Đánh giá ảnh hưởng của nướcthải khu công nghiệp Gang Thép đến chất lượng nước suối Cam Giá thành phố Thái Nguyên. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRẦN THỊ HÀ MY

Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA KHU CÔNG NGHIỆP GANG THÉP
ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SUỐI CAM GIÁ THÀNH PHỐ THÁI
NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010-2014

Thái Nguyên, năm 2014

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nguyên nghĩa
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BOD Nhu cầu oxy hóa sinh hóa
BTC Bộ tài chính
BTNMT Bộ Tài nguyên – Môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
COD Nhu cầu oxy hóa hóa học
DO Nhu cầu oxy hòa tan
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
GDP Tốc độ tăng trưởng kinh tế
KCN Khu công nghiệp
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
TSS Các chất lơ lửng
TTLT Thông tư liên tịch
UBND Ủy ban nhân dân

MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích của đề tài 2
1.3.Ý nghĩa của đề tài 2
1.4. Yêu cầu của đề tài 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

4.2.1. Nhà máy Cốc hóa 26
4.2.2. Nhà máy Cán Thép Lưu Xá 37
4.2.3. Nhà máy Luyện Thép Lưu Xá 40
4.2.4. Nhà máy Luyện Gang. 43
4.3. Đánh giá chất lượng nước thải KCN Gang Thép – Lưu Xá tại điểm thải 46
4.4. Đánh giá chất lượng nước suối Cam Giá 49
4.4.1. PH 50
4.4.2. DO 50
4.4.3. BOD
5
51
4.4.4. COD 52
4.4.5. Fe 52
4.4.6. Zn 52
4.5. Đề xuất các biện pháp khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước
khu vực nghiên cứu 53
4.5.1. Giải pháp về quản lý 53
4.5.2. Giải pháp về công nghệ 54
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1.Kếtluận 56
5.2. Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
I. Tiếng Việt 58
II. Tiếng Anh 59 DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Hệ số dòng chảy theo đặc điểm mặt phủ 40


Hình 4.9: Biến động của PH có trong nước thải suối Cam Giá tại 3 điểm 50

Hình 4.10: Biến động của DO có trong nước thải suối Cam Giá tại 3 điểm 50

Hình 4.11: Biến động của BOD
5
có trong nước thải suối Cam Giá tại 3 điểm
51

Hình 4.12: Biến động của COD có trong nước thải suối Cam Giá tại 3 điểm
52

1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, môi trường toàn cầu có nhiều biến đổi theo
chiều kinh tế xã hội của nhiều nước, làm mất cân bằng sinh thái trên đất. Vì
vậy vấn đề phát triển bền vững đang là vấn đề đặc biệt quan tâm đối với nhiều
quốc gia và tổ chức, nhằm đảm bảo sự cân bằng hài hòa trong phát triển kinh

lượng nước suối Cam Giá.
- Đề xuất một số biện pháp khắc phục cải thiện chất lượng nước suối
Cam Giá.
1.3.Ý nghĩa của đề tài
- Thời gian thực hiện: từ 20/02/2013 – 20/4/2014.
- Phạm vi nghiên cứu: khu vực dọc suối Cam Giá.
* Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Áp dụng những kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế.
- Học được phương pháp nghiên cứu, cách nêu vấn đề và giải quyết vấn
đề theo cách hiểu.
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra kinh nghiệm phục vụ cho công
tác sau này.
- Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu rèn
luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu.
*Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài trang bị cho em những kiến thức cơ bản về ô nhiễm môi trường
nước, làm cơ sở cho đánh giá về tài nguyên nước mặt nói riêng và tài nguyên
nước nói chung.
- Đề tài giúp cho việc đánh giá ảnh hưởng của nguồn nước thải KCN
Gang Thép tới chất lượng môi trường nước suối Cam Giá, từ đó đề xuất các
biện pháp phù hợp cải thiện, nâng cao chất lượng nước suối Cam Giá.
1.4.Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt trên địa bàn suối
Cam Giá.
- Kết quả và số liệu đánh giá chính xác, trung thực, khách quan.

3
- Những kiến nghị đề xuất giải pháp có tính khả thi và phải phù hợp với
thực trạng của địa phương.


và nguồn gây ô nhiễm không xác định (nguồn không điểm). Nếu phân loại

5
theo tác nhân ô nhiễm thì gồm có dạng ô nhiễm cơ học (vật lý), ô nhiễm hóa
học (vô cơ, hữu cơ), ô nhiễm vi sinh vật, ô nhiễm nhiệt và ô nhiễm phóng xạ.
Theo nguồn gốc phát sinh thì ô nhiễm nước do: Nước thải sinh hoạt và
nước thải sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp), nước mưa chảy tràn.
2.1.2. Cơ sở pháp lí
Việc đánh giá chất lượng nước thải công nghiệp và nước mặt (sông
suối) được thực hiện trên cơ sở quy định của các văn bản pháp lí sau.
-Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm
2005.Các văn bản dưới luật đã hướng dẫn cụ thể thực hiệnluật bảo vệ môi
trường bao gồm:
- Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 về việc quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường. sản xuất
công nghiệp và cả chất thải sinh hoạt. Ở Hoa Kì, các con sông và hồ ở
phíaĐông và một số vùng khác cũng gặp tình trạng tương tự. Vùng Đại hồ bị
ô nhiễm nặng, trong đó hồ Enrie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng. Ở các nước
đang phát triển và các nước nghèo thì ô nhiễm nước và thiếu nước sạch là phổ
biến. Có tới hơn 80% khối lượngnước ở các cống rãnh ở các khu dân cư và
hơn 65% lượng nước thải ở các KCN thải trực tiếp ra đồng ruộng, sông hồ
gây ô nhiễm, thường là ở Trung Quốc, các nước Trung cận Đông, châu Phi,
Nam Á, Đông Nam Á.Việc ô nhiễm môi trường nước đã gây ra những ảnh
hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, mỗi năm có khoảng 3.578 triệu
người chết do các bệnh liên quan đến nước.
Cũng theo báo cáo này, đã chỉ ra được thiệt hại môi trường trong hồ
Peipsi –hồ nằm trên biên giới của nước Cộng hòa Estonia và Liên bang Nga.
Sựô nhiễm hồ và phú dưỡng đã làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế xung
quanh hồ và hoạt động khai thác cá trong hồ. Ở Trung Quốc, có đến khoảng

như sau:
Thiêu kết 0-20m
3
/tấnthiêu kết.
Bast lò: 50-80m
3
-80m
3
/ tấn gang.
Luyệnthép: 20-50m
3
/tấnthép.
Máycán:20-80m
3
/tấncán Cốchóa:2-5m
3
/tấnthancốc
Lò làm sạch khí: 2-5m
3
/1000m
3
khí (P.Gendy và E.Dohen, 2001)
[19].Theo tác giả O’Connell và các cộng sự(1987) [20], [21], ở Chicago
những năm giữa thế kỷ 20, sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành công
nghiệp thép trong khu vực Cahemet sau khi có sự chuyển giao, phát triển
công nghệ đã khiến cho môi trường nơi này bị ảnh hưởng. Các nhà máy thép
ở Nam Chicago, Đông Chicago và Gary tạo thành một cụm công nghiệp khá
rộng lớn.Dọc theo bờ biển phía nam hồ Michigan cũng bao gồm các nhà máy

7

xuất sau khi được xử lý ở mức độ nào đó hoặc không được xử lý, được gộp

8
lại thành dòng thải cuối cùng để thải vào môi trường (hệ thống cống, lưu vực
tự nhiên như sông, ao hồ…). Có một điều cần nhấn mạnh: thực tiễn phổ biến
ở các đơn vị sản xuất, do nhiều nguyên nhân, việc phân lập các dòng thải (chất
thải lỏng, dòng thải có nồng độ chất ô nhiễm cao với các dòng thải có tải lượng
gây ô nhiễm thấp nhưng lại phát sinh với lượng lớn như nước làm mát, nước
thải sinh hoạt, nước mưa chảy tràn…) cũng như việc tuần hoàn sử dụng lại các
dòng nước thải ở từng khâu của dây chuyền sản xuất, thường ít được thực hiện.
Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong
việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng
ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Nước ta thực hiện công nghiệp hóa và
đương nhiên là kéo theo đô thị hóa. Theo kinh nghiệm của nhiều nước, tình
hình ô nhiễm môi trường cũng gia tăng nhanh chóng. Nếu tốc độ tăng trưởng
GDP trong vòng 10 năm tới tăng bình quân khoảng 7%/năm, trong đó GDP
công nghiệp khoảng 8 –9%/năm, mức đô thị từ 23%/năm tăng lên 33% năm
2000, thì đến năm 2010 lượng ô nhiễm do công nghiệp có thể tăng lên gấp 2,4
lần so với bây giờ. Tại TP. Hồ Chí Minh có 25 KCN tập trung hoạt động với
tổng số 611 nhà máy trên diện tích2298 ha đất. Theo kết quả tính toán, hoạt
động của các KCN này cùng với 195 cơ sở trọng điểm bên ngoài KCN, thì mỗi
ngày thải vào hệ thống sông Sài Gòn –Đồng Nai tổng cộng 1.740.000m
3
nước
thải công nghiệp, trong đó có khoảng 617 tấn cặn lơ lửng, 1.135 tấn BOD
5
(làm
giảm nhu cầu oxy sinh hóa), 1.789 tấn COD (làm giảm nhu cầu oxy hóa học),
104 tấn Nito, 15 tấn Photpho và kim loại nặng. Lượng chất thải này gây ô
nhiễm cho môi trường nước của các con sông vốn là nguồn cung cấp nước sinh

/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. Ở thành
phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy,
luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước
thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu;
nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4 -9 và hàm lượng NH
4
+ là 4mg/1, hàm
lượng chất hữu cơ cao, nướcthải có màu nâu, mùi khó chịu…(Hoàng Hoa Lan,
2003) [4]. Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt
không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồntiếp nhận (sông, hồ,
kênh, mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải,
phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một
lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những
nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước.Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các
kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng. Ở thành phố Hà Nội , tổng
lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000–400.000 m
3
/ngày; hiện mới chỉ
có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải
bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại

10
chưa được thu gom khoảng 1.200m
3
/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ,
kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH
4
, NO2-,
NO


11
thải công nghiệp của nhiều cơ sở chưa được thu gom xử lý mà xả thẳng ra môi
trường với lưu lượng lớn. Ngoài hàm lượng cyanua lên tới 0,56 mg/l,vượt 8 lần
tiêu chuẩn cho phép, còn có BOD5 vượt 13,5 lần, COD vượt 14,7 lần, sunfua
vượt hơn 4 lần, colifom vượt hơn 13 lần…Theo các chuyên gia, cyanua là chất
cực độc, chỉ cần 0,15-0,2 gram là đủ để giết chết một người khỏe mạnh. Sở Tài
nguyên Môi trường đã kiến nghị đình chỉ hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn
Việt Nam ra môi trường của Công ty Nam Đức; buộc công ty này phối hợp với
các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tổ chức đấu nối toàn bộ nước thải vào
hệ thống thu gom nước thải để xử lý tập trungtrước khi đổ ra môi trường; vận
hành trạm xử lý nước thải thường xuyên, bảo đảm toàn bộ nước thải của Quang
Minh phải được xử lý đạt tiêu chuẩn. Riêng với hành vi không vận hành
thường xuyên hệ thống xử lý nước thải, công ty Nam Đức đã bị UBND Hà Nội
ra quyết định xử phạt 150 triệu đồng vào ngày 8/6. Lãnh đạo thành phố Hà Nội
cũng đã chỉ đạo lập đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra việc thực thi quy định
về môi trường của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Quang Minh.Trước
đó, ngày 24/5 do quá bức xúcvới tình trạng ô nhiễm kéo dài do nước thải từ
khu công nghiệp Quang Minh, người dân quanh đây đã tập trung phản đối, lấp
cống xả thải. Đến 27/5, cửa xả cuối cùng của khu công nghiệp Quang Minh
cũng bị người dân thị trấn Quang Minh lấp, đến nay, vẫn chưa được khơi
thông, (Nguyễn Hưng, 2010) [2].Theo Hà Lê (2009)[5], hiện tại, chúng ta đang
tập trung phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, trong đó kỳ vọng đặc biệt
vào ngành gia công kim loại. Do vậy, nhu cầu gia công mạ kim loại ngày càng
lớn và cũng từ đó việc xử lý chất thải trong gia công mạ -một yếu tố có nhiều
khả năng phá hủy môi trường, là hết sức cần thiết và cần được giải quyết triệt
để.Nước thải phát sinh trong quá trình mạ kim loại chứa hàm lượng các kim
loại nặng rất cao và là độc chất đốivới sinh vật, gây tác hại xấu đến sức khỏe
con người. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, với nồng độ đủ lớn, sinh vật
có thể bị chết hoặc thoái hóa, với nồng độ nhỏ có thể gây ngộ độc mãn tính

nghiêm trọng đến môi trường nước mặt, ảnh hưởng đángkể chất lượng nước
sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Về chất lượng nước các hệ thống sông: nhìn
chung chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn khá tốt, nhưng vùng hạ
lưu phần lớn đã bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng. Nguyên nhân là do
nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nước thải sinh hoạt không được
xử lý đã và đang thải trực tiếp ra các dòng sông. Chất lượng nước suy giảm

13
mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD, COD, NH
4
+, tổng N, tổng P cao hơn tiêu
Sông Đồng Nai : Vùng hạ lưu (tính từ sau hồ Trị An đến điểm hợp chuẩn -
lưu với sông Sài Gòn), ô nhiễm hữu cơ chưa cao (DO = 4-6 mg/l, BOD = 4–8
mg/l) nhưng hầu như không đạt TCVN đối với nguồn loại A. Ô nhiễm vi sinh
và dầu mỡ rõ rệt, ô nhiễm kim loại nặng, phenol, PCB… chưa vượt tiêu
chuẩn, nhiễm mặn không xảy ra từ Long Bình đến thượng lưu. Vùng thượng
lưu nước có chất lượng tốt, trừ khu vực thành phố Đà Lạt đã bị ô nhiễm nặng
do hàm lượng cao của các chất hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh. Khả năng tự làm
sạch của sông Đồng Nai khá tốt (Minh Kỳ, 2009) [3].
- Sông Sài Gòn: Mức độ ô nhiễm là nghiêm trọng cả về hữu cơ (DO =
1,5 –5,5 mg/l; BOD = 10 –30 mg/l), dầu mỡ, vi sinh, không có điểm nào đạt
TCVN đối với nguồn loại A. Ô nhiễm cao nhất là ở vùng sông chảy qua trung
tâm TP Hồ Chí Minh. Ngoài ra, sông Sài Gòn còn bị axit hoá nặng do nước
phèn ở đoạn Hooc Môn – Củ Chi (pH = 4,0 – 5,5) (Minh Kỳ, 2009) [3].
- Sông Cầu: Chất lượng nước các sông thuộc lưu vực sông Cầu ngày
càng xấu đi, nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm tới mức báo động. Ô nhiễm cao
nhất là đoạn sông Cầu chảy qua địa phận thành phố Thái Nguyên, đặc biệt là
tại các điểm thải của Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ, Khu GangThép Thái
Nguyên… , chất lượng nước không đạt cả tiêu chuẩn A và B. Tiếp đến là
đoạn sông Cà Lồ, hạ lưu sông Công, chất lượng nước không đạt tiêu chuẩn A

lý thải ra môi trường chưa đáp ứng đượcyêu cầu bảo vệ môi trường. Đặc biệt,
nguồn nước thải của các cơ sở khai thác và chế biến khoáng sản đã và đang
tàn phá môi trường nghiêm trọng. Các cơ sở này chủ yếu thực hiện biện pháp
xử lý nước thải bằng phương pháp tạo bể, hồ để thu gom nước thải, lắng lọc
tự nhiên nhưng do hầu hết các hồ chứa nước thải dung tích không đạt như
thiết kế, lắng lọc rất kém, nước thải ra môi trường thường vượt tiêu chuẩn cho
phép nhiều lần. Không chỉ vậy, hiện trên địa bàn tỉnh đã và đang hình thành
một số khu vực xả nướcthải công nghiệp, y tế, nước thải sinh hoạt xuống
dòng sông màkhông qua xử lý với lượng lớn. Điển hình như: sông Nguyên
Bình mỗi ngày đêm tiếp nhận trên 1.400 m
3
nước thải công nghiệp, khoảng
1.000 m
3
nước thải sinh hoạt và 100 m
3
nước thải y tế; sông Bằng tại khu vực
thị xã Cao Bằng và huyện Hoà An tiếp nhận gần 7.000 m
3
nước thải sinh hoạt
và trên 2.000 m
3
nước thải công nghiệp một ngày đêm…Trong khi đó, nguồn
nước thải này đều có hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), nhu cầu ôxi sinh
hóa(BOD
5
), nhu cầu ôxi hóa học (COD)… vượt nhiều lần tiêu chuẩn Việt
Nam cho phép. Kết quả phân tích nước mặt trên sông Bằng tại khu vực thị xã
Cao Bằng có chỉ số TSS vượt tiêu chuẩn cho phép gần 5 lần, BOD
5

doanh nghiệp. Việc phát triển các cơ sở sản xuất nhanh chóng đã tạo sức ép
lên môi trường. Nhiều doanh nghiệp khôngthực hiện các biện pháp xử lý gây
ô nhiễm môi trường. Theo báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Thái Nguyên, tổng
lượng nước thải của ngành luyện kim, cán thép, chế tạo thiết bị máy móc
khoảng 16.000 m
3
/ngày. Trong đó, nước thải của KCN Gang Thép Thái

16
Nguyên có ảnh hưởng lớn nhất tới chất lượng nước sông Cầu. Nước thải của
KCN qua hai mương dẫn rồi chảy vào sông Cầu với lưu lượng ước tính 1,3
triệu m
3
/năm. Hoạt động sản xuất gang thép phát sinh nước thải có chứa nhiều
chất ô nhiễm độc hại như dầu mỡ, phenol và xianua từ quá trình cốc hóa. Tại
KCN Sông Công (nằm trên thị xã Sông Công với cácnhà máy sản xuất cơ khí,
chế tạo máy động lực), mặc dù KCN này hoạt động từ năm 2001 nhưng đến
nay mới chỉ lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường và vẫn chưa có hệ
thống xử lý nước thải tập trung. Ông Nguyễn Mười, Phó ban quản lý KCN
tỉnh Thái Nguyên cho biết: “Hiện nay, có 18/31 dự án chưa có giấy phép môi
trường mặc dù có những dự án đã hoạt động 5 năm rồi vẫn chưa cấp”. Với
góc độ cơ quan quản lý nhà nước không phải chúng tôi không đôn đốc. Năm
ngoái, đã tiến hành 2 cuộc thanh tra, có rất nhiều văn bản công văn yêu cầu
các dự án làm ĐTM hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường”. Do các
cụm, KCN chưa xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung nên
các doanh nghiệp phải tự đầu tư hệ thống xử lý. Tuy nhiên, theo kết quả thanh
tra của Sở TN&MT tỉnh Thái Nguyên thì hầu hết các nhà máy trong KCN
chưa có hệ thống xử lý nước thải, hoặc chỉ có hệ thống xử lý lắng cặn sơ bộ
rồi thải thẳng ra sông Công. Nước thải của KCN này chứa nhiều dầu mỡ, kim
loại nặng do tính đặc thù của ngành sản xuất cơ khí. Không chỉ có nước thải,

Các quốc gia sản xuất thép lớn:
Năm 2006 thế giới tiêu thụ 1.200 triệu tấn, trong đó Việt Nam tiêuthụ 7
triệu tấn. Năm 2007 được đánh giá tăng trưởng 5,2% (Singgapore 10 triệu tấn/
năm, Thái Lan 20 triệu tấn /năm) Mỹ, Đức, Nhật, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ,
Brazil. Từ năm 2002, Trung Quốc trở thành cường quốc xuất khẩu thép trên
thế giới. Trung Quốc năm 2003chiếm 1/3 sản lượng thế giới (300 triệu tấn),
hiện nay là nước sản xuất mạnh nhất trên thế giới, trên >50%. Năm 2007 là
462 triệu tấn, (Trần Mai, 2007) [6].
Lịch sử
Thép không gỉ hay còn gọi là inox là một dạng hợp kim sắt chứa tối
thiểu 10,5% crôm. Nó ít bị biến màu hay bị ăn mòn như thép thông thường
khác. Lịch sử Thép không gỉ gắn liền với tên tuổi của một chuyên gia ngành
thép người Anh là ông Harry Brearley. Khi vào năm 1913, ông đãsángchế ra
một loại thép đặc biệt có khả năng chịu mài mòn cao, bằng việc giảm hàm
lượng carbon xuống và cho crôm vào trong thành phần thép (0.24% C và

Trích đoạn Nhà máy Luyện Gang
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status