So sánh một số giống lúa cạn vụ mùa năm 2013 tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐẶNG VĂN ĐỨC

Tên đề tài:

“SO SÁNH MỘT SỐ GIỐNG LÚA CẠN VỤ MÙA NĂM 2013
TẠI HUYỆN ÐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN”KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông học
Khóa học: : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Ðức Thạnh
Thái Nguyên, năm 2014

i

Trang
LỜI NÓI ĐẦU i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2. Một số khái niệm về lúa cạn 5
1.3. Nguồn gốc và phân loại lúa cạn 6
1.3.1. Nguồn gốc lúa cạn 6
1.3.2. Phân loại lúa cạn 8
1.4. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 9
1.4.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 9
1.4.2. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 13
1.5. Tình hình nghiên cứu, sản xuất lúa cạn trên thế giới và ở Việt Nam 16
1.5.1. Tình hình nghiên cứu, sản xuất lúa cạn trên thế giới 16
1.5.2. Tình hình nghiên cứu, sản xuất lúa cạn ở Việt Nam 27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1. Đối tượng nghiên cứu 33
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33
2.3. Nội dung nghiên cứu 33
iii

2.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm 33
2.5. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi, đánh giá 35

IITA : International Institute of Tropical Agriculture
IRRI : International Rice Research Institute
WARDA : West Africa Rice Development Association
v
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây 9

Bảng 1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo của 10 nước đứng đầu thế giới 2012 11


1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một trong những nước rất phong phú, đa dạng về các hệ
sinh thái, về các loài và về tài nguyên di truyền. Hàng ngàn năm qua và ngay cả
hiện nay cũng như một số thập kỷ sắp tới người dân Việt Nam sống chủ yếu phải
dựa vào tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên sinh học. Không chỉ ở Việt
Nam mà ở hầu hết các nước trên thế giới, các sản phẩm nông nghiệp, lâm
nghiệp, thuỷ sản v.v thực chất là khai thác từ nguồn đa dạng sinh học.
Theo số liệu của FAO, trong khi 75% đa dạng sinh học cây trồng nông
nghiệp đã bị mất trong thời gian từ năm 1900 đến 2000 và 22% đa dạng sinh
học của một số loài cây nông nghiệp khác có thể biến mất vào năm 2055, cho
đến nay, hơn 7 triệu mẫu gen thực vật đã được thu thập, lưu trữ và bảo tồn
trong 1.750 ngân hàng gen trên toàn cầu. Theo FAO, sự đa dạng về thực vật
đang bị đe dọa do việc mất dần nguồn gen mà một trong những lý do chính là
việc thay thế những giống địa phương bằng các giống hiện đại.
Với “Kế hoạch hành động toàn cầu thứ hai đối với các nguồn gen
lương thực và nông nghiệp”, FAO cho rằng một cam kết mới của cộng đồng
quốc tế nhằm bảo đảm quản lý hiệu quả sự đa dạng về thực vật là một thành
phần quan trọng trong cuộc chiến chống đói nghèo và nâng cao an ninh lương
thực trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với vấn đề biến đổi khí hậu.
Lúa là loài cây trồng rất mẫn cảm với các điều kiện ngoại cảnh và là
cây chịu hạn kém. Những yếu tố sinh thái bất lợi tác động lên quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây lúa như lượng mưa, nhiệt độ, ánh sáng không
thuận lợi. Trên thế giới, hàng năm hạn có thể làm giảm tới 70% năng suất cây
trồng nói chung. Ở Việt Nam, hàng năm trung bình mất khoảng 30 vạn tấn
lương thực do thiên tai, trong đó hạn được xem là nhân tố chính làm giảm
năng suất lúa.
2
Bên cạnh lúa nước, lúa cạn cũng chiếm một vị trí quan trọng đối với
nông dân, đặc biệt là dân miền núi. Lúa cạn phân bố ở vùng núi, địa hình đồi

lúa cạn, bảo vệ sự đa dạng sinh học của cây lúa.
* Ý nghĩa thực tiễn:
- Lựa chọn được một số giống lúa cạn có chất lượng khuyến cáo ra sản
xuất với điều kiện đất đai miền núi phía Bắc.
- Làm đa dạng hóa thêm bộ giống lúa.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Việt Nam được biết đến như là một trung tâm đa dạng sinh học của thế
giới với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú và đa dạng. Các hệ sinh thái
rừng, đất ngập nước, biển, núi đá vôi, v.v… với những nét đặc trưng của vùng
bán đảo nhiệt đới, là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài hoang dã đặc
hữu, có giá trị, trong đó có những loài không tìm thấy ở nơi nào khác trên thế

Cây lúa cạn năng suất thấp nhưng lại thể hiện tính ưu việt về khả năng
chống chịu hạn tốt, thích nghi cao với điều kiện sinh thái khó khăn, có chất
lượng gạo tốt, thơm, dẻo, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và có tiềm năng
phát triển để phục vụ cho xuất khẩu. Hiện nay các giống lúa được canh tác phân
tán, tự phát, chưa có khoanh vùng và định hướng phát triển làm cho nhiều giống
lúa cạn có chất lượng bị mất dần, diện tích trồng lúa bị thu hẹp. Vì vậy sưu tập
và tuyển chọn các giống lúa cạn có chất lượng tốt, khả năng chống chịu cao
không những bảo tồn được nguồn gen đa dạng sinh học mà còn làm cơ sở cho
chọn tạo giống chịu hạn, góp phần vào việc ứng phó với biến đổi khí hậu.
1.2. Một số khái niệm về lúa cạn
Trên thế giới có nhiều cách định nghĩa về lúa cạn. Theo định nghĩa tại
Hội thảo nghiên cứu lúa cạn ở Bonake, Bờ Biển Ngà (1982): “Lúa cạn được
trồng trên đất thoát nước, không có sự tích trữ nước trên bề mặt, không được
cung cấp nước và không đắp bờ, chỉ được tưới nhờ mưa tự nhiên” [23].
Theo Garrity D.P [24] lúa cạn được coi là lúa trồng trong mùa mưa trên
đất cao, đất thoát nước tự nhiên, trên những chân ruộng được đắp bờ hoặc
không có bờ và không có lượng nước dự trữ thường xuyên trên bề mặt. Lúa
cạn được hình thành từ lúa nước, nhờ quá trình thích ứng với những vùng
trồng lúa thường gặp hạn mà xuất hiện các biến dị chịu hạn ngày càng cao. Vì
vậy lúa cạn có khả năng sinh trưởng bình thường khi ở ruộng nước.
6
Huke R.E (1982) [28] dùng thuật ngữ “Lúa khô” (dryland rice) thay
cho lúa cạn (upland rice) và định nghĩa: “Lúa cạn được trồng trong những
thửa ruộng được chuẩn bị đất và gieo hạt dưới điều kiện khô, cây lúa sống
phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời”.
Theo Nguyễn Gia Quốc (1994) [9] chia lúa cạn thành 2 dạng:
- Lúa cạn thực sự hay còn gọi là lúa nương (rẫy), là loại trồng trên các
triền dốc của đồi núi, không có bờ ngăn nước, luôn không có nước ở chân,
cây lúa sống nhờ nước trời.
- Lúa cạn không hoàn toàn hay lúa nước trời là loại lúa trồng ở triền

Từ Trung Quốc Japonica được hình thành rồi qua Triều Tiên sang Nhật
Bản. Lúa Indica phát tán xuống phía Nam tới Malaysia và lên phía Bắc tới
miền trung Trung Quốc. Loại hình hạt dài, rộng và dày thuộc kiểu Javanica
(Bulu hoặc Gundil) được hình thành ở Indonesia là sản phẩm của quá trình
chọn lọc tự nhiên từ Indica. Kiểu Javanica từ đây chuyển qua quá trình chọn
lọc tự nhiên từ Indica. Kiểu Javanica từ đây chuyển qua Philippines, Đài Loan
đến Ryukyus của Nhật Bản.
Theo Nguyễn Thị Lẫm và nhiều tác giả khác [8] đều cho rằng nguồn
gốc lúa cạn là từ lúa nước. Trong quá trình phát triển do có sự thay đổi về
điều kiện đất đai và yêu cầu về lương thực của con người, cây lúa đã phát
triển lên những vùng cao hơn. Sống trong điều kiện đó cây lúa có một số biến
đổi thích nghi với hoàn cảnh khô hạn. Dần dần qua nhiều thế hệ đã hình thành
nên nhóm lúa cạn. Lúa cạn phân bố rất rộng, có khả năng chịu rét cao và được
trồng ở miền núi có độ cao 2700m so với mặt biển. Giữa lúa nước và lúa cạn
tuy có khác nhau về yêu cầu nước, khả năng chịu hạn khi thiếu nước, đặc biệt
ở thời kỳ sinh trưởng từ làm đòng đến chín, khác nhau về một số đặc điểm
sinh thái, hình thái phù hợp với điều kiện sống khác nhau, nhưng giữa chúng
vẫn còn vết tích về cấu tạo giải phẫu. Những điều đó chứng tỏ chúng có mối
quan hệ với nhau. Do đặc điểm của hai nhóm lúa này khác nhau nên yêu cầu
kỹ thuật cũng khác nhau. Lúa cạn là lúa trồng trong mùa mưa, trên đất cao,
8
đất thoát nước tự nhiên, trên những chân ruộng không đắp bờ hay không có
bờ và không có nước dự trữ trên bề mặt. Lúa cạn được hình thành và phát
triển để thích nghi với những vùng trồng lúa thường gặp hạn. Như vậy những
giống lúa cạn có khả năng trồng ở đất cạn vẫn sinh trưởng bình thường trên
ruộng có nước.
1.3.2. Phân loại lúa cạn
Theo Nguyễn Thị Lẫm (1999) [7] lúa cạn ngày nay bao gồm hai nhóm:
- Nhóm giống lúa cạn cổ truyền: bao gồm những giống lúa địa phương,
thích nghi cao và tồn tại lâu đời ở những vùng lúa cạn như các giống lúa: Mố,

Trên thế giới lúa chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt ở vùng Châu Á.
Ở Châu Á, lúa là món ăn chính giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của
dân Châu Phi hoặc lúa mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ.
Thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO, 2013) [27] cho thấy, có
118 nước trồng lúa, trong đó 15 nước có diện tích trồng lúa trên trên 1.000.000ha
tập trung ở Châu Á, , 36 nước có diện tích trồng lúa trong khoảng 100.000ha -
1.000.000ha. Trong đó có 31 nước có năng suất trên 5 tấn/ha, đứng đầu là Ai
Cập (9,7 tấn/ha), Australia (8,9 tấn/ha), Ukraine (8,3 tấn/ha).
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây
Năm
Diện tích
(Nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(Nghìn tấn)
1961 115.365 18,69 215.646
1970 132.873 23,81 316.346
1980 144.412 27,48 396.871
1990 146.961 35,29 518.556
2000 154.056 38,91 599.355
2001 152.043 39,35 598.361
2002 147.953 38,49 569.451
2003 148.532 39,63 584.630
2004 150.549 40,37 607.795
2005 155.026 40,92 634.930
2006 155.741 41,16 641.095
2007 155.953 42,12 656.807
2008 159.251 43,07 685.875
2009 161.421 42,04 678.682

11
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo của 10 nước đứng đầu thế giới 2012
Tên nước
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(tấn)
Thế giới 163.463.010 43,945 718.345.379
Ấn Độ 42.500.000 35,905 152.600.000
Trung Quốc 30.557.000 67,442 206.085.000
Indonesia 13.443.443 51,359 69.045.141
Bangladesh 11.700.000 29,230 34.200.000
Thái Lan 12.600.000 30,000 37.800.000
Myanmar 8.150.000 40,490 33.000.000
Việt Nam 7.753.162 56,314 43.661.569
Philippines 4.689.960 38,448 18.032.422
Brazil 2.370.267 48,908 11.391.401
Nhật Bản 1.581.000 53,908 8.523.000
(Nguồn: FAO STAT năm 2014) [27].
Tình hình chung của các nước có diện tích trồng lúa nhiều nhất thế giới
năm 2012 đứng đầu vẫn là 8 nước Châu Á là Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia,
Bangladesh, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Philippines. Tuy nhiên năng suất
chỉ có 4 nước có năng suất cao hơn 5 tấn/ha là Trung Quốc, Indonesia, Việt
Nam và Philippines. Mặc dù năng suất lúa ở các nước Châu Á còn thấp nhưng
do diện tích sản xuất lớn nên Châu Á vẫn là nguồn đóng góp rất quan trọng
cho sản lượng lúa trên thế giới (trên 90%). Như vậy, có thể nói Châu Á là vựa
lúa quan trọng nhất thế giới.
Mặc dù bị ảnh hưởng hiện tượng Nixna ở nhiều nơi châu Á như

Nigeria, Sierra Leone thuộc Tây Phi Châu. Trong khi Đông Phi Châu như
Tazania, Zambia, Madagascar và Nam Phi Châu có tình trạng ngược lại do
mưa ít, ngoại trừ Malawi và Mozambique nhờ đầu tư nhiều cho hệ thống tưới tiêu.
Ba nước sản xuất lúa gạo nhiều nhất ở châu Phi là Ai Cập, Nigeria và
Madagascar, chiếm đến 55% tổng sản lượng lúa. Sản xuất lúa ở Ai Cập tăng từ
13
5,2 triệu tấn trong 2010 lên 5,8 triệu tấn trong 2011 và Nigeria từ 4,2 lên 4,3 triệu
tấn; trong khi Madagascar giảm từ 4,8 xuống 4,3 triệu tấn trong cùng thời kỳ.
Nam Mỹ và Caribbean phục hồi sản xuất lúa đạt đến 29,6 triệu tấn
lúa hay 19,8 triệu tấn gạo so với sút giảm 12% so với năm trước đó, do được
mùa và giá gạo cao từ các nước Argentina, Brazil, Columbia, Guyana,
Paraguay, Uruguay và Venezuela. Trong khi đó Mexico và Ecuador bị khô
hạn, Honduras, Nicaragua và El Salvador bị ngập lụt. Brazil là nước sản xuất
lúa gạo lớn nhất của châu Mỹ (chủ yếu lúa rẫy) đạt đến 13,6 triệu tấn so với
11,7 triệu tấn 2010 nhờ khí hậu tốt. Sản xuất lúa của nước này chiếm đến 45%
tổng sản lượng toàn vùng.
Hoa Kỳ sản xuất lúa gần 8,5 triệu tấn, giảm 21% so với 2010 (11 triệu
tấn) do khí hậu không thuận lợi và diện tích trồng thu hẹp. Đó là mức sản xuất
thấp nhất kể từ 1998 của Hoa Kỳ. Sản xuất lúa Úc Châu tăng đến 800.000 tấn,
gấp 4 lần so với 2010 (0,2 triệu tấn) nhờ cung cấp đầy đủ nước tưới. Sản xuất
lúa ở châu Âu tăng thêm 0,2 triệu tấn, đạt đến 4,6 triệu tấn nhờ cải thiện năng
suất, đặc biệt ở nước Ý và Liên bang Nga.
1.4.2. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Sản xuất lúa gạo đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển
kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Khoảng 80% trong tổng số 11
triệu hộ nông dân có tham gia sản xuất lúa gạo và chủ yếu dựa vào phương
thức canh tác thủ công truyền thống. Trong gần ba thập kỷ qua nhờ có sự đổi
mới cơ chế quản lý kinh tế nên Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn
trong sản xuất lúa gạo, không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước
mà hàng năm còn xuất khẩu được 3-4 triệu tấn gạo. Hiện nay năng suất lúa

Qua các giai đoạn lịch sử cải thiện đời sống của nhân dân cho thấy
quan tâm của nhà nước đối với sản xuất lúa gạo. Trước năm 1975, năng suất
gạo đạt đưới 2,2 tấn/ha, diện tích trồng lúa dưới 5,0 triệu ha. Năng suất bình
quân trong cuối thập nhiên 1970 giảm sút khá nghiêm trọng do đất đai mới
khai hoang chưa được cải tạo, thiên tai và sâu bệnh, với cơ chế quản lý nông
15
nghiệp trì trệ không phù hợp đặc biệt là những năm 1978 - 1979. Bước sang
thập niên 1980, năng suất lúa tăng dần do các công trình thuỷ lợi trong cả
nước, đặc biệt ở Đồng Bằng sông Cửu Long. Cơ chế quản lý nông nghiệp
thoáng hơn với chủ trương khoán sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp. Năm
1982, nước ta đã chuyển từ nước phải nhập khẩu gạo hàng năm sang nước tự
túc gạo. Từ năm 1975 đến năm 1990, trong vòng 15 năm diện tích lúa tăng
gần 1 triệu ha đạt 6,0 triệu ha với năng suất tăng gần 1 tấn/ha đạt 3,2 tấn/ha.
Kể từ lúc gạo Việt Nam tái nhập thị trường thế giới năm 1989 thì năm 1990
đã đứng vị trí xuất khẩu gạo thứ 4 sau Thái Lan, Pakistan và Mỹ, đến năm
1991 lên ở vị trí thứ 3 và tiếp tục lên hạng vào năm 1995 ở vị trí xuất khẩu
gạo thứ 2 thế giới. Từ năm 1990 đến 2005, cũng trong vòng 15 năm nhưng
diện tích lúa tăng gần 1,3 triệu ha đạt 7,3 triệu ha với năng suất tăng gần 1,7
tấn/ha đạt 4,9 tấn/ha và mức gia tăng năng suất vẫn tiếp tục cải thiện.
Theo thống kê của FAO năm 2013 Việt Nam có diện tích lúa khoảng
7,7 triệu ha đứng thứ 7 sau các nước có diện tích lúa trồng nhiều ở Châu Á
theo thứ tự Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Myanmar.
Việt Nam có năng suất 5,6 tấn/ha đứng thứ 24 trên thế giới, đứng đầu khu vực
Đông Nam Á và đứng thứ 4 trong khu vực Châu Á sau Hàn Quốc, Trung
Quốc, Nhật Bản. Các nước có mức tăng năng suất trong 10 năm (2000-2010)
là 10,8 tạ/ha đứng thứ 12 trên thế giới và đứng đầu của 8 nước có diện tích lúa
nhiều ở Châu Á về khả năng cải thiện năng suất lúa trên thế giới. Việt Nam
vượt trội trong khu vực Đông Nam Á nhờ thuỷ lợi được cải thiện đáng kể và
áp dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón và bảo vệ thực vật.
Cũng theo số liệu thống kê của FAO so sánh diện tích canh tác và sản

1. Vùng có mưa dài (mưa từ 5-12 tháng trong một năm), đất đai màu
mỡ. Vùng này khoảng 1,7 triệu ha, chiếm 15% diện tích, tập trung ở Tây Nam
17
Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Bangladesh. Ký hiệu là LP (Long growing
season with fertile soils).
2. Vùng có mưa dài, đất kém màu mỡ.Vùng này chiếm khoảng 33%
diện tích, tập trung ở Việt Nam, Thái Lan, Mianma, Lào, Campuchia và Đông
Bắc Ấn Độ. Ký hiệu LI (Long growing season with infertile soils).
3. Vùng có mưa ngắn (mưa từ 1-4 tháng trong năm) đất đai màu mỡ,
chiếm 27% diện tích. Ký hiệu SF (Short growing season with fertile soils).
4. Vùng có mưa ngắn, đất đai kém màu mỡ, chiếm 25% diện tích. Ký
hiệu SI (Short growing season with infertile soils).
Đất màu mỡ là đất có chỉ số IFS (Inherent fertility soil) từ 1-5. Đất kém
màu mỡ là đất có chỉ số IFS từ 6-9.
Năm 1982, CIAT phân chia vùng sinh thái lúa cạn ở Châu Mỹ La Tinh
như sau [23]:
- Vùng có điều kiện sản xuất lúa cạn thuận lợi là vùng có lượng mưa
trên 2000mm/năm, mùa mưa kéo dài 6-8 tháng, năng suất lúa cạn đạt trung
bình 2,5 tấn/ha hoặc cao hơn nữa. Vùng này thuộc các nước Venezuela, Nam
Brazil, Colombia, và các nước vùng Trung Mỹ.
- Vùng tương đối thuận lợi, đất đai kém màu mỡ hơn vùng trên, lượng
mưa trong năm thấp hơn. Trong vụ gieo trồng có khoảng 2-3 tuần bị hạn.
Vùng này tập trung ở Bolivia, Mehico và miền nam lưu vực sông Amazon,
năng suất lúa đạt 1,5-2 tấn/ha.
- Vùng khó khăn, lượng mưa ít, mưa thất thường, đất nghèo dinh
dưỡng, năng suất chỉ đạt 1 tấn/ha.
- Vùng cực kỳ khó khăn: đất đai khô hạn, nghèo dinh dưỡng, điều kiện
canh tác rất khó khăn nhưng người dân vẫn phải trồng lúa cạn để tự túc lương
thực tại chỗ. Ở đây kỹ thuật canh tác rất sơ sài, năng suất chỉ đạt 6-7 tạ/ha.
* Theo Dat DP [21] đã phân chia môi trường trồng lúa cạn trên thế giới

cứu về lúa cạn ở các nước được tổ chức mở rộng trong một chương trình
chung và đã thu được một số kết quả.
Chương trình cải tiến giống lúa cạn được tiến hành rộng khắp ở các
châu lục như: Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ La Tinh, với sự hợp tác của các
Trung tâm và Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới như: IRAT, IITA,
WARDA…
Ở các nước Châu Âu, người ta sản xuất một vụ lúa, giai đoạn đầu gieo
trồng như lúa cạn, từ 3-4 lá trở đi thì thâm canh theo phương thức lúa nước.
Tại châu Phi, chương trình cải tiến giống lúa được thực hiện qua các
chương trình của quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế: IRAT, IITA,
WARDA. Các chương trình cải tiến giống lúa cạn được tiến hành tại Nigeria,
Ghân và Siera Leone từ trước khi viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế
IARCs (The International Agriculture Research Centrers) được thành lập.
Lúa cạn cũng được nghiên cứu tại Viện nghiên cứu lương thực ở
Kumasi, Ghana và trạm nghiên cứu nông nghiệp Kapong, Ghana.
Tại Nigeria viện nghiên cứu cây ngũ cốc ở Ibadan đã đi tiên phong
trong việc lai tạo giống lúa cạn. Năm 1958 giống lúa thuần chủng FARO
3

được chọn lọc từ giống địa phương Agbede 16/56 đã được thử nghiệm tại
miền Trung Nigeria. Đó là giống lúa cạn có năng suất cao trung bình và có
khả năng chống chịu bệnh đạo ôn tương đối khá [34].
Năm 1966 giống OS6 (FARO11) của Viện nghiên cứu nông học
Yangabi (Công gô) được giới thiệu cho sản xuất. OS6 có năng suất cao,
chống chịu bệnh đạo ôn tốt hơn và có khả năng chịu phân hơn Agbede 16/56.
Cũng trong năm 1966 khi OS6 vừa được giới thiệu thì một nạn dịch
bệnh đạo ôn xảy ra làm giảm năng suất lúa cạn từ 15-100%. Điều này đòi hỏi
cần thiết phải có những giống có khả năng kháng bệnh tốt hơn lại vừa có khả
năng cho năng suất cao [22].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status