Đánh giá việc ứng dụng phong thủy trong việc xây dựng bố trí công trình nhà ở nội đô tại thành phố Hà Giang. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


NGUYỄN ANH PHONG
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ VIỆC ỨNG DỤNG PHONG THỦY TRONG VIỆC
XÂY DỰNG BỐ TRÍ CÔNG TRÌNH NHÀ Ở NỘI ĐÔ
TẠI THÀNH PHỐ HÀ GIANG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Liên thông chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khoa : Quản lý tài nguyên
Khoá học : 2012 - 2014

Hệ đào tạo : Liên thông chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khoa : Quản lý tài nguyên
Khoá học : 2012 - 2014

Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Thế Đặng
Khoa Quản lý tài nguyên - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2014
MỤC LỤC Trang
PHẦN 1
:
MỞ ĐẦU
1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 1
1.3. Yêu cầu của đề tài 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2

2.4. Ứng dụng của Phong thủy trong xây dựng 21
2.4.1. Tìm hiểu mối quan hệ giữa nhà ở với sơn thủy 21
2.4.1.1. Nhà dựa vào núi 21
2.4.1.2. Những điều cần chú ý khi xây nhà dựa vào núi 22
2.4.1.3. Bàn về tốt xấu của nước đối với nhà ở 22
2.4.2. Tìm hiểu về phương hướng của nhà 23
2.4.3. Cách chọn một nhà đẹp theo Phong thủy 24
2.4.4. Cách chọn hướng cho cửa chính 26
2.4.5. Cách chọn và bố trí cửa ra vào theo Phong thủy 28
PHẦN 3
:
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
29
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 29
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 29
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 29
3.3. Nội dung nghiên cứu 29
3.4. Phương pháp nghiên cứu Phần này cần chi tiết hơn! 29
3.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu 29
3.4.2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 30
PHẦN 4
:
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
32
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 32
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 32
4.1.1.1. Vị trí địa lý 32
4.1.1.2. Địa hình, địa mạo 32
4.1.1.3. Khí hậu 33

4.3.4.4 Bố trí nhà bếp tọa hung hướng cát 54
4.4. Tìm hiểu một số công trình nhà ở được thiết kế và sử dụng có vận dụng kiến
thức khoa học phong thủy 55
4.4.1. Công trình xây dựng nhà ông Nguyễn Quốc Lương 57
4.4.2. Công trình xây dựng nhà ông Hoàng Văn Bình. 62
4.4.3. Công trình xây dựng nhà ông Phạm Bình Long 67
4.4.4. Công trình xây dựng nhà ông Nguyễn Bá Tuấn. 72
4.4.5. Công trình xây dựng nhà ông Sèn Văn Ly 75
PHẦN 5:

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
78
5.1. Kết luận 78
5.2. Đề nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 4.1. So sánh quá trình tăng trưởng kinh tế trên địa bàn 33
Bảng 4.2. Quá trình sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Giang tỉnh Hà Giang từ
năm 2009 - 2013 34
Bảng 4.3. Thống kê 20 hộ dân nhà ở trục Lê Văn Tám 56

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 2.1: Ngũ Hành 6
Hình 4.1: Bản đồ địa giới hành chính thành phố Hà Giang 32
Hình 4.2: Cung Kiền (Càn), cung Khảm phối hợp cát hung 41

chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá việc ứng dụng phong thủy trong
việc xây dựng bố trí công trình nhà ở nội đô tại thành phố Hà Giang”.
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Khái quát được những lý luận cơ bản của Phong thủy áp dụng trong xây
dựng nhà ở và bố trí nội thất.
- Đánh giá được việc áp dụng Phong thủy trong bố trí nhà ở nội đô và bố trí
nội thất hợp Phong thủy.
2
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Thu thập các tài liệu nghiên cứu về khoa học phong thủy.
- Nắm bắt được một số quy luật cơ bản của phong thủy trong xây dựng nhà
ở, công trình kiến trúc.
- Xác định rõ ảnh hưởng của việc xây dựng công trình nhà ở nội đô theo
phong thủy
- Ứng dụng Phong thủy trong xây dựng nhà ở nội đô
- Ứng dụng Phong thủy trong cách bài trí nội thất ngoại thất
- Đưa ra được một số công trình trong thực tiễn có vận dụng khoa học phong thủy.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: giúp sinh viên củng cố được những
kiến thức đã học trong nhà trường cà bước đầu tiếp cận với phương pháp nghiên cứu
khoa học.
- Ý nghĩa trong thực tiễn: hiểu được bản chất của khoa học phong thủy và
ứng dụng khoa học phong thủy trong thực tiễn.


hỗ trợ, có tác dụng cải biến chứ không làm thay đổi hoàn toàn vận mệnh.
Nhưng nếu chỉ hiểu như vậy thì quả là chưa đánh giá đúng cái chân giá trị và
vai trò của Phong thuỷ trong đời sống con người! Lịch sử hình thành các dân tộc
phương Đông có khoảng trên dưới năm ngàn năm thì cũng gần hết chiều dài lịch sử
đó đã thấy có sự xuất hiện của Khoa Phong thuỷ. Những văn bản cổ xưa nhất đã ghi
dấu lại bằng giáp cốt văn (chữ nòng nọc - Khoa đẩu) sau khi giải mã đã cho thấy rõ
điều này.
4
Trên thực tế, phong thủy học chính là môn khoa học tự nhiên tổng hợp nhiều
ngành như địa lý, địa chất, khí tượng học, cảnh quan học, kiến trúc học, sinh thái
học và nhân thể học. Tôn chỉ của nó là khảo sát, tìm hiểu kĩ càng về môi trường tự
nhiên, thuận theo tự nhiên, sử dụng và cải tạo tự nhiên hợp lý, tạo ra môi trường
sinh sống tốt, được thiên thời, địa lợi, nhân hòa.
2.1.2. Nguồn gốc ra đời của khoa học phong thủy
Nguồn gốc phong thủy bí ẩn như chính tên gọi của nó. Thực ra cũng khó có
thể xác định chắc chắn rằng phong thủy xuất hiện từ bao giờ. Có lẽ là ngay từ khi
con người xuất hiện trên trái đất thì họ đã có tư duy về phong thủy. Tất nhiên vào
những thời kỳ còn nguyên thủy thì khái niệm phong thủy còn rất manh nha nhưng
chắc chắn con người đã tìm mọi cách để có thể thích ứng với thiên nhiên và mục
đích hòa hợp với tự nhiên vẫn là một trong những nội dung chính của phong
thủy cho đến ngày nay.
Đã có thời gian Phong thủy được đánh đồng với tôn giáo. Thậm chí bị coi là nhảm
nhí, là mê tín dị đoan cũng do cách giải thích thiếu hiểu biết của chính các thầy Phong
thủy, muốn thần thánh hóa, làm thần bí phức tạp thêm trong con mắt của gia chủ nhằm
trục lợi cho bản thân. Ngày nay, Phong thủy đã được coi là một đối tượng nghiên cứu khoa
học. Nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã có những cơ quan nghiên cứu về Phong thủy.
Tuy nhiên, vẫn chưa có tài liệu chính xác nào nghiên cứu về nguồn gốc ra đời của khoa
học phong thủy mà chỉ là những phỏng đoán theo tiến trình lịch sử của Trung Quốc là nơi
đã phát sinh khoa Phong thủy. Một trong những giả thuyết cho rằng khoa Phong thủy
ra đời cùng với thời gian mà người Trung Hoa khám phá ra đặc tính của nam châm

thực tế và gần gũi với đời sống con người.
2.1.3. Cơ sở khoa học của phong thủy
2.1.3.1. Khí
Là hơi thở hoặc năng lượng. Năng lượng được hiểu là Long mạch, nuôi
dưỡng khí đề làm giàu cuộc sống và khí của những người cư ngụ. Phong thủy ảnh
hưởng đến khí của con người. Do đó, có thể dùng phong thủy để giúp gỡ rối được
các “nút” ngăn chặn hạnh phúc, mục đích và hi vọng của con người.
2.1.3.2. Âm dương
Là một cặp phạm trù vừa đối nghịch, vừa thống nhất nhau. Triết lý về các
cặp phạm trù đã được các nhà triết học như Hegen, C.Mark lý giải. Trong thiết kế,
phong thủy tìm kiếm sự cân bằng và sự hài hòa cho một ngôi nhà và đem lại cho
người cư ngụ sức khỏe và sự cân bằng cảm xúc.
6
2.1.3.3. Ngũ hành
Là sự hài hòa khí của con người với ngôi nhà: Khí gồm:Kim, mộc, thủy, hỏa,
thổ.
Ngũ hành kết hợp với màu sắc, thời gian, mùa màng, phương hướng, các tinh
tú, phủ tạng để điều chỉnh khí của người.
Ngũ hành có 2 chu kỳ: chu kỳ hình thành và chu kỳ hủy diệt.
Hình 2.1: Ngũ Hành
2.1.3.4. Bát quái

chiều kim đồng hồ, cứ thay thế một hào âm bằng một hào dương (hoặc một hào
dương bằng một hào âm) từ trên xuống, sẽ cho quẻ tiếp theo phía bên trái.
+ Hậu thiên Bát Quái đặt các quẻ theo trình tự thuận chiều kim đồng hồ là:
Càn - Khảm - Cấn - Chấn - Tốn - Ly - Khôn - Đoài, với quẻ Càn nằm ở góc tây bắc,
vì phương vị người xưa nghịch với ngày nay - Trên Nam, Dưới Bắc, Phải Tây, Trái
Đông (theo Kinh Dịch, Đạo của người quân tử của tác giả Nguyễn Hiến Lê). 8
2.1.3.5. Phương vị phong thủy
Trong phong thủy thường chia ra 24 phương vị, tổng cộng giác độ của 24
phương vị là 360
0,
chia đều ra thành 24 phần, mỗi phương vị là 15
0
.24 phương vị
trong phong thủy còn gọi là “Nhị thập tứ sơn phương vị”, lấy tám thiên can “Canh,
tân, nhâm, quý, giáp, ất, bính, đinh”cộng với 12 địa chi “Tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ,
ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi”và 4 quẻ “Kiền, Khôn, Cấn, Tốn”mà thành, dựa theo
chiều kim đồng hồ sắp xếp như hình vẽ:


đời Đường (Trung Quốc) trở về sau của các Phong thuỷ học.
Huyền không phi tinh dựa vào tính chất và sự di chuyển của 9 sao (tức Cửu
tinh hay 9 số) mà đoán định họa, phúc của từng căn nhà (dương trạch) hay từng
phần mộ (âm trạch). Cửu tinh: tức là 9 con số, từ số 1 tới số 9, với mỗi số đều có
tính chất và ngũ hành riêng biệt, đại lược như sau:
Số 1: Sao Nhất Bạch hoặc Tham Lang, có những tính chất như sau:
- Về Ngũ Hành: thuộc Thủy
- Về màu sắc: thuộc màu trắng
- Về cơ thể: là thận, tai và máu huyết
- Về người: là con trai thứ trong gia đình.
- Về tính chất: nếu vượng hay đi với những sao 4, 6 thì chủ về văn tài xuất
chúng, công danh, sự nghiệp thăng tiến. Nếu suy, tử thì mắc bệnh về thận và khí
huyết, công danh trắc trở, bị trộm cướp hay trở thành trộm cướp.
Số 2: Sao Nhị Hắc hay Cự Môn, có những tính chất sau:
- Về Ngũ hành: thuộc Thổ.
- Về màu sắc: thuộc màu đen.
- Về cơ thể: là bụng và dạ dày.
- Về người: là mẹ hoặc vợ trong gia đình.
- Về tính chất: nếu vượng thì điền sản sung túc, phát về võ nghiệp, con cháu
đông đúc. Suy thì bệnh tật liên miên, trong nhà xuất hiện quả phụ.
10
Số 3: Sao Tam Bích hay Lộc Tồn, có những tính chất sau:
- Về Ngũ hành: thuộc Mộc.
- Về màu sắc: thuộc màu xanh lá cây.
- Về cơ thể: mật, vai và 2 tay.
- Về người: là con trai trưởng trong gia đình.
- Về tính chất: nếu vượng thì con trưởng phát đạt, lợi cho kinh doanh, vợ cả
tốt. Nếu suy thì khắc vợ và hay bị kiện tụng, tranh chấp.
Số 4: Sao Tứ Lục hoặc Văn Xương, có những tính chất sau:
- Về Ngũ hành: thuộc Mộc.

- Về Ngũ hành: thuộc Thổ.
- Về màu sắc: thuộc màu trắng.
- Về cơ thể: lưng, ngực và lá lách.
- Về người: là con trai út trong gia đình.
- Về tính chất: nếu vượng thì nhiều ruộng đất, nhà cửa, con cái hiếu thảo, tài
đinh đều phát. Nếu suy thì tổn thương con nhỏ, dễ bị ôn dịch.
Số 9: Sao Cửu Tử hay Hữu Bật, có những tính chất sau:
- Về Ngũ hành: thuộc Hỏa.
- Về màu sắc: màu đỏ tía.
- Về cơ thể: mắt, tim, ấn đường.
- Về người: con gái thứ trong gia đình.
- Về tính chất: nếu vượng thì nhiều văn tài, quý hiển sống lâu. Nếu suy thì bị
hỏa tai, hoặc tai họa chốn quan trường, bị thổ huyết, điên loạn, đau mắt, sinh đẻ khó khăn.
Thuật Huyền không phi tinh lấy sự phối hợp của cửu tinh (9 sao) trong Lạc
thư làm chủ. Sự di chuyển của cửu tinh trong lạc thư theo thuận chiều hay nghịch
chiều là cơ sở cho việc xác định hướng tốt hay xấu trong 24 sơn và 8 hướng.
Bản chất của môn phong thủy là một ngành khoa học thực sự, là tổng hợp
nhiều ngành nghiên cứu khác nhau như: lịch sử học, tâm lý học, địa lý học, kiến
trúc học, xã hội học… mặc dù nội dung của nó còn những bí ẩn cần khám phá.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Thuật phong thủy trên thế giới
Thuật phong thủy được phát hiện ở Trung Quốc từ hàng ngàn năm trước, tuy
nhiên cho đến nay nó không còn là của riêng người Trung Quốc nữa mà đã được áp
dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
12
Phong thủy cổ Hy Lạp: Từ rất sớm nơi đây đã nuôi dưỡng nên tri thức địa lý
học khiến con người mở rộng tầm nhìn mới mẻ, trong đó có cả luận thuật về
phương diện phong thủy.
Tiêu biểu có nhà y học bậc thầy cổ Hy Lạp và y học phương Tây người đảo
Cô Sơ là Hippôcơrat (khoảng 460 - 377 Trước Công Nguyên) đã thu thập một trước

(Nhà Trắng) xây dựng theo nguyên tắc “tọa sơn hướng thủy”, bố cục có đầy đủ
Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Chu Tước. Cách đây không lâu, khách sạn
MGM nổi tiếng tại Las Vegas theo thuật phong thủy đã cho xây dựng hai con sư tử
bằng đá khổng lồ để tránh kinh doanh thua lỗ.
Phong thủy ở Châu Á: phong thủy Trung Quốc ảnh hưởng sâu sắc tới các nước
Châu Á, đặc biệt là các nước lân cận như: Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Mianma…
Nhật Bản rất thịnh hành Phong thủy, họ cũng lấy Thanh Long, Bạch Hổ, Chu
Tước, Huyền Vũ làm thần của bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc, rồi cũng xem
thủy thổ, cây cối ở trước và sau nhà để suy đoán cát hung. Người Nhật trước khi
xây dựng nhà mới cũng mời người về xem phong thủy, làm lễ “Địa trấn” trước khi
động thổ, sau đó rước thần chủ trừ tà, đọc văn tế rồi chôn xuống bốn góc hình nhân
sắt, dao, kiếm… để yểm trừ hung. Khi nhà mới sắp sửa xong phải làm lễ “dựng xà”,
dựng quạt trên xà nhà để mời thần giáng xuống, lại dựng cả cung tên để bắn ác quỷ.
Người Nhật rất coi trọng ngày lành tháng tốt. Rất nhiều quyển lịch Nhật từ
ngày thứ hai cho đến thứ bẩy, chủ nhật, thường có in thêm vào tờ lịch hàng ngày
chữ dự báo lành dữ hoặc ở phía dưới hoặc ở bên cạnh như: Đại an, Hữu dẫn, Tiên
thắng, Xích khẩu… Người Nhật rất kiêng kỵ “Quỷ môn” (cửa quỷ). Phương Đông
Bắc là quỷ môn có âm khí. Khi làm nhà để trống một góc Đông Bắc trên chỗ trống
khắc hình con vượn để trừ tà.
Mianma: người dân tộc San không chấp nhận dùng cây đổ trôi trong sông để lợp
nhà ở, cũng không lấy những gì ở phòng có người chết lợp lên nhà. Khi chọn đất làm
nhà, lấy thóc đổ thành một đống, ngày hôm sau đếm lại, số chẵn là tốt, số lẻ là không tốt.
2.2.2. Thuật phong thủy ở Trung Quốc
Thuật phong thủy ở Trung quốc bắt đầu rất sớm từ thời Tiên Tần (tức trước khi
hoàng đế Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, tức là chỉ thời Xuân Thu Chiến
Quốc: từ năm 221 Trước Công Nguyên trở về trước) kéo dài cho tới ngày nay.
Đối với nơi ở, người Trung Quốc xưa đã yêu cầu: về địa thế phải chọn bờ
dốc bậc thang, địa hình phải chọn ở ven sông, chất đất phải khô ráo, nền đất phải
rắn chắc, nguồn nước dồi dào, chất nước phải trong sạch, giao thông phải thuận
tiện, bốn bề phải có cây rừng, phong cảnh u nhã.

ở Trung Quốc. Ở Bắc Kinh, cổng nhà hầu hết đều xây tại góc trái mặt chính ở trước
sân gọi là “cửa Thanh Long”, vì theo phong thủy kết cấu “Khảm trạch, Tốn môn” là
may mắn nhất. Nhà cửa nông thôn đa số chầu về Nam, Đông hoặc Đông Nam.
15
Không chỉ có người dân tin vào phong thủy mà nhiều cơ quan chính quyền tin vào
phong thủy. Ở Quảng Đông, tại Cục thuế vụ huyện Yết Dương có mời thầy phong
thủy về xem địa lý, sau đó cục lấp ao phun nước, bít cổng lớn nhà xe, làm lại lầu cơ
quan làm việc để hợp phong thủy.
2.2.3. Thuật phong thủy tại Việt Nam
Theo các nhà nghiên cứu, thuật phong thủy đã được truyền vào nước ta và
phát triển vào thế kỷ thứ 17. Khoa địa lý Việt do danh sư Tả Ao và Hòa Chính
truyền đạt qua nhiều đời.
Tả Ao là người thứ nhất học được khoa địa lý chính tông và là nhà địa lý giỏi
nhất Việt Nam xưa kia. Ông tên là Nguyễn Đức Huyên, người làng Tả Ao, huyện
Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nhà nghèo, sinh vào thời Lê-Trịnh, mồ côi cha từ nhỏ,
mẹ lòa, anh ruột cũng nghèo. Ông là người có hiếu đã học làm thuốc chữa cho mẹ
khỏi lòa và chữa cho một thầy địa lý khỏi đau mắt gần mù, rồi được thầy truyền cho
khoa địa lý chính tông. Tương truyền, ông không truyền nghề địa lý này cho ai
nhưng ông có làm hai văn bản dạy địa lý được các đời sau in thành sách. Một là tập
Địa đạo diễn ca có 120 câu văn vần, hai là tập Dã đàm Tả Ao bằng văn xuôi. Các
thầy địa lý ở nước ta cho đây là hai tập sách rất tốt. Nó xuất phát từ môn địa lý
chính tông, đi từ căn bản chú trọng tìm cho thấy Long Châu huyệt đích, sau đến
phần chi tiết nói thêm những điều phụ vào phần văn bản. Người nước ta thời xưa rất
thích hai tập sách này vì một lẽ, dễ đọc, dễ hiểu, dễ tiếp thu và dễ thực hành hơn là
những sách du nhập từ Trung Hoa sang, rất rắc rối, mông lung, khó hiểu.
Hòa Chính là một thầy địa lý được Trịnh Sâm cho sang Trung Quốc học,
thành tài. Lúc về, ông có viết sách, chưa được in nên nay chỉ có những bản thảo sao
chép lại, không chắc có đúng nguyên văn của ông không. Sau khi Trịnh Sâm muốn
cướp ngôi nhà Lê sai ông đặt hướng và xây lại thành Cổ Loa để thành một đế đô,
ông không làm, bị chúa Trịnh đổ chì nóng, mù cả hai mắt và bị chết.

nhận xét, mà có thể nói, như một bản “Luận chứng kinh tế kỹ thuật”: “Kinh sư là
nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền nam miền bắc, đất đai cao ráo,
non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm,
đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chặn; sông lớn giữ phía trước, núi cao
giữ phía sau, Rồng cuốn Hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật
là thượng đô của nhà vua”.
* Phong thủy trong kiến trúc Dinh Độc Lập
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng rất sùng bái khoa Phong thủy. Ông đã
từng thuê thầy địa lý đặt lại mộ cha Phan Rang để táng vào nơi được đại “cát” nhất.
17
Ông Thiệu muốn chức vị của mình trường tồn nên đã cho xây lại và yểm bùa dinh
“Tổng thống” tức là “Dinh Độc Lập”.
Nguyên nơi này trước kia gọi là dinh Nô-rô-đôm. Nó vốn là phủ toàn quyền
do thực dân Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ XIX. Khi Pháp trao trả độc lập “giả hiệu”
cho Bảo Đại thì dinh mới bắt đầu đổi tên thành Dinh Độc Lập.
Thời kỳ ông Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống thì ngày 27/02/1962, hai phi
công thuộc phái chống đối tới ném bom làm sập cánh trái của dinh, rồi ngày
01/11/1963, chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, cho tới khi các ông Thiệu, ông Kỳ lên
nắm chính quyền, dinh vẫn chưa được sửa xong. Ông Thiệu đã đề ra chương trình
xây dựng lại Dinh Độc Lập, các kiến trúc sư phải thiết kế sao cho dinh mới vững
chãi để chống lại các cuộc tấn công của phe đảo chính.
Theo sách vở cũ thì bộ phận chính của dinh mới được cấu trúc thành ba tầng
lầu kéo ngang thành ba vệt dài và hệ thống cửa lớn ở chính giữa kéo thành một nét
thẳng dọc từ trên xuống dưới, như một nét sổ kết hợp lại với nhau thành chữ vương
(vua), chiếc kỳ đài trên nóc lầu lại tạo thành dấu chấm trên chữ vương và nó tạo
thành chữ chủ nghĩa là chúa.
Trên nóc mái bằng của dinh còn có một cái lầu nhỏ gọi là tứ phương vô sự
lầu. Cái lầu này là nơi yểm bùa làm cho dinh được bình yên vô sự, chống được
mọi hiểm họa từ bốn phương ập tới. Lầu nhỏ này xây theo hình vuông kiểu chữ
khẩu, trước lầu có một cột đâm thẳng thành một nét dọc tạo thành chữ trung, ngụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status