúng ta đã sản xuất trên quy mô công nghiệp rất nhiều loại
kháng sinh tổng hợp cho hiệu quả chữa trị cao đối với các bệnh do vi sinh vật
gây ra. Nhưng, sự lạm dụng kháng sinh tổng hợp lại làm gia tăng khả năng đề
kháng kháng sinh của vi sinh vật. Số kháng sinh mới mà chúng ta đưa vào để
khắc phục vấn đề này còn hạn chế. Do đó, việc phát hiện ra các hợp chất
kháng khuẩn mới có nguồn gốc từ tự nhiên trở thành một hướng nghiên cứu
rất đáng quan tâm. Mặt khác, việc sử dụng các loại thuốc hoá học đang gây ra
các vấn đề về môi trường, về đột biến, về bảo vệ nguồn gen tự nhiên. Rất
nhiều người quan ngại trong việc sử dụng các tác nhân vật lý, hoá học nhân
tạo trong việc chăm sóc sức khoẻ. Người ta bắt đầu hướng đến những sản
phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, đặc biệt là các chất chiết xuất từ thực vật.
Từ lâu, nhiều hợp chất tự nhiên từ thực vật đã được sử dụng theo kinh
nghiệm dân gian để điều trị bệnh rất có hiệu quả như tinh dầu gừng, bạc hà,
quế…. Ngày nay, với sự phát triển của Thực vật học, Hoá học, Dược học,
việc xác định các hoạt chất trong cây cỏ dùng làm thuốc đã chứng minh sự
hiệu nghiệm của những kinh nghiệm chữa bệnh dân gian, lấy ánh sáng khoa
2
học hiện đại làm sáng tỏ thực nghiệm khoa học lâu đời của nhân dân [7].
Bằng khoa học thực nghiệm, người ta chỉ ra rằng một số hợp chất trong cây
3.1. Đưa ra quy trình chiết, tách các phân đoạn các mẫu lá của 4 loài
thực vật: Ba chạc (Euodia lepta (Spreng) Merr.); Ba đậu (Croton tiglium L.);
Bạc thau (Argyreia acuta Lour.); Khổ sâm (Croton tonkinensis Gragnep.).
3.2. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của các mẫu.
3.3. Khảo sát thành phần hoá học của các phân đoạn dịch chiết các mẫu
thực vật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng
4.1.1.Mẫu thực vật
Bốn loài thực vật: Ba chạc (Euodia lepta (Spreng) Merr.); Ba đậu
(Croton tiglium L.); Bạc thau (Argyreia acuta Lour.); Khổ sâm (Croton
tonkinensis Gragnep.).
4.1.2.Mẫu vi sinh vật
Các vi sinh vật thuộc một số chủng vi sinh vật kiểm định do phòng thí
nghiệm bộ môn Vi sinh vật trường ĐHKHTN, Đại học Quốc gia Hà Nội và
Viện vệ sinh dịch tễ TW Hà Nội cung cấp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của một số phân đoạn dịch chiết
(cao ethanol, phân đoạn n-hexan, phân đoạn chlorofom, phân đoạn
4
ethylacetate) từ 4 mẫu lá cây trên mô hình nuôi cấy vi sinh vật kiểm định
trong phòng thí nghiệm.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn
Nuôi cấy vi sinh vật trong môi trường thạch đĩa đánh giá hoạt tính
kháng khuẩn.
5.2. Khảo sát thành phần hoá học của 4 mẫu lá cây
Định tính thành phần hoá học của 4 mẫu lá bằng các phản ứng hoá học
đặc trưng.
5.3. Định lượng một số hợp chất tự nhiên trong các mẫu lá thực vật
chất kháng khuẩn: trinh nữ hoàng cung (chứa lycorin), chè xanh, bạc hà,
hành, tỏi, mùi tây…[28].
1.1.2. Nguồn cây thuốc Việt Nam
Việc sử dụng cây thuốc ở Việt Nam đã có từ rất lâu đời. Từ thực tiễn và
những kinh nghiệm học hỏi từ đông y Trung Quốc đến nay chúng ta biết và
6
sử dụng rất nhiều các loại cây thuốc. Chúng không chỉ chữa các bệnh thông
thường như cảm mạo, sát khuẩn nhiễm trùng mà còn sử dụng trong điều trị
những bệnh nguy hiểm như ung thư, tim mạch,…
Nước ta - một quốc gia có hệ khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm là
điều kiện rất tốt cho sự phát triển của hệ thực vật vô cùng đa dạng và phong
phú. Với khoảng 11.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài
nấm và trên 2.000 loài tảo tạo nên một nguồn nguyên liệu phong phú cho
khoa học Đông y [27]. Nguồn thực vật này đã được cha ông ta khai thác và
chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian từ ngàn xưa.
1.1.3. Tình hình sử dụng và nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam
Đến nay, các nghiên cứu về cây thuốc đã xác định ở Việt Nam có hơn
3.800 loài thực vật và nấm được dùng làm thuốc. Cây thuốc nam có thể chữa
từ những bệnh đơn giản thường gặp đến các bệnh hiểm nghèo thậm chí như
bệnh ung thư, đái tháo đường. Trên thực tế, nhiều bệnh nhân đã được chữa
khỏi những căn bệnh này nhờ sử dụng thuốc nam.
Ở nước ta, khi khoa học về dược liệu và dược phẩm chưa phát triển
mạnh, việc sử dụng thuốc đều dựa vào kinh nghiệm cha truyền con nối và
kinh nghiệm dân gian. Những năm gần đây, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của
con người ngày càng cao thúc đẩy khoa học ứng dụng ngày càng phát triển
đặc biệt là khoa học về thuốc. Trên thế giới, người ta đã tiến hành những
nghiên cứu rất sâu về các hợp chất tự nhiên có khả năng chữa bệnh hiểm
nghèo. Ở Việt Nam, những nghiên cứu về cây thuốc bản xứ cũng đang được
thực hiện và ngày càng phát triển. Hiện nay, chúng ta đã và đang tiến hành
chiết xuất các hợp chất tự nhiên từ nhiều loài thực vật, nghiên cứu tác dụng
thừa trong quá trình trao đổi chất. Nhưng sau nhiều công trình đi sâu nghiên
cứu, người ta đã phát hiện và có những khẳng định mới về vai trò của hợp
chất thứ sinh. Khác với các chất trao đổi bậc nhất, hợp chất thực vật thứ sinh
không phải là yếu tố đặc biệt cần thiết cho quá trình sinh trưởng, phát triển,
quang hợp và sinh sản [50]. Chúng được tạo ra trong những tế bào chuyên
biệt với vai trò điều hoà mối quan hệ qua lại giữa các tế bào trong cơ thể.
Đồng thời chúng là các hợp chất phòng thủ giúp thực vật chống lại các tác
nhân gây bệnh xâm nhiễm thực vật từ môi trường xung quanh [41].
Cơ chế bảo vệ của hợp chất thứ sinh được thể hiện rất đa dạng. Chúng
tạo ra chất độc tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hệ thần kinh, làm rối loạn
hệ thống trao đổi chất của các vi sinh vật gây bệnh (như các phytoalexin).
Một số khác lại có mùi, vị khó chịu (đắng, chát, cay, hôi…). Các hợp chất
thuộc nhóm terpen gây độc đối với bọ cánh cứng ăn vỏ, ngăn cản sự phát triển
của sâu bướm. Tannin, polyphenol, alkanoid, flavonoid được coi là chất đề
kháng bệnh tật ở thực vật, gây độc cho các loại nấm gây bệnh, ức chế sự sinh
trưởng và phát triển của nhiều vi sinh vật. Chất màu cũng có vai trò khá quan
trọng. Thực vật sử dụng chất này không chỉ để hấp dẫn động vật và côn trùng
thụ phấn mà còn bảo vệ các mô khỏi bị tổn thương bởi tác dụng của tia tử
ngoại, quá trình ion hoá hay quá trình đột biến. Vì vậy, ở một khía cạnh nào
đó có thể coi hợp chất thứ sinh này là những chất có hoạt tính sinh học.
Với sự phát triển của khoa học hiện đại, số lượng hợp chất thứ sinh
được tìm ra ngày càng nhiều. Người ta tiến hành phân loại chúng dựa trên
nhiều tiêu chuẩn khác nhau. Dựa vào bản chất hoá học chia hợp chất thứ sinh
thành các hợp chất phenolic, flavonoid, alkanoid, coumanrin, glycosid, Dựa
vào lịch sử phát hiện và sử dụng, các hợp chất thứ sinh được chia thành 4
nhóm chính [12].
9
- Terpen (gồm isoprenoid, terpenoid, carotenoid,).
- Glycosid (gồm glycosid trợ tim,…).
- Các phenylpropanoid (gồm flavonoid, tanin, lignin,…).
*
- caroten
β-caroten được chiết suất từ củ cà rốt năm 1910. Đến nay, người ta còn
phát hiện rất nhiều các đồng phân khác của - caroten và tác dụng của chúng
trong điều trị bệnh.
- caroten có tác dụng như tiền vitamin A cần thiết cho sự phát triển
cơ thể, tham gia sự tạo mô, da niêm mạc, võng mạc mắt, làm tăng sức đề
kháng của cơ thể chống lại sự nhiễm khuẩn. Nó còn giúp bảo vệ chống lại ung
thư biểu mô, - caroten có khả năng tạo máu nên thường được dùng kết hợp
với sắt protoxalat [37].
*Lycopen
Lycopen là tên gọi bắt nguồn từ tên phân loại của cây cà chua Solanum
lycopersicum được dùng để tách ra nó năm 1910 bởi Willtatter và Escher.
Đây là tên thường của , -caroten, một caroten điển hình thuộc phân lớp
hydrocarotennoid.
Công thức hoá học của lycopen là C
40
H
56
được xác định năm 1928.
Phân tử có cấu trúc mạch hở, đối xứng có 13 liên kết đôi liên hợp.
Trong thực vật, lycopen tồn tại ở dạng cấu hình trans – trạng thái bền
nhiệt. Trong huyết tương người lycopen tồn tại trong hỗn hợp đồng phân chứa
50% dạng cis. Lycopen có khả năng làm ngừng quá trình oxi hoá một cách
đơn giản, bẫy peroxit một cách triệt để, ức chế quá trình oxi hoá ADN,
peroxit hoá lipit và oxi hoá lipoprotein khối lượng nhỏ. Do đó, lycopen chiết
11
suất từ cây cà chua có khả năng làm giảm ung thư tuyến tiền liệt và ung thư
+ Dẫn xuất của acid benzoic (C
6
– C
1
): cấu trúc phân tử chứa vòng
benzen có thêm nhóm carboxyl. Chúng tồn tại phổ biến ở dạng tự do, cũng có
ở dạng kết hợp với esther (như acid salicylic) hay glycosid. Một số dẫn xuất
như acid procatechin, acid galic dạng tự do và dạng esther là thành phần cấu
tạo nên catechin và tannin.Chúng thường gặp ở hạt nảy mầm.
Gallic acid Procatechuic acid
Hình 1.1. Cấu trúc một số polyphenolic điển hình
+ Dẫn xuất của acid cinnamic (C
6
– C
3
): gồm acid p–coumaric, acid
caffeic, ferulic…rất phổ biến trong tự nhiên, một số acid khác như acid o –
coumaric, o – ferulic ít gặp hơn. Các acid phenolic được giải phóng khi thuỷ
phân dịch chiết của cây trong môi trường acid và được tách chiết bằng dung
môi ether.
+ Nhóm đa vòng – Flavonoid (C
6
– C
3
– C
6
): cấu trúc gồm hai vòng
benzen và một vòng pyran. Nhóm này đa dạng và phổ biến trong thực vật, có
vai trò sinh lý quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây.
là nhóm hợp chất quan trọng nhất có nhiều ứng dụng nổi trội về hoạt tính sinh
học.
1.2.2.3. Flavonoid (C
6
– C
3
– C
6
)
Flavonoid là một trong những nhóm chất phenol phức tạp thường gặp
trong thực vật. Flavonoid có cấu trúc đa dạng và nhiều tác dụng sinh học đã
được nghiên cứu và kiểm nghiệm. Chúng có ở hầu hết các bộ phận của cây,
đặc biệt trong các tế bào thực vật quang hợp. Đó là những sắc tố có màu vàng,
tan trong nước nên gọi là “Flavonoid” (flavus: vàng). Một số sắc tố khác như
xanh, tím, đỏ cũng thuộc nhóm này. Chúng bao gồm nhiều loại trong đó hợp
chất điển hình nhất là biflavon, ngoài ra còn có flavon, flavonol và
flavanonol.
Đến nay, hơn 4000 flavonoid đã được tìm thấy từ các loài thực vật. Ban
đầu chúng được phát hiện với vai trò chỉ là sắc tố của thực vật vào mùa thu
khi các loại hoa, lá, cây chuyển sang màu vàng, da cam, đỏ. Sau này, các
flavonoid được phát hiện thấy trong quả, hạt, thân cây, chè, rượu vang
đỏ…Chúng là các thành phần nổi bật nhất trong các giống quả cam, quýt và
phổ biến trong thức ăn của con người [5].
Phân tử flavonoid có cấu trúc monomer, dimer, hay oligomer cao hơn. 9
10
8
5
(C). Trong đó vòng A kết hợp với vòng C tạo
thành khung chroman.
Trong cây, flavonoid tồn tại dưới hai dạng: dạng tự do (aglycon) và
dạng liên kết với đường (glycosid). Các glycosid khi thuỷ phân trong môi
trường acid hoặc enzyme sẽ giải phóng ra đường và aglycon. Trong tự nhiên
trừ catechin và leucoantocyanidin (flavan – 3,4 diol), phần lớn các flavonoid
đều tồn tại ở hai dạng glycosid: O – glycosid và C – glycosid.
Cyanidin
Epicatechin QuercetinOH
O
OH
Glucose
O
OH
OH
O - Rhamnose - glucose
thuộc vào đặc điểm cấu tạo hoá học của từng flavonoide cụ thể [33].
- Tác dụng đối với ung thư.
Một số flavonoid khi tiếp xúc với tế bào khối u thấy có tác dụng trị liệu
dựa trên các cơ chế thường thấy:
+ Kìm hãm hoạt tính enzyme oxy hoá – khử.
17
+ Kìm hãm quá trình hô hấp của tế bào ung thư.
+ Kìm hãm hoạt động giảm phân.
+ Kìm hãm trao đổi chất trong tế bào.
Các cơ chế này cũng diễn ra khi các flavonoid tiếp xúc với các tế bào vi
sinh vật gây bệnh.
- Tác dụng với enzyme.
Nhóm OH của flavonoid phản ứng với nhóm cacboxyl (COOH) của các
peptide tạo thành liên kết hydro. Nhờ đó, flavonoid tương tác với các enzyme
và làm thay đổi hoạt tính của nhiều enzyme trong hệ thống sinh học, đặc biệt
là hệ enzyme màng tế bào. Do đó, các flavonoid có khả năng gây bất hoạt hệ
thống enzyme màng tế bào vi khuẩn. Kết quả là ức chế quá trình sinh trưởng
và phát triển của vi khuẩn.
- Tác dụng đối với chuyển hoá và trên lâm sàng [4].
Các flavonoid có tác dụng sâu sắc lên chức năng của tế bào miễn dịch
và tế bào viêm. Gay (1998) đã chỉ ra rằng quercetin có thể sử dụng để điều trị
hen suyễn và tốt cho bệnh nhân tiểu đường và nhiễm HIV. Flavonoid baicalin
trong các nghiên cứu gần đây cho thấy hoạt tính chống viêm và chống HIV
theo cơ chế gây cản trở sự tương tác giữa protein vỏ của HIV với các recepter
và ngăn chặn HIV tấn công vào tế bào đích.
1.2.2.4. Tannin
Tannin (chất chát) là các polyphenol được cấu tạo dựa trên cấu tạo của
acid tannic và acid gallic, tan tốt trong nước và phản ứng được với protein
(nguyên nhân gây ra tính làm se của một số loại cây sử dụng làm thuộc da).
Chúng phổ biến trong giới thực vật.
đôi khi là glucose – glucose hoặc glucose – xylose. Phân tử chứa vòng lacton
dễ mở vòng tạo muối tan trong nước khi tác dụng với dung dịch kiềm.
O
O
OH
CH
3
O
O
O
O
O
OH
O
O
OH
O
OH
O
Coumarin
4-hydroxycoumarin
Wafarin
Bishydroxycoumarin
Hình 1.4 Khung cấu trúc của Coumarin và các dẫn xuất của nó
19
*Tác dụng
Tác dụng dược lý chủ yếu là chống viêm, kháng khuẩn và nấm. Ngoài
ra một số khác có tác dụng chống sốt rét (daphnetin, dentatin và clausarin),
trúc dị vòng chứa nitơ, có tính bazơ có trong một số loài thực vật nhất định,
đôi khi có cả trong động vật. Alkaloid có nghĩa là giống như (oid) chất kiềm
(alcali).
Nguyên tử nitơ trong alkaloid có thể là một phần, hoặc không phải là
một phần của hệ thống dị vòng. Chúng có cấu trúc phân tử phức tạp, có hoạt
tính Sinh-dược rõ rệt và phân bố hạn chế trong giới thực vật 42. Hiện nay đã
có hơn 12000 loại alkaloid khác nhau được phân lập. Trong cây, alkaloid tồn
tại dưới 3 dạng: dạng tự do, dạng muối của các axit phổ biến như citric, lactic,
oxalic, axetic, malic…và dạng oxit nitơ. Alkaloid không phổ biến ở tất cả các
loài thực vật mà chỉ tập trung ở một số ít loài. Chúng chủ yếu được tìm thấy
trong các loài thực vật có hoa, nhưng chỉ có khoảng 20% số loài thực vật có
hoa là có thể sản sinh ra alkaloid. Đa số alkaloid không có mùi, vị đắng, một
số ít có vị cay, ở dạng chất rắn có màu trắng, trừ một vài chất có màu vàng
(berberin, palmatin). Về vai trò sinh học, các alkaloid được coi là một trong
những “hàng rào phòng thủ hoá học hữu hiệu” bảo vệ cây trước sự tấn công
của vi sinh vật gây bệnh và các loại côn trùng, sâu bệnh ăn lá 43. Về y học,
alkaloid được sử dụng rất đa dạng: làm thuốc gây ức chế, hoặc kích thích hệ
thần kinh trung ương, dùng làm thuốc điều hoà huyết áp, chữa loạn nhịp tim,
thuốc diệt ký sinh trùng, kháng khuẩn, thuốc chống ung thư và nhiều tác dụng
quan trọng khác. Dưới đây là 3 dạng alkaloid điển hình:
21
N
N
N
N
CH
3
CH
3
O
khả năng chống lại mọi vi sinh vật. Mỗi kháng sinh có thành phần, cấu tạo
hoá học, tính chất, đặc tính và cơ chế tác dụng riêng biệt tác động đặc hiệu lên
một vài vi sinh vật. Do đó, mỗi một loại kháng sinh chỉ có tác dụng với một
nhóm vi sinh vật nhất định. Đó là tính chọn lọc của kháng sinh [1]. Chính vì
vậy một số vi sinh vật gây bệnh sau quá trình tiếp xúc lâu dài với kháng sinh
22
đặc hiệu đã hình thành tính đề kháng kháng sinh. Và những vấn đề mới về
kháng sinh lại được đưa ra. Người ta hướng đến những chất kháng sinh có
nguồn gốc thực vật.
1.3.2. Chất kháng sinh có nguồn gốc thực vật
Khái niệm chất kháng sinh thực vật chỉ mới xuất hiện gần đây. Năm
1973, Ingham là người đầu tiên đưa ra định nghĩa kháng sinh thực vật
“phytoalexin”. Phytoalexin là các chất kháng khuẩn hình thành trong cơ thể
thực vật thông qua một chuỗi liên tiếp các quá trình chuyển hoá trước những
biến đổi sinh lý học để phản ứng lại với điều kiện môi trường nhằm thích nghi
với điều kiện sống tốt hơn hoặc chống lại sự tấn công của các vi sinh vật gây
bệnh.
Phytoalexin được tìm thấy dưới nhiều dạng có bản chất hoá học khác
nhau như: alkaloid, flavonoid, glycosid, terpenoid…[19]. Chúng được sản
xuất bởi cơ thể thực vật như là các chất độc với các sinh vật tấn công chúng.
Cơ chế tác động của các phytoalexin tương tự như cơ chế tác động của các
chất kháng sinh. Chúng có khả năng phá vỡ thành tế bào, làm trì hoãn quá
trình sinh trưởng, phá vỡ quá trình trao đổi chất của các sinh vật có hại. Kết
quả là các phytoalexin ức chế sự sinh
trưởng, phát triển hoặc gây độc cho tế bào
vi sinh vật gây bệnh.
Những năm gần đây, người ta đã
phân lập được nhiều phytoalexin có khả
năng chống lại các tổn thương tới thực vật.
Một ví dụ tiêu biểu là Allixin (3-hydroxy-
23
pyrone đã được phân lập đầu tiên từ tỏi. Alixin là một sản phẩm được sản
xuất bởi thực vật khi phản ứng với các stress liên tiếp. Hợp chất này có nhiều
hoạt tính sinh học như chống oxi hoá, chống vi khuẩn, chống sự tăng sinh của
khối u, ức chế quá trình hình thành ung thư da, ức chế quá trình liên kết của
aflatoxin B2 với ADN. Chính vì vậy, allixin hoặc các dẫn xuất của nó có thể
là một tác nhân tiềm tàng trong việc chữa trị bệnh ung thư và các bệnh khác
[34].
Trong lịch sử y học dân gian, nhiều phytoalexin được sử dụng để chống
lại các tác nhân bệnh lý vi sinh vật một cách hiệu quả như: emetine, quinin,
berberine…Ngày nay, việc tìm ra bản chất của các hợp chất tự nhiên (là các
alkaliod, flavonoid, glycosid, indole alkaloid, biflavonoid ) hứa hẹn những
phương thuốc đặc trị cho những bệnh do vi sinh vật gây nên, thậm chí cả
AIDS [38].
Các phenolic trong thực vật trong đó có flavonoid là các chất thứ sinh
được nghiên cứu sâu rộng và phổ biến nhất. Trong dịch chiết từ hầu hết các
bộ phận của cây đều chứa loại hợp chất này. Chúng có tiềm năng kháng
khuẩn rất lớn. Một đại diện điển hình trong số đó là quinon. Khả năng kháng
vi sinh vật của hợp chất tự nhiên này đã được nghiên cứu và chứng minh. Nó
tác dụng lên vi sinh vật dựa trên cơ chế tác động lên bề mặt tế bào, phá hủy
lớp vỏ peptidoglycol hoặc phá huỷ hệ thống enzyme màng và làm vi sinh vật
chết. Các hydrophenolic và các phenolic loại hydroxylcianic như caffeic acid,
ferulic acid, coumaric acid…có khả năng ức chế sự sinh trưởng của các chủng
vi khuẩn Staphylococcus aureus, Salmonela typhi, Bacillus subtilis,
E.coli…Các polyphenolic như Tannin có thể ức chế cả một số liên cầu khuẩn
Streptococcus, Listeria monocytogenens,…Các hydroxylatephenol như
catechol và pyrogallon không ức chế mà gây độc cho vi sinh vật. Thực vật
thuộc họ Lamiaceae chứa rosmaric acid kháng khuẩn rất tốt theo cơ chế tác
24
dụng lên hệ thống enzyme màng của vi sinh vật [36]…Ở nhiều họ thực vật
Hình 2.1. Cây Ba chạc
(Euodia lepta Spreng Merr)