1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN NGỌC THÙY NGHIÊN
CỨU
MỘT
SỐ
CHỈ
SỐ
SINHChuyên ngành: Sinh học thực nghiệm Mã số:60
42 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI, 2012
2
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Mai Văn Hưng người đã tận tình
các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kì công trình nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Tác giả Nguyễn Ngọc Thùy 4 NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
2. Bảng 3.2. Chiều cao đứng của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác
nhau 32
3. Bảng 3.3. Chiều cao ngồi (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 33
4. Bảng 3.4. Chiều cao ngồi của học sinh tại một số tỉnh khác nhau trong
nước 36
5. Bảng 3.5. Chỉ số thân của học sinh theo tuổi và theo giới tính 37
6. Bảng 3.6. Chỉ số thân của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau
38
7. Bảng 3.7. Cân nặng (kg) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 39
8. Bảng 3.8. Cân nặng của học sinh theo một số nghiên cứu của các tác giả khác
nhau 41
9. Bảng 3.9. Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính
42
10. Bảng 3.10. Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo nghiên cứu của các
tác giả khác nhau 45
11. Bảng 3.11. Vòng bụng (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính. 46
12. Bảng 3.12. Vòng bụng (cm) của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả
khác nhau 48
13. Bảng 3.13. Vòng mông của học sinh theo tuổi và theo giới tính 49
14. Bảng 3.14. Vòng mông (cm) của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả
khác nhau 51
15. Bảng 3.15. Chỉ số pignet của học sinh theo tuổi và theo giới tính 52
16. Bảng 3.16. Chỉ số Pignet của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác
nhau 54
17. Bảng 3.17. Chỉ số BMI của học sinh theo tuổi và theo giới tính. 56
6
18. Bảng 3.18. Chỉ số BMI của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác
nhau 58
khác nhau 80
37. Bảng 3.37. Tuổi kinh nguyệt trung bình theo nghiên cứu của các tác giả khác
nhau 82
38. Bảng 3.38. Tuổi kinh nguyệt của trẻ em một số nước Châu Á, Châu Âu giai
đoạn 1995-1999 ([19]). 83
39. Bảng 3.39. Độ dài chu kì kinh nguyệt và thời gian chảy máu chu kì kinh
nguyệt ở học sinh nữ 84
40. Bảng 3.40. Thời gian (ngày) chảy máu trong chu kì kinh nguyệt theo nghiên
cứu của các tác giả khác nhau 84
41. Bảng 3.41. Độ dài chu kì kinh nguyệt theo nghiên cứu của các tác giả khác
nhau 85
42. Bảng 3.42. Thời điểm xuất hiện trứng cá trên mặt của học sinh nam, nữ 85
43. Bảng 3.43. Tỉ lệ phần trăm (%) xuất hiện lông nách của học sinh nam, nữ
theo tuổi và theo giới tính 86
44. Bảng 3.44. Tỉ lệ phần trăm (%) xuất hiện lông nách của học sinh theo nghiên
cứu của các tác giả khác nhau 87
45. Bảng 3.45. Tỉ lệ (%) xuất hiện lông mu của học sinh theo tuổi và theo giới
tính 88
46. Bảng 3.46. Tỉ lệ (%) phát triển lông mu theo nghiên cứu của các tác giả khác
nhau 89
47. Bảng 3.47. Tỉ lệ (%) phát triển tuyến vú của học sinh nữ 89
48. Bảng 3.48. Phát triển tuyến vú của học sinh nữ theo nghiên cứu của các tác
giả khác nhau. 90
DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN
Trang
1. Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn chiều cao đứng của học sinh nam và nữ theo tuổi
và theo giới tính 30
2. Hình 3.2. Đồ thị biểu diễn mức tăng chiều cao đứng của học sinh 30
8
9
22. Hình 3.22. Biểu đồ thể hiện chỉ số BMI của học sinh nữ theo nghiên cứu của
các tác giả khác nhau. 59
23. Hình 3.23. Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ học sinh theo mức dinh dưỡng 60
24. Hình 3.24. Biểu đồ biểu diễn tần số tim của học sinh theo tuổi và theo giới tính
63
25. Hình 3.25. Đồ thị thể hiện tần số tim của học sinh theo nghiên cứu của các
tác giả khác nhau 64
26. Hình 3.26. Đồ thị biểu diễn huyết áp động mạch (mmHg) của học sinh theo
tuổi và theo giới tính 66
27. Hình 3.27. Đồ thị biểu diễn huyết áp tâm thu của học sinh theo nghiên cứu
của các tác giả khác nhau 68
28. Hình 3.28. Đồ thị biểu diễn huyết áp tâm trương của học sinh theo nghiên
cứu của các tác giả khác nhau 69
29. Hình 3.29. Biểu đồ biểu diễn tần số thở của học sinh theo tuổi và theo giới
tính 70
30. Hình 3.30. Đồ thị biểu diễn tần số thở của học sinh theo nghiên cứu của các
tác giả khác nhau 71
31. Hình 3.31. Đồ thị biểu diễn thời gian phản xạ cảm giác –vận động
của học sinh theo tuổi và theo giới tính 73
32. Hình 3.32. Đồ thị biểu diễn thời gian phản xạ thị giác vận động của học sinh
theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau 75
33. Hình 3.33. Đồ thi biểu diễn thời gian phản xạ thính giác - vận động của học
sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau 76
34. Hình 3.34. Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) tuổi dậy thì hoàn toàn của học sinh
nam, nữ 77
35. Hình 3.35. Biểu đồ thể hiện phần trăm tuổi xuất hiện lông nách của nam và
nữ 86
36. Hình 3.36. Biểu đồ thể hiện tỉ lệ phần trăm xuất hiện lông mu ở học sinh
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
11
2.2. Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1. Phương pháp đo các giá trị về hình thái 22
2.2.2. Phương pháp đo các chỉ tiêu sinh lý 25
2.2.3. Phương pháp đánh giá tuổi dậy thì 27
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 29
3.1. Các chỉ số hình thái cơ bản của học sinh trường THCS Minh Trí. 29
3.1.1. Chiều cao 29
3.1.1.1. Chiều cao đứng 29
3.1.1.2. Chiều cao ngồi 33
3.1.2. Cân nặng 39
3.1.3. Vòng ngực trung bình 42
3.1.4. Vòng bụng 45
3.1.5. Vòng mông 48
3.2. Các chỉ số thể lực của học sinh trường THCS Minh Trí 52
3.2.1. Chỉ số Pignet 52
3.2.2. BMI 55
3.2.3. Tỉ lệ học sinh theo mức dinh dưỡng 59
3.2.3.1. Tỉ lệ học sinh theo mức dinh dưỡng 59
3.2.3.2. Tỉ lệ học sinh theo giới tính và mức dinh dưỡng 61
3.3. Các chỉ sốchức năng sinh lý của học sinh trường THCS Minh Trí 62
3.3.1. Tần số tim 62
3.3.2. Huyết áp động mạch 64
3.3.3. Tần số thở 69
3.3.4. Thời gian phản xạ cảm giác - vận động 71
3.4. Tuổi dậy thì của học sinh trường THCS Minh Trí 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
Đối tượng được chọn để nghiên cứu thường là học sinh, vì các về học sinh
đã được thực hiện từ những năm 50 của thế kỷ trước qua công trình của các tác
giả thuộc Viện Khoa học giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội mà tiêu biểu
13
là tác giả Trần Trọng Thủy, Tạ Thúy Lan, Nguyễn Quang Mai, Trần Thị Loan…
[7], [25], [31], [48], [50],…Các công trình nghiên cứu trên cũng cho thấy từ 12-
15 tuổi là giai đoạn dậy thì . Tốc độ phát triển ở giai đoạn này nhanh hay chậm
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm hình thái và chức năng của cơ thể [44].
Vì vậy, nghiên cứu các chỉ số sinh học trên đối tượng học sinh THCS là
rất cần thiết cho việc nâng cao hơn nữa chất lượng con người. Vì lý do trên
chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh
trường THCS Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định thực trạng một số chỉ số sinh học về hình thái và sinh lý của
học sinh trường THCS Minh trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Xác định thực trạng sự tăng trưởng các chỉ số về hình thái và sinh lý qua
các lớp tuổi của học sinh.
- Tìm hiểu một số đặc điểm sinh lý của tuổi dậy thì của học sinh THCS.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái gồm: chiều cao đứng, chiều cao ngồi,
cân nặng, vòng ngực trung bình, vòng bụng,vòng mông, chỉ số Pignet, BMI.
- Nghiên cứu các chỉ số chức năng của một số hệ cơ quan bao gồm: hệ
tuần hoàn (huyết áp, tần số tim), hệ hô hấp (tần số thở), hệ thần kinh (thời gian
phản xạ cảm giác-vận động).
- Tìm hiểu tuổi dậy thì hoàn toàn của học sinh nam (tuổi xuất tinh của
nam) , nữ (độ dài chu kỳ kinh nguyệt, thời gian chảy máu chu kỳ kinh nguyệt).
- Thời gian xuất hiện các đặc điểm sinh dục phụ của cả nam và nữ.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đo các giá trị về hình thái
đời khi con người biết đo chiều cao và cân nặng của mình [50].
Chỉ số hình thái là một trong số các chỉ tiêu được rất nhiều nhà nhân trắc
học cũng như các nhà sinh lý học quan tâm. Ngay từ thế kỷ XIII, Tenon đã coi
cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực [34]. Những nghiên cứu về
sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em được bắt đầu vào khoảng giữa thế kỷ
XVIII. Cuốn sách đầu tiên về sự tăng trưởng chiều cao của con người
(Wachstum der Menschen in die Lange) của A.Stoeller được xuất bản ở
Magdeburg (Đức) vào năm 1729 [50]. Nghiên cứu về sự tăng trưởng thực sự
được trình bày trong luận văn tốt nghiệp của bác sĩ Christian Friedrich Jampert ở
trường y khoa Halle, Đức vào năm 1754 [50]. Đây là công trình nghiên cứu trên
đối tượng từ 1 - 25 tuổi tại trại trẻ mồ côi Hoàng gia ở Berlin và một số nơi khác
ở Đức. Ông cho rằng, sự phát triển là do áp lực của máu lớn hơn sức cản của các
sợi cấu tạo nên cơ thể. Vì vậy, cơ thể phải phát triển để cân bằng áp lực. Mặc dù
sai lầm trong quan niệm về phát triển nhưng Jampert đã áp dụng những kỹ thuật
16
nhân trắc một cách khoa học và chính xác như ngày nay. Đây được xem như là
công trình nghiên cứu cắt ngang đầu tiên về tăng trưởng của trẻ em [50].
Từ năm 1759-1777, Philibert Guesneau de Montbeilard thực hiện nghiên
cứu dọc ngay trên con trai mình, 6 tháng ông đo một lần trong 18 năm. Đây là
một phương pháp nghiên cứu tốt được áp dụng cho đến ngày nay [50]. Ngoài ra,
còn có nhiều công trình khác của Carlschule (Đức), Bowditch (Mỹ), Paul Godin
(Pháp)… đến năm 1977, Hiệp hội các nhà tăng trưởng học ra đời có ý nghĩa
quan trọng trong việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới [19].
BMI được nghiên cứu ở mọi nơi trên thế giới nhằm đánh giá tình trạng
phát triển và dinh dưỡng của trẻ em. Người ta đã kết hợp nhiều đại lượng tăng
trưởng vào một số chỉ số chung như chỉ số Quetelet, Broca, BMI, Pignet…để
đánh giá được chính xác hơn. Tùy theo mục đích nghiên cứu mà các tác giả lựa
chọn các chỉ số cho phù hợp với nghiên cứu của mình [45], [60].
Ở Việt Nam nhân trắc học được nghiên cứu từ những năm 30 của thế kỷ
tỉnh Phú Thọ [36].
Năm 2002, Trần Thị Loan đã nghiên cứu một số chỉ số thể lực của 3023
học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại một số trường phổ thông ở nội thành Hà Nội [31].
Năm 2009, Đỗ Hồng Cường nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh các
dân tộc ở tỉnh Hòa Bình [7].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ tiêu hình thái của học
sinh phổ thông khá phong phú. Mặc dù, các kết quả nghiên cứu về các chỉ số này
trong các công trình nghiên cứu có chênh lệch không nhiều nhưng đều có sự
khác biệt rõ rệt ở từng lứa tuổi và theo giới tính. Mốc đánh dấu sự thay đổi
“nhảy vọt” của các chỉ tiêu nghiên cứu trong quá trình phát triển cơ thể trong các
công trình là tương đối đồng nhất, đó là giai đoạn dậy thì (từ 11 đến 15 tuổi).
Các chỉ số hình thái của trẻ em sống ở các vùng sinh thái khác nhau, trong các
điều kiện nuôi dưỡng, giáo dục khác nhau không giống nhau
1.1.2. Những nghiên cứu các chỉ số chức năng của một số hệ cơ quan
1.1.2.1. Tần số tim và huyết áp động mạch
18
Theo Waldo và Edmun [31] nhịp tim của trẻ em sau khi sinh vài ngày là
120 -140 nhịp/phút, khi đang bú mẹ là 110-160 nhịp/phút, khi lớn lên nhịp tim
của trẻ chậm lại. Trẻ em trước tuổi đi học có nhịp tim là 85 -100 nhịp/phút, ở
học sinh khoảng 70-74 nhịp/phút. Sự giảm nhịp tim của trẻ là do sự tăng hoạt
động của dây thần kinh số X [31].
Ở Việt Nam, nghiên cứu về tần số tim của trẻ em cũng được nhiều tác giả
quan tâm. Theo tác giả Tạ Thúy Lan và Trần Thị Loan [29] tần số tim của trẻ em
chưa ổn định cao hơn nhiều so với của người lớn và phụ thuộc vào tuổi.
Năm 1993, Ngiêm Xuân Thăng [47] đã nghiên cứu ảnh hưởng của môi
trường khô nóng và nóng ẩm lên một số hoạt động tim mạch và huyết áp của cư
dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh thuộc hai nhóm tuổi 12 đến 15 và từ 18 đến 25. Kết
quả cho thấy, tần số tim và huyết áp ở cả hai độ tuổi này đều chịu ảnh hưởng của
khí hậu. Tần số tim tăng theo sự tăng của nhiệt độ môi trường và biến đổi theo
theo tần số hô hấp ở trẻ nam và nữ lứa tuổi 12 đến 16, chỉ số này dao động trong
khoảng 15-17 lần/phút [7].
Trong cuốn “Hằng số sinh học năm 1975” đã trình bày một loạt các chỉ số
cơ bản như tần số thở, dung tích sống gắng sức, thể tích khí lưu thông… và mối
quan hệ của chúng với giới tính và chiều cao của cơ thể [3].
Năm 1993, Đoàn Yên và Trịnh Bỉnh Di cũng nghiên cứu về nhịp thở, về
thể tích khí lưu thông, thể tích phổi của người Việt Nam từ 5-79 tuổi [55].
Nghiêm Xuân Thăng [47] nghiên cứu sự ảnh hưởng của khí hậu lên các chỉ số
hô hấp của ngư dân Nghệ An và Hà Tĩnh và đã cho thấy, tần số thở và dung tích
sống chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiều nhất. Nguyễn Văn Mùi cho thấy thông
số hô hấp của trẻ em nam đặc biệt tăng nhanh ở lứa tuổi 14-15 và ở trẻ nữ tăng
mạnh ở lứa tuổi 13-14…[40]
1.1.2.3. Thời gian phản xạ cảm giác - vận động
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thời gian phản xạ - giác quan
cũng được nhiều tác giả quan tâm.
20
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [47] nghiên cứu thời gian của phản xạ
phân biệt màu sắc, âm thanh theo môi trường khác nhau và nhận thấy thời gian
phản xạ thay đổi theo độ ẩm và nhiệt độ môi trường.
Năm 1997, Đỗ Công Huỳnh và cộng sự [18] đã cho thấy thời gian của
phản xạ cảm giác - vận động ở thanh thiếu niên từ 6 - 18 tuổi giảm dần theo tuổi.
Điều này chứng tỏ quá trình xử lý thông tin và ra quyết định hoạt động của các
em tốt hơn, tăng theo tuổi. Đỗ Công Huỳnh đã xây dựng một phương pháp đo
dựa vào kỹ thuật xử lý trên máy tính để xác định thời gian phản xạ cảm giác -
vận động. Đến bây giờ phương pháp này vẫn được các tác giả sử dụng để phục
vụ nghiên cứu.
Năm 2001, Tạ Thúy Lan và cộng sự [30] nghiên cứu thời gian phản xạ thị
giác - vận động của học sinh, sinh viên từ 15 đến 21 tuổi đã cho thấy thời gian
thính giác và thị giác vận động tăng dần theo lớp tuổi. Thời gian phản xạ cảm
niệm điều hòa ngược và chứng minh vùng dưới đồi có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc điều hòa chức năng sinh sản [27]. Năm 1961, Barracluogh và
Gorski đã kích thích điện vào vùng dưới đồi và đã tìm thấy hai trung khu điều
hòa chức năng sinh dục: trung khu phía trước điều hòa sự bài tiết kích dục tố có
tính chất chu kỳ. Trung khu này không hoạt động ở con đực và trung khu phía
sau điều hòa điều hòa sự bài tiết kích dục tố không có tính chất chu kỳ và thường
gặp ở động vật giống đực
Trước năm 1970, các nhà khoa học chỉ nói đến vai trò của các chất nội tiết
trong điều hòa chức năng sinh sản. Đến nay người ta đã nhận thấy, cơ chế là
thần kinh và thể dịch. Sự điều hòa sinh sản theo cơ chế thần kinh và nội tiết
được thực hiện theo nhiều bậc với sự tham gia của vỏ não [38]
Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về tuổi dậy thì: Đinh
Kỷ, Lương Thị Bích Hồng nghiên cứu về tuổi dậy thì ở nội thành Hà Nội, ở
nông thôn Thái Bình (1978), ở thành phố Hồ Chí Minh (1980); Phạm Minh Đức,
Lê Thị Liên, Phùng Thị Liên và cộng sự nghiên cứu chu kỳ kinh nguyệt của học
sinh Thượng Đình, Hà Nội [14]. Năm 1990, Đào Huy Khuê [25], nghiên cứu về
22
tuổi dậy thì của học sinh ở thị xã Hà Đông. Năm 1998, Lê Thị Tình, Phạm
Quỳnh Hoa [49] nhận xét tuổi bắt đầu có kinh nguyệt của một số dân tộc ở vùng
núi phía Bắc. Năm 2002, Nguyễn Phú Đạt [10] nghiên cứu tuổi dậy thì của trẻ
em và một số yếu tố ảnh hưởng ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, Lê Đình Vấn
[53] nghiên cứu về tuổi dậy thì của học sinh nữ ở Thừa Thiên Huế. Năm 2008,
Đỗ Hồng Cường [7] nghiên cứu về tuổi dậy thì của học sinh trường THCS tỉnh
Hòa Bình…
1.2. Khái quát về các giai đoạn phát triển ở trẻ.
Quá trình sinh trưởng và phát triển diễn ra không đồng đều theo lứa tuổi.
Trong đó các giai đoạn phát triển nhanh xen kẽ giữa các giai đoạn phát triển
chậm, mỗi giai đoạn có những đặc điểm hình thái giải phẫu sinh lý khác nhau.
Chính vì vậy, người ta đã phân chia quá trình phát triển của trẻ em thành một số
chia này thì trẻ em độ tuổi 12 - 15 tuổi thuộc thời kỳ nhi đồng III.
Đoàn Yên và Trịnh Bỉnh Dy [56] công nhận sự phát triển cơ thể người
Việt Nam phù hợp với sơ đồ phân chia của Arshaviski và cho rằng sơ đồ này có
khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nhân chủng học, sinh lý học,
nhi khoa và sư phạm.
Tạ Thúy Lan và Trần Thị Loan [1],[2] lại chấp nhận cách phân chia của
Viện Hàn lâm Liên Xô và cho rằng cách phân chia này phù hợp với đặc điểm lứa
tuổi của người Việt Nam và có thể ứng dụng trong hệ thống giáo dục trẻ em Việt
Nam.
Các tác giả thuộc bộ môn Nhi Khoa, trường Đại học Y Hà Nội [2] cũng
đưa ra sơ đồ phân chia các thời kỳ phát triển của con người. Theo sơ đồ này thì
trẻ em thuộc lứa tuổi học sinh THCS thuộc 2 nhóm sau:
+ 7 - 12 tuổi là giai đoạn học sinh lớp dưới
+ 12 - 18 tuổi là giai đoạn dậy thì
Tóm lại, có nhiều cách phân chia các thời kỳ phát triển cá thể của con
người, mỗi sơ đồ đều có một đặc điểm riêng. Tuy nhiên, tất cả các sơ đồ trên đều
tương đối giống nhau, nếu có chênh lệch thì cũng không lớn (khoảng từ 1 - 2
24
năm), nhóm học sinh THCS (từ 12 – 15 tuổi) đều chủ yếu thuộc vào giai đoạn
dậy thì
- Để đánh giá sự phát triển hình thái, người ta thực hiện [54] cần tiến hành
đo các chỉ tiêu nhân trắc. Các chỉ tiêu nhân trắc rất nhiều nhưng phổ biến là
chiều cao, cân nặng và các vòng thường khác thì chỉ dùng trong những nghiên
cứu đặc thù.
- Sự phát triển của trẻ em đến cuối cùng để đạt kích thước của người lớn.
Các kích thước này khác nhau giữa các cá thể. Trong số các kích thước quan
trọng nhất là chiều cao đứng, một chỉ tiêu phụ thuộc vào sự phát triển của hệ
xương. Quá trình phát triển sẽ chấm dứt khi sụn tăng trưởng phát triển thành
xương. Trong thực tiễn, các nhà nhân trắc học đã đưa ra khái niệm tuổi xương
hơn nhưng đường kính của mạch máu lại phát triển chậm cản trở sự tuần hoàn
máu do đó các em thường thấy mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, tim đập nhanh…
[6]. Tình trạng không cân xứng trong quá trình phát triển của hệ tim mạch đã
ảnh hưởng đến tuần hoàn não, có thể gây ra thiểu năng tuần hoàn não nhất thời
làm cho tế bào bị thiếu ôxi. Chính vì vậy, trẻ em ở lứa tuổi dậy thì thường kém
tập trung tư tưởng, kém nhạy cảm và có thể ảnh hưởng đến trí nhớ.
Các quá trình thần kinh thiếu cân bằng, quá trình hưng phấn mạnh hơn
quá trình ức chế nên trẻ em trong lứa tuổi này thường nóng tính, khả năng kiềm
chế kém, phản ứng bộp chộp.
Hệ mao mạch dưới da phát triển làm da trở nên hồng hào nhất là ở các em
nữ. Tuyến mồ hôi và tuyến nhờn cũng tiết ra không kịp, chúng bị ứ lại tạo thành
trứng cá nhất là ở các em nam
Ngoài ra, còn xuất hiện trong cơ thể nữ giới và nam giới không giống
nhau.
Sau khi trẻ gái ra đời, buồng trứng không hoạt động cho tới khi nhận được
kích thích phù hợp từ tuyến yên. Hai buồng trứng bắt đầu hoạt động, thể hiện
qua hoạt động các bao noãn và bài tiết hoocmon sinh dục nữ dẫn đến những
thay đổi về thể chất, tâm lý, sự trưởng thành và hoàn thiện về chức năng sinh
dục. Thời kỳ phát triển và trưởng thành này được gọi là dậy thì.