ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ HƯNG
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN HỮU CƠ ĐẾN
SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CÂY ĐẬU TRẠCH
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo :
Chính quy
Chuyên ngành :
Khoa học cây trồng
Khoa :
Nông học
Lớp :
Hệ đào tạo :
Chính quy
Chuyên ngành :
Khoa học cây trồng
Khoa :
Nông học
Lớp :
K42-Trồng trọt
Khoá học :
2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn :
TS. Nguyễn Thúy Hà
Khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của nhà trường, của khoa Nông học em đã tiến hành
và hoàn thành đề tài tốt nghiệp: “Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.1.1. Mục đích 3
1.1.2. Yêu cầu 3
1.1.3. Ý nghĩa 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học 4
2.1.1. Giá trị của cây rau 5
2.1.2. Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp 7
2.2. Tình hình sản xuất rau trên thế giới và Việt Nam 9
2.2.1. Tình hình sản xuất rau trên thế giới 9
3.4.2. Đánh giá tình hình sâu bệnh hại ở các công thức 18
3.4.3. Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 19
3.4.4. Các chỉ tiêu chất lượng quả 20
3.4.5. Sơ bộ hạch toán kinh tế 20
3.5. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu trạch 20
3.6. Phương pháp xử lý số liệu 22
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng
và phát triển cây đậu trach. 23
4.1.1. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ
đến tỷ lệ nảy mầm cây đậu trạch 23
4.1.2. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến thời gian sinh trưởng
và phát triển cây đậu trạch 23
4.2. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến chiều cao cây đậu trạch 26
4.2.1. Động thái tăng trưởng chiều cao cây đậu trạch 26
4.2.2. Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây đậu trạch 29
4.3. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam 2008 - 2012 12
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ
đến tỷ lệ nảy mầm cây đậu trạch 23
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến thời gian sinh trưởng
và phát triển cây đậu trạch 24
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây đậu trạch 26
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ
đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây đậu trạch 29
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ
đến động thái ra lá cây đậu trạch 31
Bảng 4.6. Tỷ lệ sâu, bệnh hại ở các công thức thí nghiệm 33
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ
đến một số chỉ tiêu theo dõi quả đậu trạch 34
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ
đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất quả đậu trạch 36
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ
đến hiệu quả kinh tế cây đậu trạch 39 vi
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1: Đồ thị năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế
của lượng phân bón sử dụng 5
Hình 4.1: Biểu đồ ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ
đến động thái tăng trưởng chiều cao cây đậu trạch 27
Hình 4.2: Biểu đồ ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ
đến một số chỉ tiêu theo dõi quả đậu trạch 35
của con người ngày càng tăng, đặc biệt là nhu cầu về thực phẩm chất lượng
đảm bảo an toàn. Để đáp ứng được phần nào nhu cầu đó, con người luôn phải
tìm tòi nghiên cứu nhằm đưa ra những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới cho
nông nghiệp, trong đó có những tiến bộ mới cho nghề trồng rau.
Từ lâu nhân dân ta có câu “Cơm không rau như đau không thuốc” cho
thấy giá trị dinh dưỡng của cây rau. Bởi vì, cây rau chứa nhiều chất dinh
dưỡng, là thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hằng ngày của con
người, chúng không chỉ cung cấp các loại dinh dưỡng thiết yếu như vitamin,
lipit, protein mà còn cung cấp nhiều chất khoáng quan trọng như canxi, phốt
pho, sắt v.v. rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể con người. Ngoài ra rau
còn cung cấp cho con người một lượng lớn các chất xơ, có khả năng làm tăng
nhu mô ruột và hệ tiêu hoá, là thành phần hỗ trợ sự di chuyển thức ăn qua
đường tiêu hoá bằng cách giúp cho hoạt động co bóp của đường ruột được dễ
dàng. Rau còn là nguyên liệu quan trọng cho ngành chế biến. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế - xã hội, đời sống của con người được nâng lên thì
nhu cầu rau “sạch” càng tăng lên, do đó việc nghiên cứu sản xuất rau an toàn,
phục vụ cho nhu cầu nhân dân là rất cần thiết.
Đối với cây rau, nguồn dinh dưỡng cung cấp từ đất không đáng kể so
với yêu cầu của rau nên phải bổ sung phần lớn qua phân bón. Việc sử dụng
nhiều phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật làm cho đất ngày càng suy thoái
nghiêm trọng ảnh hưởng đến tính chất vật lý và hóa học đất như: đất trồng
ngày càng chua, chứa nhiều chất độc hại, khả năng giữ nước giảm,… nhằm
cải thiện tình trạng trên người ta đã sử dụng phân hữu cơ để bón cho cây
trồng. Nó có tác dụng cải tạo tính chất đất, cung cấp chất dinh dưỡng cho
cây. Từ đó làm tăng năng suất và chất lượng cây trồng một cách ổn định, bền
vững, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường. Đây cũng là nội dung mục tiêu
của nền nông nghiệp hữu cơ bền vững.
2
Thái Nguyên là một trong những tỉnh trung du miền núi phía Bắc, ở
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
3
1.1.1. Mục đích
Xác định được lượng phân bón hữu cơ thích hợp cho đậu trạch sinh
trưởng, phát triển tốt và đạt hiệu quả cao.
1.1.2. Yêu cầu
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến động thái tăng trưởng chiều
cao cây đậu trạch.
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều cao
cây đậu trạch.
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến động thái ra lá của đậu trạch.
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến tình hình sâu, bệnh hại đậu trạch.
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến chỉ tiêu theo dõi quả đậu trạch.
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất cây đậu trạch.
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến hiệu quả kinh tế cây đậu trạch.
1.1.3. Ý nghĩa
- Ý nghĩa trong học tập: Giúp học viên vận dụng kiến thức lý thuyết
vào thực tiễn sản xuất. Giúp học viên biết cách hoàn thành một khóa luận
tốt nghiệp.
- Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: Giúp học viên tiếp cận với công
tác nghiên cứu khoa học, nâng cao kiến thức chuyên môn. Đồng thời, học
viên học được tác phong làm việc nghiêm túc, sáng tạo, hiệu quả, tiếp thu
được những kinh nghiệm mà chỉ có thể có được trong thực tiễn.
- Ý nghĩa trong sản xuất: Việc thực hiện đề tài là cơ sở để xác định mức
phân bón thích hợp cho đậu trạch sinh trưởng, phát triển tốt, đạt năng suất cao
và đảm bảo chất lượng. Thay đổi một phần tập quán canh tác của nông dân tại
địa phương. Tạo điều kiện phát triển hơn về cây đậu trạch nói riêng và cây rau
nói chung tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Từ đó mở rộng sản
5
Hình 1.1: Đồ thị năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế
của lượng phân bón sử dụng
Nguồn: Đường Hồng Dật [3]
Mặt khác, chi phí phân bón trong nông nghiệp chiếm đến 30% - 50% .
trong đó, mục đích của người sản xuất không chỉ nhằm đặt năng suất tối đa
mà còn tìm lợi nhuận cao nhất, cho nên con người phải tìm đến những biện
pháp kỹ thuật bón phân cân đối hợp lý cho từng loại cây trồng khác nhau.
Vì vậy, trong việc sử dụng phân hữu cơ hay bất cứ loại phân nào khác
ta phải sử dụng hợp lý cho từng loại cây trồng, giai đoạn sinh trưởng, loại đất,
nước, vi sinh vật và mùa vụ khác nhau…đồng thời, bón đúng chủng loại,
đúng lúc, đúng cách, đúng nông độ, liều lượng, đảm bảo hời gian cách ly.
Như vậy, sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng phí và bảo
vệ môi trường.
2.1.1. Giá trị của cây rau
2.1.1.1. Giá trị dinh dưỡng
(theo bảng thành phần hóa học thức ăn ở nước ta)
TT
Loại rau
Thành phần hoá học
(g%)
Calo
cho
100g
Muối
khoáng
(mg%)
Vitamin (mg%)
Pr
H
2
O
Glu
Xenlulo
Ca
P Fe
Caroten
0,8
1,90 0,06
0,06
8
3 Cà chua 6,0
94,0
4,2
0,8 20 12
26
1,4
2,00 0,06
0,04
10
4 Đậu đũa 6,0
83,0
8,3
6 Rau muống
3,2
92,0
2,5
1,5 23 100
37
1,4
2,90 0,04
0,09
3
7 Su hào 2,8
88,0
6,3
1,7 37 46
50
0,6
0,7 16 23
27
1,0
0,30 0,03
0,04
5
Nguồn: Bảng thành phần hóa học thức ăn Việt Nam năm 1972
(Nguyễn Thúy Hà, 2010) [5]
2.1.1.2. Giá trị kinh tế
Rau là một mặt hàng xuất khẩu giá trị và có ý nghĩa chiến lược.
Rau là cây trồng đem lại nhiều lợi nhuận góp phần phát triển kinh tế
quốc dân đáng kể, ngoài ra rau còn là mặt hàng có giá trị xuất khẩu có giá
trị cao. Trong những năm gần đây thị trường rau được mở rộng năm 2000
7
tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta là 200 triệu USD. Năm 2003 là 150
triệu USD.
Các loại rau chính xuất khẩu của Việt Nam là dưa chuột, cà chua, cà
rốt, hành, ngô rau, đậu rau , ớt cay, nấm Trong đó dưa chuột và cà chua có
nhiều triển vọng và chúng có thị trường tương đối ổn định. Thị trường xuất
khẩu rau chủ yếu của Việt Nam là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,
Australia, Singapore, Hàn Quốc, Mỹ Hàng năm lượng rau được xuất khẩu
rất nhiều cả về số lượng và chủng loại.
Rau góp phần phát triển các nghành kinh tế khác như: Ngành chăn
Cây trồng hút chất dinh dưỡng từ đất và từ phân bón để tạo nên sản
phẩm của mình sau khi kết hợp với sản phẩm của qúa trình quang hợp, cho
nên sản phẩm nông nghiệp phản ánh tình hình đất đai và việc cung cấp thức
ăn cho cây. Nhờ có phân bón mà phẩm chất nông sản được nâng cao. Bón
phân không cân đối làm giảm chất lượng nông sản.
Phân hữu cơ vi sinh là loại phân bón bao gồm nhiều chủng vi sinh vật
hữu ích như: Vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân, phân giải
xelluloza, và các chất khó tan, vi sinh vật kích thích quá trình quang hợp, vi
sinh vật kháng bệnh Kết hợp với các sản phẩm hữu cơ có nguồn gốc tự
nhiên như: Than bùn, bùn thải từ các ao hồ, rác thải trong sinh hoạt, các sản
phẩm phụ nông nghiệp Qua quá trình phân giải tạo mùn và cung cấp các
nguyên tố cần thiết cho cây trồng, đồng thời có tác dụng cải thiện độ phì cho
đất, bảo vệ môi trường.
Nền nông nghiệp thế kỷ 21 là nền nông nghiệp sạch, nền nông nghiệp
sinh thái. Nhiệm vụ của loài người là phải tạo nên một nền nông nghiệp bền
vững trong đó giảm tối đa các chất phế thải, cũng như giảm tối đa việc mất
chất dinh dưỡng để không làm ô nhiễm môi sinh, ngăn chặn việc thải nitotrat
vào nguồn nước uống, ngăn việc thải các chất oxit nito bắt nguồn từ quá trình
khử đạm trong nông nghiệp để làm phá hoại tầng ozon. Nông nghiệp thế kỷ
21 cùng với việc sử dụng tối thích phân hóa học phải làm cho đất phát huy
tích cực hơn. Đất trở thành nơi đồng hóa chất thải, biến chất thải thành nguồn
các chất dinh dưỡng. Trong việc nghiên cứu phân bón không chỉ chú ý đến
việc tăng năng suất mà phải đánh giá chất lượng sản phẩm. Biện pháp bón
phân đưa ra phải không gây ô nhiễm môi trường sống, để vừa đảm bảo tăng
được sản lượng mà vẫn đảm bảo chất lượng cũng như môi trường. Ta phải
bón phân hợp lý phù hợp cho mỗi loại cây trồng, mỗi giai đoạn sinh trưởng,
mỗi loại đất, nước và mùa vụ khác nhau…Tuy nhiên cũng phải bón đúng
9
chủng loại, đúng lúc, đúng đối tượng, đúng thời vụ, đúng cách bón và bón
2012 57,27 193,133 1106,13
(Nguồn: FAOSTAT, 2014)[12]
Theo thống kê của FAO, diện tích trồng rau năm 2008 là 52,81 triệu ha
nhưng đến năm 2012 đã mở rộng lên tới 57,27 triệu ha, tăng so với năm 2008
là 4,46 triệu ha, tăng 8,45% so với năm 2008. Như vậy, diện tích trồng rau
trên thế giới đang tăng lên, nguyên nhân là do người nông dân đang chuyển
một phần diện tích trồng cây ngũ cốc và cây lấy sợi sang trồng rau.
10
Năng suất rau bình quân trên thế giới không biến động nhiều đạt từ
188,413 - 193,133 ta/ha qua 5 năm, bởi diện tích trồng rau hiện nay không tập
trung về tăng năng suất mà chú trọng hơn đến viêc tăng chất lượng sản phẩm.
Về sản lượng rau hàng năm thu được theo chiều hướng tăng dần tính
đến năm 2012 đạt 110,61 triệu tấn, tăng hơn so với năm 2008 là 111,15 triệu
tấn, tương đương 11,17%. Sở dĩ trong những năm từ 2008 đến năm 2011 sản
lượng rau tăng nhanh như vậy là do diện tích trồng trong những năm gần đây
tăng lên và do người trồng rau đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên
tiến đến phục vụ sản xuất.
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất rau Châu Á
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
( ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
( tấn)
2008 38.072.963 197 750.126.706
2009 38.843.676 197 765.562.963
vậy thị trường rau trên thế giới chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ. Trong
những năm qua nhu cầu nhập khẩu rau bình quân trên thế giới tăng 1,8% mỗi
năm. Các nước và vùng lãnh thổ có nhu cầu nhập khẩu rau cao đó là Pháp,
Đức, Canada. Một số nước có lượng rau xuất khẩu lớn nhất trên thế giới đó là
Trung Quốc, Italia, Hà Lan. Theo dự báo cảu FAO ước tính đến năm gần đây
giá xuất khẩu rau tươi tăng cao, như vậy rau tươi là một trong những mặt
hàng nông nghiệp xuất khẩu có giá trị, hơn nữa nhu cầu rau trên thế giới ngày
một tăng, bởi vậy rau có vị trí lớn trên thị trường thế giới.
2.2.2. Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Tác giả Tạ Thu Cúc cho biết, nước ta có lịch sử trồng rau từ lâu đời,
ngay từ đời vua Hùng người ta đã phát hiện thấy bầu, bí được trồng trong
vườn gia đình. Theo sổ sách ghi chép rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ X.
Thế kỷ X các vùng trồng chuyên canh rau đã được hình thành và phát triển.
Mặc dù nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề trồng lúa
nước nhưng sản xuất rau còn manh mún, các chủng loại rau còn nghèo nàn,
diện tích và sản lượng rau thấp so với tiềm năng đất đai khí đất đai, khí hậu
Việt Nam.
So với các loại cây trồng khác thì sản xuất rau đem lại hiệu quả kinh tế
khá cao. Theo các kết quả nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước KC.06.10 NN
trong giai đoạn 2001 - 2004, mỗi ha trồng lúa nước ở đồng bằng sông Hồng
thu nhập bình quân 10,2 - 11,6 triệu đồng/ha/2 vụ, nếu trồng thêm một vụ rau
đông với thu nhập bình quân 21 triệu đồng sẽ gần gấp đôi hai vụ lúa (Trần
Khắc Thi, 2003) [8].
12
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam 2008 - 2012
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
rau lại tăng lên 9.439.000 tấn. Sản lượng rau của nước ta được thu chủ yếu từ
2 vùng chính đó là vùng chuyên canh rau ven thành phố và vùng rau luân
canh với cây lương thực.
13
Tuy nhiên, cùng với sự hình thành và phát triển của các thành phố, khu
công nghiệp, khu dân cư thì các vùng trồng rau mới cũng được hình thành và
phát triển nhằm cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng.
2.3. Tình hình sản xuất sử dụng phân bón trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất sử dụng phân bón trên thế giới
Phân bón có vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
Ngay từ thời cổ đại, người Trung Quốc và Hi lạp đã biết sử dụng tro đốt và
phân chăn nuôi để bón cho cây trồng.
Trên thế giới việc xử lý phế thải chăn nuôi được quan tâm đáng kể,
hiện nay phương pháp khí sinh học sản xuất từ phế thải chăn nuôi được sử
dụng tương đối rộng rãi tại các cơ sở chăn nuôi nhỏ ở các nước như Trung
Quốc, Ấn Độ, Nêpan hoặc các trang trại tập trung ở Đức, Mỹ. Ưu điểm của
phương pháp là dễ làm, đầu tư ít ở quy mô nhỏ 9 (www. vnexpress.net) [14].
Trước năm 1970, công ty Groeikraga Organic Fertilizea ở Nam Phi đã
sản xuất phân ủ (compost) từ nguồn nguyên liệu là phân chim và amoni
carbonat. Năm 1982, Công ty Dickerson Composting Plant ở Mỹ đã sản xuất
100.000 tấn compost trị giá 7.000.000 USD. Theo T.C Juang, từ năm 1986 ở
Đài Loan đã phát triển sản xuất compost. Hàng chục loại compost được tung
ra thị trường phục vụ cho sản xuất thuốc lá, chè, ngô Cũng như Đài Loan,
các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Philippin, Indonesia đã sản xuất
và sử dụng compost rộng rãi cho nhiều loại cây trồng: cọ dầu, cao su, mía,
lúa Tại ấn Độ sản lượng phân hữu cơ từ các nguồn phế thải khác nhau là
1750 triệu tấn đạt giá trị hàng hoá 536 triệu USD. Tại Thái Lan số lượng phân
hữu cơ do các cơ sở nhà nước sản xuất là 24.000 tấn cùng với 100.000 tấn do
các công ty tư nhân sản xuất. (Phạm Văn Toản, Trần Huy Lập, Nguyễn Kim
an toàn. Kết hợp các tiến bộ kỹ thuật về phân bón vi sinh vật, phân bón sinh
học và kiểm soát sinh học dịch hại cây trồng, tạo ra giải pháp tổng hợp chăm
bón cây và đất trồng là xu hướng phát triển chính của nền nông nghiệp hữu cơ
bền vững, trong đó phân vi sinh vật là yếu tố cơ sở quan trọng.(Nguyễn Minh
Hưng và cs, 2007) [7].
Sản phẩm phân bón vi sinh vật trong tương lai không xa sẽ được tạo ra
từ tổ hợp các vi sinh vật nhiều hoạt tính. Khi đó vi sinh vật trong phân bón
vừa có nhiệm vụ cung cấp, chuyển hóa chất dinh dưỡng, tạo điều kiện cho cây
trồng sử dụng dinh dưỡng hiệu quả hơn, vừa có tác dụng nâng cao độ phì của
đất trồng, giảm thiểu các tác động sinh học và không sinh học bất lợi đối với
cây và đất trồng.
15
Mặt khác, môi trường ở nước ta hiện nay đang là vấn đề cấp thiết cần
được quan tâm, đặc biệt phế thải chăn nuôi, ngoài việc gây ô nhiễm môi
trường thì việc giảm năng suất chăn nuôi là điều không tránh khỏi. Chính vì
vậy, các nghiên cứu của Viện Chăn nuôi, Viện Công nghệ Môi trường kết hợp
Viện Thú y Quốc gia và chương trình Asia ProEco của liên minh Châu Âu tại
Việt Nam đã tập trung vào việc đánh giá mức độ ô nhiễm trong chăn nuôi và
xác định hầu hết phế thải chăn nuôi của Việt Nam không được xử lý.
Trong số các phế thải chăn nuôi chỉ có khoảng 50% được xử lý bằng
các biện pháp truyền thống, số còn lại được người dân sử dụng trực tiếp
không qua xử lý. Nồng độ khí H
2
S và NH
3
tổng số vi sinh vật, bào tử nấm, vi
trùng gây bệnh cho gia súc và người trong đất, nước, không khí tại các khu
vực chăn nuôi và vùng phụ cận đều cao hơn mức cho phép từ vài lần đến
hàng chục lần, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (www. vnexpress.net)