ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------
-----------
ĐẬU THỊ THÙY NHUNG
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ ỨNG DỤNG PHONG THỦY TRONG VIỆC XÂY DỰNG
BỐ TRÍ CÔNG TRÌNH NHÀ Ở NỘI THÀNH TẠI THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Địa chính môi trường
Khoa
: Quản lý Tài nguyên
Khóa học
: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 04 tháng 04 năm 2015
Sinh viên
Đậu Thị Thùy Nhung
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Hình 2.1: Ngũ Hành .......................................................................................... 7
Hình 2.2: Bát quái đồ ........................................................................................ 9
Hình 2.3: Lượng thiên Xích ............................................................................ 10
Hình 2.4: Cổng cho gia chủ mệnh Thổ ........................................................... 22
Hình 2.5: Cổng cho gia chủ mệnh Kim .......................................................... 22
Hình 2.6: Cổng cho gia chủ mệnh Thủy ......................................................... 23
Hình 2.7: cổng cho gia chủ mệnh Mộc ........................................................... 23
Hình 2.8: Cổng cho gia chủ mệnh Hỏa ........................................................... 24
Hình 4.1: Phòng ngủ cho người hành Thủy .................................................... 39
Hình 4.2: Phòng ngủ cho người hành Mộc ..................................................... 40
Hình 4.3: Phòng ngủ cho người hành Hỏa...................................................... 40
Hình 4.4: Phòng ngủ dành cho người hành Thổ ............................................. 41
Hình 4.5: Phòng ngủ cho người hành Kim ..................................................... 42
Hình 4.6: Phần mặt tiền nhà ông Lê Xuân Thiên ........................................... 45
Hình 4.7: Phòng khách nhà ông Lê Xuân Thiên ............................................. 46
Hình 4.8: Bếp nhà ông Lê Xuân Thiên ........................................................... 47
Hình 4.10: Phòng thờ nhà ông Thiên .............................................................. 47
Hình 4.11: Phần mặt tiền nhà ông Trần Xuân Phương ................................... 48
Hình 4.12: Phòng khách nhà ông Trần Xuân Phương .................................... 49
Hình 4.13: Phòng bếp gia đình ông Trần Xuân phương ................................. 50
2.1.3. Cơ sở khoa học của phong thủy..................................................................... 5
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ................................................................................ 14
2.2.1. Thuật phong thủy trên thế giới..................................................................... 14
2.2.2. Thuật phong thủy ở Trung Quốc ................................................................. 15
2.2.3. Thuật phong thủy tại Việt Nam ................................................................... 17
2.3. Ứng dụng Phong thủy trong bài trí nhà ở, công trình xây dựng, cảnh quan 19
2.3.1. Ứng dụng Phong thủy trong bài trí nhà ở ................................................... 19
2.3.2. Ứng dụng phong thủy trong bố trí công trình xây dựng ............................ 21
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ........................................................................................................ 30
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 30
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................... 30
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 30
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ...................................................................... 30
3.3. Nội dung nghiên cứu ....................................................................................... 30
3.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................. 31
v
3.4.1. Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu ........................................................ 31
3.4.2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa ..................................................... 31
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...................................................... 32
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu......................... 32
4.1.1. Điều kiện tự nhiên ........................................................................................ 32
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội tại đại bàn nghiên cứu ....................................... 33
4.2. Khoa học phong thủy trong sắp xếp, bài trí nội thất...................................... 35
4.2.1. Phòng khách .................................................................................................. 35
4.2.2. Bàn thờ .......................................................................................................... 36
4.2.3. Phòng ngủ ..................................................................................................... 38
hướng dẫn sinh khí làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, công việc làm ăn phát đạt.
Trong cuộc sống thực tế, chúng ta vẫn được thấy những trường hợp
khác nhau, người làm nhà xong thì ăn lên làm ra, thăng quan tiến chức, con
cái đỗ đạt. Ngược lại, người thì lụn bại, thất thế sa cơ, suy sụp sức khỏe….
Vậy để tránh được những ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của con người
cần phải bố trí công trình, nhà ở, bố trí nội ngoại thất như thế nào thì mới phù
hợp với quy luật phong thủy? Môi trường cảnh quan xung quanh công trình,
nhà ở có ảnh hưởng như thế nào đến vận mệnh công trình, nhà ở và những
người sống trong đó?
Đã có một vài nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên, đối với đô thị ở
một tỉnh miền núi như Thái Nguyên thì chưa có nhiều tài liệu đề cập đến. Vì
vậy được sự phân công của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, Trường
2
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo
Th.S Nông Thu Huyền, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá ứng dụng
phong thủy trong việc xây dựng bố trí công trình nhà ở nội thành tại thành
phố Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Khái quát được những lý luận cơ bản của Phong thủy áp dụng trong
xây dựng nhà ở và bố trí nội thất.
- Đánh giá việc áp dụng Phong thủy trong bố trí nhà ở nội thành và bố
trí nội thất theo phong thủy để đề xuất một số giải pháp đối với các công trình
nhà ở không hợp phong thủy.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Thu thập được các tài liệu nghiên cứu về khoa học phong thủy.
- Nắm bắt được một số quy luật cơ bản của phong thủy trong xây dựng
nhà ở, công trình kiến trúc.
“Thủy lai khắc phong khứ”
Khi gặp gió (phong) ắt tán, gặp nước (thủy) ngăn thì dừng. Vì vậy mục
đích môn phong thủy là làm sao khí tụ chứ không tán, nước chảy có chỗ dừng
Phong thủy không phải là yếu tố đơn lẻ mà là tổng hợp hàng loạt yếu tố
về địa hình địa thế xung quanh nhà ở, thôn xóm, thành phố hoặc mồ mả, hướng
gió, dòng nước cùng tọa hướng, hình dạng, bố cục mặt bằng không gian xây
dựng. Phong thủy liên quan đến cát hung, họa phúc, thọ yểu, sự cùng thông của
nhân sự. Cát ắt là phong thủy hợp, hung ắt là phong thủy không hợp.
Sách Táng thư viết: "Mai táng phải chọn nơi có sinh khí. Kinh viết: Khí
gặp gió (phong) ắt tán, gặp nước (thủy) ngăn thì dừng. Cổ nhân làm sao cho khí
tụ chứ không tán, nước chảy có chỗ dừng". Do vậy mà có tên là "phong thủy".
Trên thực tế, phong thủy học chính là môn khoa học tự nhiên tổng hợp
nhiều ngành như địa lý, địa chất, khí tượng học, cảnh quan học, kiến trúc học,
4
sinh thái học và nhân thể học. Tôn chỉ của nó là khảo sát, tìm hiểu kĩ càng về
môi trường tự nhiên, thuận theo tự nhiên, sử dụng và cải tạo tự nhiên hợp lý,
tạo ra môi trường sinh sống tốt, được thiên thời, địa lợi, nhân hòa.
Phong thủy có vai trò rất to lớn, tuy nhiên nó chỉ hỗ trợ, có tác dụng cải
biến chứ không thể làm thay đổi hoàn toàn mệnh vận. Vì vậy người ta nói:
Nhất Vận, nhì Mệnh, tam Phong thủy, tứ Gia tiên, ngũ Đèn sách
2.1.2. Nguồn gốc ra đời của khoa học phong thủy
Nguồn gốc phong thủy bí ẩn như chính tên gọi của nó. Ứng dụng của
phong thủy đã tồn tại từ rất lâu trong văn minh Đông phương cổ. Những tư
liệu và di vật khảo cổ lâu nhất tìm thấy được, mà người ta cho rằng mang dấu
ấn của phong thủy 1500 năm trước công nguyên. Qua những di vật khảo cổ
tìm thấy ở Ân Khư - thủ đô của Hạ Ân trong lịch sử cổ đại Trung Hoa. Nhưng
lý thuyết và phương pháp ứng dụng thực sự lưu truyền qua bản văn chữ Hán
theo một lối kiến trúc nào thì cũng phải căn cứ vào địa thế xung quanh để tạo
dựng một kiến trúc đẹp về thẩm mỹ, lợi về sinh hoạt. Phong thủy dù còn vẻ
huyền bí nhưng rất thực tế và gần gũi với đời sống con người.[9]
2.1.3. Cơ sở khoa học của phong thủy
2.1.3.1. Khí
Khí trong phong thủy bao gồm 3 khí là Thiên khí, Đại khí và Nhân khí
gọi là tam khí. Nó thể hiện cho quan niệm của triết học phương đông về sự
thống nhất giữa Thiên - Địa - Nhân. Từ xưa đến nay, các nhà khoa học, các
nhà tư tưởng, và những bậc thầy phong thủy đều chú tâm vào việc tìm ra được
quy luật của sự hài hòa giữa 3 yếu tố: Trời - Đất - Người, và kết hợp 3 yếu tố
đó thành một thể thống nhất là cho con người sống hài hòa với tự nhiên. Đối
với khoa học phong thủy lại càng được chú trọng. Khi kết hợp 3 yếu tố đó
thành một thể thống nhất sẽ tạo được một môi trường phong thủy hoàn chỉnh
có ảnh hưởng tích cực đối với những người cư trú, bao gồm cả về giá trị sức
khỏe, giá trị tinh thần, giá trị về công danh và giá trị về tài lộc.
Theo phong thủy, có hai loại khí là sơn khí và thủy khí. Sơn khí bắt
nguồn từ các dãy núi cao, chảy theo các long mạch và chảy đến mọi vung đất
đai. Sơn khí là cơ sở nuôi dưỡng cho cuộc sống con người, cụ thể là sức khỏe,
quan hệ con cái. Thủy khí là khi phát ra từ các nguồn nước như nước sông,
6
biển, hồ chảy theo các con sông, con suối. Thủy khí đại diện cho tiền bạc và
công việc làm ăn.
Một vị trí nhà ở phong thủy tốt cần có sơn khí và thủy khí nuôi dưỡng,
do đó, trong phong thủy cổ điển thường coi trọng thế tọa núi nhìn sông bởi
tận dụng được cả sơn khí và thủy khí bao bọc ngôi nhà. Trong môi trường đô
thị hiện đại thì cần thế nhà có phía lưng vững chãi, có nhà cao hoặc đồi cao
che chắn, phía trước có mặt đường rộng thoáng hoặc ngã ba ngã tư đem thủy
Hình 2.5: Cổng cho gia chủ mệnh Kim .......................................................... 22
Hình 2.6: Cổng cho gia chủ mệnh Thủy ......................................................... 23
Hình 2.7: cổng cho gia chủ mệnh Mộc ........................................................... 23
Hình 2.8: Cổng cho gia chủ mệnh Hỏa ........................................................... 24
Hình 4.1: Phòng ngủ cho người hành Thủy .................................................... 39
Hình 4.2: Phòng ngủ cho người hành Mộc ..................................................... 40
Hình 4.3: Phòng ngủ cho người hành Hỏa...................................................... 40
Hình 4.4: Phòng ngủ dành cho người hành Thổ ............................................. 41
Hình 4.5: Phòng ngủ cho người hành Kim ..................................................... 42
Hình 4.6: Phần mặt tiền nhà ông Lê Xuân Thiên ........................................... 45
Hình 4.7: Phòng khách nhà ông Lê Xuân Thiên ............................................. 46
Hình 4.8: Bếp nhà ông Lê Xuân Thiên ........................................................... 47
Hình 4.10: Phòng thờ nhà ông Thiên .............................................................. 47
Hình 4.11: Phần mặt tiền nhà ông Trần Xuân Phương ................................... 48
Hình 4.12: Phòng khách nhà ông Trần Xuân Phương .................................... 49
Hình 4.13: Phòng bếp gia đình ông Trần Xuân phương ................................. 50
Hình 4.14: Phòng thờ gia đình ông Trần Xuân Phương ................................. 50
Hình 4.15: Phòng khách nhà ông Nguyễn Hùng ............................................ 52
Hình 4.16: Phòng ngủ vợ chồng ông Nguyễn Hùng ....................................... 52
8
Trong Phong thủy, một không gian có 8 góc và 8 cặp tam quái gọi là
bát quái, được dùng để chuẩn đoán các sự bất cân xứng trong môi trường và
đời sống, từ đó cải thiện sức khỏe, hạnh phúc và thịnh vượng. Khi thiết kế,
phải xem xét những góc không bình thường của một ngôi nhà để có giải phá
xử lý thoả đáng nhằm tạo sự cân bằng và hài hòa giữa chủ nhân và ngôi nhà.
Theo cổ nhân xưa, lúc đầu vũ trụ chỉ là 1 khối hỗn độn, không có hình
dạng rõ ràng gọi là thời hỗn mang. Trong sự hỗn mang đó, vũ trụ còn chưa có
hồ là: Càn - Khôn - Chấn - Tốn - Khảm - Ly - Cấn - Đoài, với quẻ Càn nằm
ở góc tây bắc, vì phương vị người xưa nghịch với ngày nay - Trên Nam,
Dưới Bắc, Phải Tây, Trái Đông
Hình 2.2: Bát quái đồ
2.1.3.5. Huyền không phi tinh:
Theo trường phái Huyền không thì mọi sự tương tác của các sự vật hiện
tượng đều do Cửu tinh (9 ngôi sao) cai quản và họ dựa trên Cửu tinh để suy luận
cát hung. Huyền không phái hay còn gọi là Huyền không Phi tinh là một trường
phái xuất hiện từ lúc nào thì chưa thể xác định chính xác được. Theo sự ghi chép
của những thư tịch cổ thì vào đời Hán, trong "Hán Thư, Văn nghệ chí" người ta
thấy có mối quan hệ với các bài ca quyết của Huyền không phái được ghi chép
vào khoảng đời Đường (Trung Quốc) trở về sau của các Phong thuỷ học.
10
Huyền không phi tinh dựa vào tính chất và sự di chuyển của 9 sao (tức
Cửu tinh hay 9 số) mà đoán định họa, phúc của từng căn nhà (dương trạch)
hay từng phần mộ (âm trạch)
Lượng thiên Xích còn được gọi là "Cửu tinh đãng quái” là thứ tự di
chuyển của Cửu tinh trong Lạc thư hay Hậu thiên Bát quái. Gọi là Lượng
thiên xích vì đây được coi như là 1 công cụ (Xích: cây thước; lượng: để đo
lường; thiên: thiên vận). Nói một cách khác, "Lượng thiên Xích” chính là
phương pháp tính toán để tìm thấy những giai đoạn cát, hung, họa phước cho
dương trạch và âm trạch.
Sự di chuyển của Cửu tinh theo vòng Lượng thiên xích là dựa theo thứ
tự số trong Lạc thư (hay Hậu thiên Bát quái) mà đi, bắt đầu từ chính giữa (tức
trung cung). Cho nên nếu nhìn vào thứ tự các con số trong Hậu thiên bát quái
thì chúng ta sẽ thấy số 5 nằm chính giữa, nên bắt đầu từ đó đi xuống lên số 6
Đông Bắc....
Sự di chuyển thuận, nghịch của Cửu tinh là hoàn toàn dựa vào nguyên
tắc phân định âm - dương của Tam nguyên long. Tam nguyên long bao gồm:
Địa nguyên long, Thiên nguyên long, và Nhân nguyên long. Mỗi Nguyên bao
gồm 8 sơn (hay 8 hướng), trong đó có 4 sơn dương và 4 sơn âm như sau:
- ĐỊA NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:
+ 4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH.
+ 4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.
- THIÊN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:
+ 4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.
+ 4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.
- NHÂN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:
+ 4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.
+ 4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.
Với sự phân định âm hay dương của mỗi hướng như trên, người ta có
thể biết được lúc nào phi tinh sẽ đi thuận hoặc đi nghịch khi xoay chuyển
chúng theo vòng Lượng thiên Xích.
12
Ngoài ra, nếu nhìn kỹ vào sự phân chia của Tam nguyên Long ta sẽ
thấy trong mỗi hướng của Bát quái được chia thành 3 sơn, và bao gồm đủ ba
Nguyên: Địa, Thiên và Nhân, theo chiều kim đồng hồ. Thí dụ như hướng Bắc
được chia thành 3 sơn là Nhâm - Tý - Qúy, với Nhâm thuộc Địa nguyên long,
Tý thuộc Thiên nguyên long, và Quý thuộc Nhân nguyên long. Các hướng
còn lại cũng đều như thế, nghĩa là Thiên nguyên long ở chính giữa, Địa
nguyên long nằm bên phía tay trái, còn Nhân nguyên long thì nằm bên phía
tay phải. Từ đó người ta mới phân biệt ra Thiên nguyên long là quẻ Phụ mẫu,
Địa nguyên long là Nghịch tử (vì nằm bên tay trái của Thiên nguyên long tức
tháng giêng năm sau là Ngũ hoàng vào trung cung, tháng giêng năm sau nữa
là Nhị hắc vào trung cung. Lưu ý rằng: Cửu tinh thì tính xuôi, còn tháng thì
tính ngược.
Vậy trong 3 năm là 36 tháng, Cửu tinh tuần hoàn 4 lần, có nghĩa là cứ
cách 3 năm thì lại lặp lại sự tuần hoàn từ Bát bạch vào trung cung. Như thế thì
lần lượt tháng giêng các năm như sau sẽ có các sao vào trung cung, cụ thể:
- Sao Bát bạch: Vào tháng giêng các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu
- Sao Ngũ hoàng: Vào tháng giêng các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi
- Sao Nhị hắc: Vào tháng giêng các năm Dần, Thân, Tỵ, Hợi
Trên cơ sở đó, ta dễ dàng tính được tháng nào của năm nào bất kỳ sẽ có
sao nào vào trung cung.
Cửu tinh phối ngày: Lấy ngày Giáp Tý gần Đông chí coi là ngày dương
bất đầu tiềm phục, Âm bắt đầu đắc thế để đưa sao Nhất bạch vào trung cung,
ngày sau tiếp theo là Nhị hắc, ngày sau nữa là Tam bích….(thuận). Đến ngày
Giáp tý gần Hạ chí lại nhập Cửu tử nhập trung cung và tính ngược: ngày sau
là Bát bạch, ngày sau nữa là Thất xích….Như vậy, chúng ta có thể áp dụng
hiện tại, cứ ngày Tý gần Đông chí là Nhất bạch vào trung cung, tính xuôi;
ngày Tý gần Hạ chí thì Cửu tử vào trung cung và tính ngược.
iii
Hình 4.17: Phòng bếp gia đình ông Nguyễn Hùng ......................................... 53
Hình 4.18: Phần mặt tiền nhà anh Phan Trung Lâm ....................................... 54
Hình 4.19: Phòng khách nhà anh Phan Trung Lâm ........................................ 55
Hình 4.20: Phòng ngủ nhà anh Phan Trung Lâm............................................ 55
Hình 4.21: Phòng bếp nhà anh Phan Trung Lâm ............................................ 56
Hình 4.22: Phần mặt tiền nhà ông Mai Đức Hinh .......................................... 57
Hình 4.23: Phòng khách nhà ông Mai Đức Hinh............................................ 57
Hình 4.24: Phòng ngủ nhà ông Mai Đức Hinh ............................................... 58
16
Thời Thương, Chu các môn địa hình và thủy văn đã được phân biệt
chính xác, đất liền thì được chia thành núi, đồi, gò, đống, mô, bãi…; về lòng
sông thì có bờ, bãi bồi, đảo, mép nước, bến…; về vùng nước thì có các loại
hình khe, suối, sông nhỏ, ao, đầm, sông lớn…
Thời Tần đã có quan niệm về mạch đất, “vương khí”. Các công trình “thổ
mộc” khổng lồ được xây dựng. Có dương trạch là cung A Phòng chiếm đất gần
300 dặm, ly cung biệt quán rải khắp thung lũng núi, lấy Nam Sơn làm cửa cung,
lấy Phàn Xuyên làm ao nước, điện trước cung A Phòng có thể ngồi gần một vạn
người. Lại có âm trạch là lăng mộ Thủy Hoàng, huy động hơn 70 vạn dân phu đào
rỗng cả núi Ly Sơn, đào xuyên cả đến ba tầng đất Tức Nhưỡng.
Thuật phong thủy thời Nam Bắc triều (từ năm 420 đến năm 589 sau
Công nguyên) và đời nhà Thanh là hưng thịnh hơn cả. Thời Nam Bắc triều
chọn Kiến Khang (Nam Kinh) làm quốc đô vì nơi đây có núi Thanh Lương
như một con hổ ngồi xổm, phía Đông có núi Chung Sơn giống con rồng nằm
cuộn khúc. Nơi mà Gia Cát Lượng từng than rằng: “Chung Sơn rồng nằm,
Thạch Đầu hổ ngồi, đây là nhà của bậc đế vương”. Thời kỳ này xuất hiện
nhiều thầy tướng số, phong thủy trong dân gian. Người dân tin phong thủy,
vua chúa lại càng tin phong thủy hơn. Tống Minh Đế là một ông vua kiêng kỵ
rất cẩn thận. Khi trăm quan bàn việc nếu ai thốt ra các từ “họa”, “bại”,
“hung”, “táng”…bất kể quan lớn đến đâu cũng bị tội chém. Linh sàng Thái
hậu từ Đông cung đi ra, Minh đế gặp phải cho là chẳng lành, liền bãi chức cả
mười mấy viên quan. Vua Vũ Đế nhà Nam Tề cũng tin phong thủy. Thời đó,
có người nhìn khí bảo: “Tân Lâm, Lâu Hồ, Thanh Khê đều có khí thiên tử, có
thể xây lầu gác, cung điện, vườn ngự ở đó”. Vũ đế nghe theo mà làm.
Qua bao nhiêu năm đến nay thuật phong thủy lại thịnh hành trở lại ở Trung
Quốc. Ở Bắc Kinh, cổng nhà hầu hết đều xây tại góc trái mặt chính ở trước sân gọi
quyền do thực dân Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ XIX. Khi Pháp trao trả độc
lập “giả hiệu” cho Bảo Đại thì dinh mới bắt đầu đổi tên thành Dinh Độc Lập.
18
Thời kỳ ông Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống thì ngày 27/02/1962,
hai phi công thuộc phái chống đối tới ném bom làm sập cánh trái của dinh, rồi
ngày 01/11/1963, chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, cho tới khi các ông Thiệu,
ông Kỳ lên nắm chính quyền, dinh vẫn chưa được sửa xong. Ông Thiệu đã đề
ra chương trình xây dựng lại Dinh Độc Lập, các kiến trúc sư phải thiết kế sao
cho dinh mới vững chãi để chống lại các cuộc tấn công của phe đảo chính.
Theo sách vở cũ thì bộ phận chính của dinh mới được cấu trúc thành ba
tầng lầu kéo ngang thành ba vệt dài và hệ thống cửa lớn ở chính giữa kéo
thành một nét thẳng dọc từ trên xuống dưới, như một nét sổ kết hợp lại với
nhau thành chữ vương (vua), chiếc kỳ đài trên nóc lầu lại tạo thành dấu chấm
trên chữ vương và nó tạo thành chữ chủ nghĩa là chúa.
Trên nóc mái bằng của dinh còn có một cái lầu nhỏ gọi là tứ phương
vô sự lầu. Cái lầu này là nơi yểm bùa làm cho dinh được bình yên vô sự,
chống được mọi hiểm họa từ bốn phương ập tới. Lầu nhỏ này xây theo hình
vuông kiểu chữ khẩu, trước lầu có một cột đâm thẳng thành một nét dọc tạo
thành chữ trung, ngụ ý dinh là trung tâm quyền lực, đồng thời có nghĩa là
chính giữa.
Ngày 31/10/1966, đúng giờ đại cát, ông Nguyễn Văn Thiệu tới cắt băng
khánh thành Dinh Độc Lập được tái tạo theo kiểu mới đó.
Từ trên cao nhìn xuống, toàn bộ mặt bằng của Dinh Độc Lập được xây
dựng trên khu vực có hình chữ cát (có nghĩa là tốt lành), nhưng rồi có người
mách con đường thảo cầm viên đâm thẳng vào dinh như một mũi tên. Ông
Thiệu đến nhờ một pháp sư yểm cho lá bùa chôn ngay giữa cổng chính. Đồng
thời phía trước dinh, ông Thiệu còn bố trí những rào sắt chắn đặt thường
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 30
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ...................................................................... 30
3.3. Nội dung nghiên cứu ....................................................................................... 30
3.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................. 31