1
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 .Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là thực phẩm không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của
con người. Bởi chúng cung cấp phần lớn các chất: vitamin, protein, khoáng,
đường, tinh bột, chất xơ,…Đó là những chất dinh dưỡng không thể thiếu đối
với hoạt động sinh lí của con người, góp phần cân bằng dinh dưỡng và kéo
dài tuổi thọ. Đồng thời, rau con là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, là
mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước.
Trước tình hình thế giới hiện nay, dân số ngày càng tăng nhu cầu về
lương thực,thực phẩm ngày càng lớn.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế -
xã hội, đời sống của con người được nâng cao chất lượng lương thực thực
phẩm nên buộc ngành nông nghiệp phải sản xuất rau nhiều hơn.
Vì vậy, bón phân là một rong những biện pháp làm tăng năng suất cây
trồng để đáp ứng nhu cầu của con người. Trong vài thập niên gần đây, phân
hóa học chiếm lĩnh chủ yếu trong các loại phân được sử dụng trong sản xuất
nông nghiệp của hầu hết các nước trên thế giới. Trong khi đó, Việt Nam là
một trong những nước nhập khẩu phân bón nhiều. Hàng năm, chúng ta đã
nhập khẩu 90 – 93% lượng phân đạm, 30 – 35% lượng phân lân, 100% lượng
phân Kali (Đường Hồng Dật, 2003) [2].
Tuy vậy, phân bón vẫn bị người dân sử dụng một cách lãng phí do thiếu
kiến thức, do quan niệm sai lầm, do chưa hiểu hết tác dụng của bón phân hợp
lí,…chính vì vậy, hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm chỉ đạt 30 – 40%,
phân lân và kali chỉ đạt 50% (Đường Hồng Dật, 2003)[2].
Sử dụng hóa học liên tục, không hợp lí, cân đối,thiếu hiểu biết đã dẫn
đến dư lượng nitrat tồn dư trong các sản phẩm nông sản cao gây ra nhiều ảnh
hưởng tới sức khỏe của người tiêu dùng.
1
2
Theo những kết quả nghiên cứu của giới y học , sản xuất rau không thể
trong rau đã được coi là một chỉ tiêu quan trọng để
đánh giá rau “sạch” do một số tổ chức quốc tế, một số nước quy định ngưỡng
hàm lượng NO
3
-
trong rau đố cũng là tiêu chuẩn để các nước đánh giá chất
lượng rau xuất nhập khẩu. Ở nước ta đây cũng là chỉ tiêu khiến cho ngành
xuất khẩu rau trong nước đã nhiều lần phải điêu đứng vì bị làm mất uy tín với
khách hàng gây thiệt hại nhiều cho người sản xuất.
Ngoài rau xuất khẩu, chất lượng rau dùng cho nhu cầu trong nước cũng
có nhiều vấn đề. Ngày nay, khi mức sống của nhân dân ngày càng được cải
thiện thì nhu cầu rau “ sạch” càng tăng lên, do đó việc nghiên cứu sản xuất
rau an toàn, phục vụ cho nhu cầu nhân dân là rất cần thiết.
Mặc dù hàm lượng NO
3
-
trong rau chiụ ảnh hưởng của nhiều yếu tố: Loại
rau, khí hậu, điều kiện canh tác (phân bón, thuốc trừ cỏ, đất đai,…)…Trong
đó phân bón ảnh hưởng lớn nhất tới hàm lượng NO
3
-
trong rau. Bởi vậy, các
nghiên cứu cũng tập trung vào hàm lượng NO
3
-
trong rau.
Thái Nguyên là một trong những tỉnh trung du miền núi phía Bắc, ở đây
có những điều kiện thuận lợi cho sản xuất rau phát triển, nhưng sự phát triển
của nó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng đó. Về diện tích, năng suất, sản
2
4
1.2. Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài
1.2.1. Mục đích
- Xác định liều lượng bón đạm thích hợp cho rau cải canh nhằm đạt năng suất
và hiệu quả kinh tế cao mà dư lượng NO
3
-
dưới ngưỡng cho phép.
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây rau cải canh ở
các công thức bón đạm khác nhau.
- Đánh giá mức độ sâu bệnh hại.
- Phân tích dư lượng NO
3
-
1.2.3. Ý nghĩa
- Các kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến năng suất và hàm lượng
NO
3
-
trong rau làm cơ sở khoa học cho các biện pháp kĩ thuật bón phân cân
đối, hợp lí góp phần làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình sử dụng phân bón
trong sản xuất rau nói chung, sản xuất rau cải canh an toàn nói riêng.
- Các kết quả nghiên cứu bón phân cân đối hợp lí bón cho rau sẽ được áp dụng
có hiệu quả trên đất trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
4
5
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
nước, vi sinh vật và mùa vụ khác nhau…đòng thời, bón đúng chủng loại,
đúng lúc đúng cách đúng nông độ, liều lượng, đảm bảo hời gian cách ly. như
vậy, sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng phí và bảo vệ
môi trường.
2.2. Giá trị của cây rau
2.2.1. Giá trị dinh dưỡng
Rau là một loại thực phẩm rất cần thiết trong cuộc sống hàng ngày
của con người. rau là một loại thực phẩm không thể thay thế được bởi lẽ, rau
cung cấp rất nhiều chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của con
người như: protein, vitamim, muối khoáng…trong các loại rau gia vị còn có
chất kháng sinh, các chất thơm, các axit hữu cơ, trong đó rau chứa hàm lượng
vitamim và chất khoáng cao hơn hẳn một số cây trồng khác. So sánh thành
phần dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc A.M.Shidique, 1985 đã cho thấy
rau đặc biệt là rau ăn lá có hàm lượng vitamim và chất khoáng cao hơn lúa và
lúa mì nhiều lần (Bùi Quang Xuân, 1997)[13]
Bảng 2.1: Giá trị dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc
(tính trong 100g trọng lượng tươi)[13]
Cây
Độ ẩm
(%)
Cacbon
Hydrate
(g)
Protein
(g)
Calo
(Kcalo)
Khoáng (mg)
Caroten VTMC Canxi Fe
Lúa 12,6 77,4 8,5 349 0,009 0 10 2,8
một phần năng lượng tuy không nhiều nhưng điều đáng chú ý là protit ở rau
chứa nhiều lizin (khoảng 5 -7%) và mỗi loại rau có tỉ lệ axit amin khác nhau
nên khi ăn rau nhất là một lúc nhiều loại rau sẽ có tác dụng lớn trong việc
nâng cao giá trị sử dụng protit của rau.
Các chất xơ trong rau giúp cho sự tiêu hóa được điều hòa, chống táo bón
và giữ được cảm giác no lâu.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học để đáp ứng cho sự bình thường,
mỗi người cần 250 -300g rau xanh trên ngày, khoảng 80 -100kg/năm. Trong
khi đó, theo thống kê ở nước ta mới cung cấp được 60g/người/ngày (trân
Khắc Thị, Trần Ngọc Hùng, 2006)[8]. Như vậy, mới đáp ứng được 20 -30%
nhu cầu về rau.
7
8
Bảng 2.2: Thành phần chất dinh dưỡngtrong 100g rau ở một số loại rau
Loại rau
Thành phần hóa
học
(%g)
Calo
(100g
)
Muối
khoáng
(mg%)
Vitamin
(mg%)
Pr H
2
0 Glu Xlu Ca P Fe
Carot
1,
6
0,50 0,2
9
0,1
8
3
Cải bắp 1,8 90,0 5,4 1,6 30 48,
0
31,
0
1,
1
0,01 0,0
6
0,0
5
3
6
Rau
muống
3,2 92,0 2,5 1,5 23 100 37,
0
1,
4
2,90 0,0
4
0,0
9
3
0,30 0,0
3
0,0
4
5
(Nguồn: Bảng thành phần hoá học thức ăn Việt Nam năm 1972)
2.2.2.Giá trị kinh tế
- Rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao:
Giá trị sản xuất một ha rau gấp 2-3 làn so với 1ha lúa (Tạo Thị Cúc,
2006)[1]. Hiệu quả lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào trình độ người sản xuất,
công nghệ sản xuất, kinh nghiệm và chủng lọai rau. Nhìn chung, cây rau có
thời gian sinh trưởng ngắn, có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm do đó sản
lượng trên đơn vị diện tích tăng.
8
9
- Rau là cây lương thực:
Khoai tây được coi là một trong những cây thực trên thế giới sau lúa,
ngô, mì, gạo, mạch. Khoai tây là nguồn tinh bột chủ yếu của nhiều nước. Một
vài loài cây trồng có hàm lượng tinh bột cao cũng được sử dụng như cây
lương thực: khoai sọ, củ từ…
- Rau là một loại hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao
Rau là loại mặt hàng xuất khẩu quan trọng, thu ngoại tệ mạnh của nhiều
nước trên thế giới. sản phẩm rau xuất khẩu có thể là tươi sống hoặc đã qua
chế biến như: cà chua, dưa chuột, nấm, hành tây, cải bắp, ớt, tỏi…nhưng tình
hình xuất khẩu rau của nước ta còn rất hạn chế về chủng loại, chất lượng, mẫu
mã, bao bì và thị trường tiêu thụ. Vì vậy, nguồn thu ngoại tệ từ ngành rau quả
còn ít. Năm 2000 kim ngạch xuất khẩu rau của cả nước là 200 triệu USD,
năm 2003 là 150 triệu USD và dự tính đến năm 2010 là 47 triệu USD
(Nguyễn Văn Nam, 2005)[5]
Qua một vài số liệu trên cho thấy thành tựu của ngành rau quả Việt Nam
Ngoài những mặt ưu điểm ngành sản xuất rau còn những hạn chế sau:
- Giá trị năng lượng thấp: Trung bình 4kg khoai tây, 5kg đậu Hà Lan, 9kg su
hào chỉ có năng lượng tương đương 1kg gạo (Bùi Bảo Hoàn, Đào Thanh Vân,
2000)[4]
- Rau chứa nhiều nước (70 – 90%), chứa nhiều chất dinh dưỡng nên dễ biến
chất trong khi vận chuyển, chế biến và bảo quản.
- Thành phàn dinh dưỡng trong rau phong phú nhưng lại luôn thay đổi
theo điều kiện thời tiết, khí hậu, gống và kỹ thuật trồng trọt.
Vì vậy trong sản xuất rau cần chọn giống tốt, áp dụng các biện pháp kỹ
thuật tiên tiến làm cho giá trị dinh dưỡng của rau không ngừng tăng lên và
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
10
11
2.3. Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp
Bằng kinh nghiệm sản xuất của mình nông dân Việt Nam đã đúc kết “
nhất nước , nhì phân, tam cần, tứ giống”. Câu nông giao trên đã khẳng định
vai trò của phân bón trong hệ thống liên hoàn tăng năng suất cây trồng. Phân
hóa học không chỉ có nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng sinh
trưởng và phát triển mà còn có tác dụng tăng chất hưu cơ cho đất thông qua
việc làm tăng sinh khối cây trồng. Toàn bộ sinh khối nếu được trả lại cho đất,
độ phì của đất sẽ được ổn định và nâng cao dần.
Trong mấy thập kỷ vừa qua năng suất cây trông đã không ngừng tăng
lên, ngoài vai trò của giống mới, phân bón cũng có vai trò quyết định. Giống
mới chỉ có thể phát huy được tiềm năng, cho năng suất cao nhất khi được bón
đầy đủ và hợp lí. FAO đã tổng kết bón phân không cân đối làm giảm hiệu suất
sử dụng 20-50%. Kết quả trong thí nghiệm và mô hình ở nước ta trong mấy
năm qua cho thấy nếu NPK cân đối so với chỉ bón đạm, năng suất lúa trên đất
bạc màu có thể tăng 100 – 200%. Kỹ nghệ phân bón không chỉ chú ý đến
đạm, lân, kali mà phải chú ý đầy đủ đến các nguyên tố khác như lưu huỳnh
(S), magie (Mg), với các nguyên tố vi lượng như: Mo, Bo, Mn, Fe…
chủng loại, đúng lúc, đúng đối tượng, đúng thời vụ, đúng cách bón và bón
theo nhu cầu của cây. Ngoài ra để tăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh
tế cao nhất thì chúng ta cũng phải có những biện pháp làm hạn chế tối đa
lượng phân bón dư thừa trong đất do bón quá liều. Như vậy sẽ góp phần tăng
hệu suất sử dụng phân bón, tránh lẵng phí và ô nhiễm môi trường.
2.3.1. Sơ lược về tình hình sản xuất rau và sử dụng phân bón trên thế giới
và Việt Nam
2.3.1.1. Sơ lược về tình hình phát triển rau trên thế giới và Việt Nam
a. Trên thế giới
Trên thế giới rau đã trồng từ rất lâu đời từ thời xa xưa người Hi Lạp, Ai
Cập cổ đại đã biết trồng và sử dụng rau như một nguồn lương thực.
Hiện nay nhiều nước trên thế giới trồng rất nhiều loại rau, diện tích trồng
rau ngày một tăng để đáp ứng nhu cầu rau xanh tăng lên của nhân dân.
Theo số liệu thống kê của FAO năm 2011 cho thấy năng suất, diện tích,
sản lượng trong các năm gần đây tăng được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ 2001 - 2009
12
13
Năm 2001 2003 2005 2007 2009
Diện tích
(ha)
15392074 17120211 16679432 17262601 17873286
Năng suất
(tấn/ha)
149243 140038 140331 142570 139085
Sản lượng
(tân)
229717419 239749294 234065012 246113819 248591881
(Nguồn: FAOSTAT, 2010)
Năm 2001, diện tích trồng rau trên toàn thế giới đạt 15,4 triệu ha, năng
triệu tấn. Diện tích trồng rau tiếp tục tăng đến 2007, sau đó giảm xuống còn
524937 ha vào năm 2009. Năng suất dao động không lớn nhưng có xu hướng
giảm dần qua các năm. Sản lượng tăng cao nhất đạt 6,6 triệu tấn vào năm
2005. Sau đó giảm xuống và đạt 6,3 triệu tấn vào năm 2009.
2.3.1.2. Sơ lược về ình hình sản xuất sử dụng phân bón trên thế giới và Việt Nam
Phân bón có vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Ngay từ
thời cổ đại, người Trung Quốc và Hi lạp đã biết sử dụng tro đốt và phân chăn nuôi
để bón cho cây trồng. Tiêu thụ phân hóa học tăng mạnh là một trong những
nguyên nhân làm tăng giá phân bón. Theo Hiệp hội phân bón thế giới, mức tiêu
thụ phân bón toàn cầu đã tăng đều qua các năm và đạt 155.438.000 tấn quy về
dinh dưỡng nguyên chất(N +P2O5 +K2O) vào năm 2005, tăng 19,75% so với
năm 1995 và 3,87% so với năm 1961. Gần đây mơcs tiêu thụ tại các nước đang
phát triển tăng mạnh, trong khi các nước phát triển lại có xu hướng giảm. Trung
Quốc là nước tiêu thụ nhiều phân bón nhất thế giới với tổng lượng 46.204.100 tấn
năm 2005, chiếm tỉ lệ 29,7% so với toàn cầu.
Các số liệu khảo sát cho thấy, bình quân các nước châu Á sử dụng phân
khoáng nhiều hơn nhiều hơn bình quân thế giới. Tuy nhiên, Ấn Độ(nước có khí
hậu nóng) lại dùng phân khoáng ít hơn bình quân toàn châu Á. Trong đó Trung
Quốc và Nhật Bản lại sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân toàn châu Á.
Việt Nam là nước sử dụng nhiều phân khoáng trong số các nước ở Đông Nam Á.
Bảng 2.5: Tình hình sử dụng phân bón ở một số nước Đông Nam Á
STT Nước Lượng NPK sử dụng(kg/ha)
1 Việt Nam 241,82
14
15
2 Malaysia 192,60
3 Thái Lan 95,83
4 Philippin 65,62
5 Indonesia 63,0
6 Myanma 14,93
-
3
tới sức khỏe và tuổi thọ của con người.
Từ xa xưa, nhân dân ta đã khẳng định “cơm không rau như đau không
thuốc”. Đặc biệt là phụ nữ ăn nhiều rau củ có màu xanh sậm hoặc vàng làm
giảm nguy cơ bị bệnh đục nhân mắt.
Việc tích lũy NO
-
3
trong mô cây không gây độc với cây trồng nhưng nó
có thể làm hại gia súc, người, đặc biệt là trẻ em khi sử dụng cây trồng có hàm
lượng NO
-
3
cao. Hiện nay vấn đề chất lượng rau là một vấn đề hết sức đáng lo
ngại. Những năm gần đây do nhu cầu của thị trường ngày càng cao về số
lượng cũng như ngoại hình sản phẩm, về phía người nông dân lại muốn đảm
bảo hoặc tăng năng suất cây trồng nên các loại thuốc bảo vệ thưc vật, kích
thích tăng trưởng ngày cang được sử dunh rộng rãi. Tuy nhiên, nhiều người
không hiểu biết gì về tác hại của chất tồn dư bảo vệ thực vật và phân bón nên
đã sử dụng bừa bãi. Bên cạnh đó cũng không ít người vì mục đích lợi nguận
đã bỏ qua những cảnh báo về sự độc hại mà lạm dụng hóa chất trong trồng
trọt. Và hiện nay dư lượng nitrat trong rau đang là một vấn đề nóng hổi đang
được dư luận và xã hội hết sức quan tâm. Đây là một mối nguy hại tới sức
khỏe của con người cần sớm có hướng giaỉ quyết. Nitrat khi vào cơ thể sẽ
biến thành nitrit. Nitrit kết hợp với hồng cầu có thể tạo ra một chất ngăn cản
sư vận chuyển oxy trong cơ thể. Và nitrit tích tụ lâu ngày sẽ bùng phát mạnh
mẽ thành các khối u như: ung thư dạ dày. Ung thư vòm họng…Việc ngâm
nước muối chỉ diệt được các vi khuẩn gây chứng tiêu chảy , kiết lỵ…chứ
không làm mất đi các chất có độc tố cao như nitrat (Phạm Thị Thùy, 2006)
ngưỡng hàm lượng NO
-
3
trong rau.
Do tính độc của NO
-
3
hấp nên khó đưa ra ngưỡng hàm lượng NO
-
3
trong
rau cũng như trong các loại lương thực, thực phẩm. Mặt khác tính độc này
còn phụ thuộc vào lượng NO
-
2
được tạo ra từ NO
-
3
. Vì vậy các tác giả đưa ra
các ngưỡng hàm lượng rất khác nhau. Theo tổ chức y ế thế giới (WHO) và
cộng đồng kinh tế châu Âu (EC) đã giới hạn hàm lượng NO
-
3
trong nước uống
là dưới 50mg/lít (Phạm Thị Thùy, 2006)[12]. Đối với người lớn nặng 60kg
liều lượng NO
-
3
chấp nhận được là 220- 440mg còn NO
-
Hành tây 80
Cà chua 300
Dưa chuột 150
Khoai tây 250
Xalat 2000
(Nguồn: FAOSTAT, 1993)
Chế biến rau cũng ảnh hưởng đến lượng NO
-
3
trong rau. Lượng NO
-
3
trong rau spinash khi nấu chỉ còn 75 – 80 % (Bùi Xuân Quang, 1997)[13].
Bởi vậy, rau ăn sống, xalat có nguy cơ hấp thụ lượng NO
-
3
cao hơn.
Bảng 2.7: Ngưỡng giới hạn hàm lượng NO
-
3
trong rau của CHLB Nga
(Phạm Thị Thùy, 2006)
Tên rau
Ngưỡng giới hạn NO
-
3
(mg/kg
rau tươi)
Dưa hấu 60
Dưa bở 90
thế giới quan tâm và nghiên cứu.
Theo các kết quả nghiên cứu đã cho thấy các loại giống cây trồng khác
nhau thì hàm lượng NO
3
-
trong cây cũng khác nhau. Trong khi các loại như
luá mì, đậu tương, lúa gạo, ngô có hàm lượng NO
-
3
thấp thì các loại rau lại
được coi là tích lũy NO
-
3
cao cần được chú ý (O.C.Lozenz, 1987). Nhiều tác
giả cho rằng hàm lượng NO
-
3
trong rau ăn lá cao hơn các loại rau ăn quả và ăn
củ. Các loại rau có hàm lượng NO
-
3
cao phải kể đến: cải bắp. xà lách, cần tây.
Hàm lượng NO
-
3
còn phụ thuộc vào vị trí lấy mẫu trên cây. NO
-
3
tich luỹ
trong cây rau theo thứ tự sau: thân > rễ > lá > hoa. Lá rau bánh tẻ, lá ngoài
3
/ha thì hàm lượng NO
-
3
tăng từ 318mg/kg (không bón) lên tới
3547mg/kg~152mg/kg, củ cải tăng từ 960mg/kg (không bón) lên
2160mg/kg~129mg/kg, dưa chuột: không bón là 153mg/kg, sau bón thì hàm
lượng NO
-
3
lên tới 527~39mg/kg.
b. Tình hình nghiên cứu trong nước
Cuối thập niên 80 đặc biệt sau năm 1988 khi đất nước ta có chính sách
đổi mới đến nay nền kinh tế phát triển nhanh, đời sống người dân ngày càng
được cải thiện, khoa học nông nghiệp đã thêm những bước đi mới. ngoài
phương hướng nghiên cứu làm tăng năng suất cây trồng, vấn đề chất lượng
nông sản và bảo vệ môi trường ngày càng được đặc biệt chú trọng
Theo phân tích của viện nghiên cứu rau quả trong những năm gần đây ở
một số vùng sản xuất rau chuyên canh ven thành phố và ven khu công nghiệp
một số loại rau có hàm lượng NO
-
3
tồn dư cao, một số vượt qua ngưỡng cho
phép. Theo Vũ Thị Đào (2004), khi tìm hiểu tồn dư NO
-
3
trong rau của vùng
trọng điểm của huyện Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì cho thấy: tồn dư NO
-
3
mẫu có chứa hàm lượng NO
3
thấp nhất 62-82ml/mg.
Theo thống kê của Sở Khoa học – công nghệ Hà Nội vào các năm 2003-
2004 tại các chợ nội thành Hà Nội và một số cơ sở sản xuất cho thấy tồn dư
NO
3-
trong bắp cải, su hào, hành tây, súp lơ, củ cải, đậu ăn quả, ớt ngọt, cà
chua, sà lách, dưa chuột… dều vượt mức cho phép.
Nguyễn Văn Hiền và cộng sự 2006 khi nghiên cứu tồn dư NO
3-
trong các
nhóm rau trồng ở các vùng rau ngoại thành Hà Nội đều phatrs hiện thấy tồn
dư NO
3-
trong rau người dân sản xuất vượt ngưỡng quy định và cao hơn nhiều
lần so với trồng rau theo quy trình sản xuất rau sạch của Sở Khoa học công
nghệ vá Môi Trường Hà Nội đã ban hành.
Theo kết quả kiểm tra thực hiện các quy định về quản lý và chứng nhận
rau an toàn tại Hà Nội của Cục bảo vệ Hà Nội trong tháng 10 năm 2007 rau
cải xanh và cải ngọt là hai loại rau có dư lượng nitrat vượt ngưỡng cho phép
khá cao: rau cải xanh 559.59mg/kg, rau cải ngọt 655.92mg/kg (dư lượng
nitorat cho phép là dưới 500mg/kg)
Nguyên nhân làm cho lượng nitrat tích lũy trong rau như: giống, phân
bón, nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, phương pháp thu hoạch, thời gian thu hoạch,
phương pháp bảo quản. trong đó nguyên nhân chủ yếu được nhiều nhà khoa
21
22
học nhận định là phân bón nhưng mỗi loại phân bón khác nhau cũng gây nên
- Giống tham gia thí nghiệm: cải xanh
- Phân đạm: sử dụng đạm Ure 46% N, phân vi sinh, phân chuồng hoai mục.
- Dụng cụ: bình ôdoa, bình phun thuốc…
3.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: tại khu công nghệ cao khoa Nông Học trường
Đại Học Nông Lâm Thái Nghiệp.
- Thời gian nghiên cứu: tháng 7 đến tháng 12 năm 2011.
- Thời gian tiến hành thí nghiêm: từ ngày
3.1.3. Đặc điểm đất đai thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí trên đất canh tác tại khu công nghệ cao khoa
Nông Học, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên. Địa hình bằng phẳng
nền đất cao đồng đều, giữ ẩm, đất thịt nhẹ giàu dinh dưỡng.
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất và dư lượng
NO
-
3
trong rau cải xanh.
3.3. Phương pháp nghiên cứu.
3.3.1. Bố trí thí nghiệm.
Thí nghiệm gồm 5 công thức, 3 lần nhắc lại ở các mức liều lượng bón
khác nhau:
CT
1
: 0 N + nền
CT
2
: 60 N + nền
CT
3
- Gieo hạt:
+ Làm đất nhỏ, mịn, san phẳng, đường kính hạt 2 - 2,5mm.
+ Giống phải được xử lý trước khi gieo bằng cách: ngâm trong nước ấm
từ 25 đến 30 phút. Sau đó vớt ra để ráo nước, trôn với đất nhỏ mịn rồi gieo.
Sau khi gieo phủ một lớp đất mịn rồi phủ rơm, rạ lên trên.
+ Tưới nước để giữ ẩm.
- Sau 25 ngày gieo tiến hành đánh cây giống ra trồng với khoảng cách
15cm x 20cm.
- Bón phân.
Bảng 3.1: Khối lượng phân bón
24
25
Loại phân
Tổng lượng
phân bón
(kg/sào)
Bón lót
(%)
Bón thúc (kg)
Lần I
(%)
Lần II
(%)
Lần III
(%)
Lần IV
(%)
Phân đạm Tùy CT 30 15 20 15 20
Phân lân 2,88 100 - - - -
Phân Kali 3,96 30 15 15 20 20