Hiện trạng và giải pháp cho vấn đề môi trường làng nghề mộc xã Vân Hà – Đông Anh – Hà Nội - Pdf 29

Báo cáo thực tập giáo trình _ Nhóm 5
Phần I: Mở đầu
1. Đặt vấn đề
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản
phẩm được sản xuất trực tiếp tại làng nghề trở thành thương phẩm trao đổi góp
phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng lao động lúc nông nhàn. Theo số liệu
công bố mới đây của đại diện lãnh đạo Cục Cảnh sát môi trường (Bộ công an) ngày
26/08/2009, hiện nay trong cả nước có 2790 làng nghề, các làng nghề phân bố tập
trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%); còn lại là miền Trung
(chiếm khoảng 30%) và miền Nam (chiếm khoảng 10%) (Nguồn: Tổng cục môi
trường tổng hợp, 2008).
Sự phát triển của các làng nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phần
đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, góp phần tạo công ăn việc
làm và thu nhập ổn định cho dân cư ở khu vực nông thôn. Cải thiện đời sống gia
đình, tận dụng lao động lúc nông nhàn và góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao
chất lượng cuộc sống người dân.
Vân Hà là một xã thuộc ngoại thành Hà Nội, nổi tiếng với các sản phẩm thủ
công gỗ mỹ nghệ truyền thống như bàn, ghế, sập, tủ, tượng… Các sản phẩm này
được các thương lái mang đi khắp nơi trong và ngoài nước, vì vậy quy mô của làng
nghề là tương đối lớn. Toàn xã có 20 doanh nghiệp, khoảng 500 hộ hoạt động sản
xuất hàng thủ công gỗ mỹ nghệ với quy mô lán xưởng lớn. Tốc độ tăng trưởng kinh
tế trong những năm gần đây giữ ở mức 10%. Sự phát triển của ngành tiểu thủ công
nghiệp đã có nhiều đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa
phương.
GVHD: PGS.TS Đoàn Văn Điếm
1
Báo cáo thực tập giáo trình _ Nhóm 5
Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, việc phát triển nghề mộc đã và
đang gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm bụi và
tiếng ồn, làm ảnh hưởng đến đời sống, mỹ quan cũng như sức khỏe của người dân.
Hoạt động sản xuất hàng thủ công gỗ mỹ nghệ không theo quy mô sản xuất tập

được điều kiện môi trường.
GVHD: PGS.TS Đoàn Văn Điếm
3
Báo cáo thực tập giáo trình _ Nhóm 5
Phần II. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1 Nội dung
− Tìm hiểu, đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Vân Hà
− Tìm hiểu thực trạng sản xuất, hoạt động làng nghề và đời sống của
nhân dân trong xã Vân Hà
− Các vấn đề môi trường của xã, hiện trạng, áp lực của hoạt động sản
xuất đến môi trường.
− Hoạt động giáo dục môi trường và tuyên truyền nhận thực về bảo vệ
môi trường cho người dân
− Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
+ Tài liệu thứ cấp: tài liệu thu thập được từ các phòng ban, internet, văn bản
quy phạm, báo cáo về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế xã hội, hiện
trạng môi trường của khu vực và công tác quản lý môi trường xã Vân Hà.
+ Tài liệu sơ cấp: thu thập từ phiếu điều tra nông hộ, phiếu điều tra vệ sinh
viên, phiếu điều tra người dân. Tổng số phiếu điều tra phát ra là 50 phiếu bao gồm
30 phiếu điều tra nông hộ, 8 phiếu điều tra vệ sinh viên, 12 phiếu điều tra hộ gia
đình không làm nghề. Hình thức điều tra ngẫu nhiên.
GVHD: PGS.TS Đoàn Văn Điếm
4
Báo cáo thực tập giáo trình _ Nhóm 5
2.2.2 Phương pháp khảo sát trực tiếp: xác định khối lượng và thành
phần rác thải sinh hoạt thông qua phương pháp phân tích khối lượng. Chọn ngẫu
nhiên 10 hộ gia đình tại thôn Thiết Úng, sau đó đặt túi nilon, xác định khối lượng
và thành phần rác thải trong 3 ngày liên tiếp

hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và khô còn mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều.
Mùa hè thường bắt đầu từ thánh 5 kéo dài cho hết tháng 10. Mùa đông từ
tháng 11 cho đến hết tháng 4 năm sau.
Chế độ nhiệt được phân hóa theo hai mùa rõ rệt đó là mùa đông và mùa hè.
Nhiệt độ không khí trung bình năm: 24.72
0
C, trong đó nhiệt độ không khí cao
nhất trong năm là tháng 6 với 34,8
0
C và tháng thấp nhất là tháng 12 với 15,7
0
C.
Lượng mưa trung bình năm 2008 là 140,2 mm, mùa mưa tập trung từ tháng 7
đến tháng 9 chiếm đa số lượng mưa cả năm. Tháng có lượng mưa trung bình cao
nhất là 7, 8 và tháng 9 (> 1000m). Do lượng mưa vào các tháng trên là lớn nên
nhiều diện tích trong đê ở chân ruộng thấp, trũng bị ảnh hưởng nặng. Mùa khô bắt
đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 4 năm sau với tổng lượng mưa ít không đáng
kể. Tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 1(1.0mm).
GVHD: PGS.TS Đoàn Văn Điếm
6
Báo cáo thực tập giáo trình _ Nhóm 5
Độ ẩm tương đối bình quân 78% , tháng 2, 3, 4 và 8, thường có độ ẩm cao hơn
80%, tháng 12 có độ ẩm trung bình thấp nhất là 31%. Tổng số giờ nắng cả năm là
1794 giờ, trong đó số giờ nắng trung bình ở tháng 12, 1, 2, 3, 4 là thấp nhất. Tháng
có số giờ nắng trung bình thấp nhất là tháng 3 (79 giờ). Tháng có số giờ nắng trung
bình cao nhất là tháng 7 (208giờ)
Với đặc điểm khí hậu trên thì Vân Hà thuận lợi cho sản xuất được nhiều loại
cây trồng, vật nuôi khác nhau để phát triển một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa
đa dạng.
3.1.1.3 Thủy văn

bố tại các thôn là Hà Khê, Thiết Úng và một số ít ở Thôn Văn Điềm
- Nhóm đất phù sa không được bồi, trung bình ít chua (Pe): Có diện tích là
117,475 được phân bố tại các thôn Cổ Châu, Thiết Bình và một số đồng ở Thôn Hà
Khê.
Theo kết quả phân tích, đất đai của xã như sau:
- Phần lớn diện tích đất của xã là đất hơi chua.
- Đạm tổng số ở mức nghèo
- Kali tổng số ở mức nghèo
- Thành phần cơ giới biến đổi từ thịt nhẹ, thịt pha sét đến sét.
Nhìn chung, đất đai của xã nghèo chất dinh dưỡng. Tuy nhiên nếu đất đai có
chế độ canh tác hợp lý, lựa chọn giống cây trồng phù hợp thì xã có thể phát triển
các loại cây trồng như: ổn định và hình thành vùng Lúa cao sản, vùng chuyên canh
cây cảnh, cây ăn quả và một số nơi thấp trũng thì quy hoạch thả cá hoặc xây dựng
quy mô trang trại.
3.1.1.6 Tài nguyên thực vật
GVHD: PGS.TS Đoàn Văn Điếm
8
Báo cáo thực tập giáo trình _ Nhóm 5
Xã Vân Hà có điều kiện khí hậu và địa hình tương đối thích hợp cho sự phát
triển hệ thực vật, trong đó phải kể đến các loại rau màu, cây ăn quả các loại và cây
cảnh. Tuy nhiên, do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, đất trồng rau màu đã
giảm đáng kể, toàn xã chủ yếu chỉ trồng lúa với 2 vụ/năm, các loại cây rau màu,
cây ăn quả rất ít và không được quan tâm.
3.1.1.7 Tài nguyên nhân văn.
Vùng đất Vân Hà có nhiều đổi mới trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với
nhiều làng nghề truyền thống được phát huy như nghề trạm khắc gỗ, làm mộc, nghề
đan …, Dân cư sống tập trung thành các làng xóm đông đúc, là nơi hội tụ nhân tài,
nơi sinh ra nhiều tiến sĩ đã được ghi danh trong Quốc Tử Giám đã minh chứng cho
vùng đất hiếu học.
3.1.2 Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội

Tổng giá trị sản xuất các ngành
kinh tế
Tỷ
đồng
34 37,5 41 50 84
114
Ngành tiểu thủ công nghiệp
Tỷ
đồng
24 26,8 27,5 28 59
86
Ngành nông nghiệp
Tỷ
đồng
7,5 7,5 9 16 16
16
Ngành dịch vụ, thương mại
Tỷ
đồng
2,5 3,2 4,5 6 9
12
Cơ cấu kinh tế %
Tiểu thủ công nghiệp % 70 71 68 67 70,2 75,4
Nông nghiệp % 24 20 22,6 23 19 14
Thương mại, dịch vụ % 6 9 9,4 10 10,8 10,6
( Theo số liệu thống kê của UBND xã Vân Hà năm 2010 )
3.1.2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
 Dân số
Năm 2011, dân số của xã Vân Hà là 10.073 người/2508 hộ dân, trong đó có
2473 hộ nông nghiệp, 35 hộ phi nông nghiệp. Mật độ dân số trung bình toàn xã là

số liệu thống kê của trưởng công an xã Vân Hà, toàn xã có khoảng 3500 lao động
tạm trú tại địa phương. Nguồn lao động này đã góp phần đáp ứng được yêu cầu của
GVHD: PGS.TS Đoàn Văn Điếm
11
Báo cáo thực tập giáo trình _ Nhóm 5
làng nghề, nhưng cũng làm tăng thêm áp lực về vấn đề môi trường cũng như an
ninh tại địa phương.
3.1.2.4 Giao thông, thủy lợi
 Giao thông
Dự án xây dựng đường Quốc lộ 3 đang được triển khai xây dựng và một phần
đường có đi qua địa bàn xã. Dự án đường Quốc lộ 3 hoàn thành sẽ tạo điều kiện
cho giao thông đi lại trong địa bàn xã với các địa phương lân cận, thúc đẩy lưu
thông và trao đổi hang hóa.
Đường giao thông nông thôn, nội đồng: Hiện tại mạng lưới giao thông nông
thôn, nội đồng của xã đã được khép kín, hầu hết mặt đường đã được nhựa hóa và bê
tông hóa thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân, tuy nhiên trong những năm tới cần
được nâng cấp cải tạo để tránh tình trạng bị xuống câp.
 Thủy lợi
Mạng lưới thủy lợi của xã cơ bản đáp ứng được cho nhu cầu sản xuất nông
nghiệp, các tuyến kênh mương hàng năm được tu sửa nạo vét đảm bảo đủ nước
phục vụ nhu cầu tưới tiêu của xã.
Hệ thống thủy lợi được đầu tư tập trung, nâng cấp tạo điều kiện thuận lợi cho
sản xuất và lưu thông hàng hóa, tiện lợi cho sinh hoạt. Hệ thống các kênh mương
đã dần được kiên cố hóa và góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi, giao lưu hàng hóa phát triển kinh tế.
3.1.2.5 Thực trạng các cơ sở hạ tầng khác
 Giáo dục và đào tạo:
GVHD: PGS.TS Đoàn Văn Điếm
12
Báo cáo thực tập giáo trình _ Nhóm 5

chính viễn thông, giáo dục y tế, văn hóa, thể dục thể thao…tuy đã đáp ứng được
nhu cầu của người dân nhưng phải được thường xuyên nâng cấp, cải tạo tạo điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội của xã.
Lực lượng lao động dồi dào nhưng phần lớn chưa qua đào tạo, gây khó khăn
trở ngại cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ mới.
Tốc độ gia tăng dân số đã giảm nhưng số hộ tăng thêm hàng năm còn lớn. Do
đó trong những năm tới quỹ đất của xã dành cho việc phát triển cơ sở hạ tầng và
xây dựng nhà ở cho nhân dân tăng lên, gây áp lực lớn cho mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội của xã sau này.
Sự tăng dân số gây sức ép đến hệ thống cơ sở hạ tầng của xã đồng thời trong
những năm tới nhu cầu đời sống của người dân ngày càng tăng cao, nên đòi hỏi
phải bố trí một quỹ đất lớn cho xây dựng các công trình phục vụ văn hóa, thể thao,
vui chơi giải trí.
Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội cần khai thác sử dụng đất khoa học,
hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái. Việc bố
trí sử dụng đất cũng phải đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trước mắt
cũng như lâu dài.
3.2 Thực trạng sản xuất và đời sống
3.2.2 Sản xuất nông nghiệp
3.2.2.1 Trồng trọt
GVHD: PGS.TS Đoàn Văn Điếm
14
Báo cáo thực tập giáo trình _ Nhóm 5
Về sản xuất nông nghiệp xã đã thực hiện tốt việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng
vật nuôi. Chú trọng khuyến khích các mô hình trang trại, quy hoạch vùng sản xuất
chuyên trồng lúa nước. Bằng hình thức “kích cầu” khuyến khích nhân dân chuyển
đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi giá trị đầu tư.
Theo số liệu thống kê đất đai toàn xã năm 2010 cho thấy năm 2010 xã Vân Hà
có 314 ha (đất chuyên trồng lúa nước) chiếm 60,26% diện tích tự nhiên của xã
(diện tích tự nhiên của xã là 521 ha) . Số nhân khẩu lao động trung bình trong lĩnh

trồng
Năm 2007 Năm 2008
Diện tích
(ha)
Năng
xuất
(tạ/ha)
Sản
lượng
(tấn)
Diện
tích
(ha)
Năng
xuất
(tạ/ha)
Sản
lượng
(tấn)
1 Lúa cả năm 599.00 43.10 2580.00 572.0
0
47.20 2702.00
2 Rau các lại 5.00 150.00 75.00 3.00 164.70 49.00
3 Khoai tây 3.00 97.00 29.00 1.00 97.00 9.70
4 Lạc 0.00 0.00 0.00 3.00 8.30 2.00
(Nguồn: Số liệu thống kê của xã Vân Hà năm 2009)
* Mức độ đầu tư vào sản xuất nông nghiệp
Theo kết quả điều tra nông hộ cho thấy, hầu hết những hộ gia đình tại đây đều
sử dụng phân bón hóa học, rất ít hộ dùng phân chuồng, phân xanh cũng như các
loại phân hữu cơ khác. Tổng hợp phiếu điều tra thu được, chỉ có 2/17 hộ có trồng

Hệ thống thủy lợi được đầu tư tập trung, nâng cấp tạo điều kiện thuận lợi cho
sản xuất và lưu thông hàng hóa, tiện lợi cho sinh hoạt. Hệ thống các kênh mương
GVHD: PGS.TS Đoàn Văn Điếm
17
Báo cáo thực tập giáo trình _ Nhóm 5
đã dần được kiên cố hóa và góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi, giao lưu hàng hóa phát triển kinh tế.
3.2.3 Sản xuất đồ gỗ
Xã Vân Hà - Đông Anh – Hà Nội, là khu vực làng nghề đã có từ lâu và mới
phát triển mạnh trong những năm gần đây. Dân Vân Hà nổi tiếng khéo tay, có con
mắt nghệ thuật cao. Sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ truyền thống là sự kết hợp khéo léo
giữa chất liệu tự nhiên là gỗ với bàn tay khối óc của người thợ. Mỗi sản phẩm làm
ra đều đánh dấu sự phân công lao động hợp lí, kết hợp với đồ họa, kiến trúc tỉ mỉ
của con người.
Hoạt động sản xuất gỗ tại địa phương
Toàn xã có 5 thôn thì cả 5 thôn đều tham gia sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, trong đó
thôn Thiết Úng đã công nhận làng nghề (26/2/2010, thôn Thiết Úng, đã tổ chức lễ
GVHD: PGS.TS Đoàn Văn Điếm
18
Báo cáo thực tập giáo trình _ Nhóm 5
đón nhận và rước Bằng công nhận Làng nghề điêu khắc gỗ mỹ nghệ truyền thống
Hà Nội). Trong đó có sự phân chia loại sản phẩm theo từng thôn.
Ở Thiết Bình chủ yếu là buôn bán và chế biến gỗ phục vụ nhu cầu sản xuất
trong toàn xã (ước tính tiêu thụ khoảng 2000m
3
/năm), theo nguồn số liệu thống kê
của xã thì có khoảng 60-70 hộ kinh doanh gỗ, có 15 máy xẻ CD trên tổng số 20
máy, ngoài ra còn sản xuất mặt hàng như tủ, bàn, ghế...
Thôn Hà Khê và Cổ Châu chuyên sản xuất đồ gia dụng phục vụ đời sống như
giường, tủ, bàn, ghế...

Cổ
Châu

Khê
Thiết
Bình
Thiết
Úng
Vân
Điềm
Toàn

Số hộ làm
nghề
198 504 499 474 484
2159
Tổng số hộ 220 504 587 592 605 2508
% số hộ 90 100 85 80 80 86
(Dựa theo thống kê 30/9/2010)
Về thị trường tiêu thụ: Có thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn mạnh ở
Trung Quốc và một số nước Châu Á.
- Vốn: Có vốn đầu tư cho sản xuất lớn, trong đó tính cả vốn sẵn có của hộ gia
đình và vốn cho vay của ngân hàng.
- Đầu vào : Xã Vân Hà sản xuất chủ yếu các loại gỗ tốt như: gỗ trắc, gỗ
hương, gỗ gụ.
- Sản phẩm: Các sản phẩm đa dạng về mẫu mã, chất lượng tốt như đồ nội thất,
giường ,tủ, bàn ghế, ,tượng phật…
GVHD: PGS.TS Đoàn Văn Điếm
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status