BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
_____________
______________
MAI VĂN ĐẠI
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TỔNG PHỤ TRÁCH ĐỘI TRONG TRƯỜNG THCS TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN NGÔ QUYỀN - TP HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN THANH
Hà Nội - 2014
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm
ơn đến:
Các thầy, cô giáo Học viện Quản lý giáo dục đã tận tình giảng dạy, chỉ
dẫn tôi trong suốt quá trình tham gia học tập.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Xuân Thanh đã
giúp đỡ và chỉ dẫn tận tình cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Hội đồng Đội, Phòng Giáo dục
quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; Ban Giám hiệu các trường THCS trên
địa bàn quận Ngô Quyền; Hội đồng Đội thành phố, Sở Giáo dục và Đào tạo
thành phố Hải Phòng, Viện Nghiên cứu Thanh niên đã tận tình giúp đỡ, cung
cấp nhiều thông tin và tư liệu quý giá để tôi hoàn thành nhiệm vụ của luận văn.
Xin được gửi đến những người thân yêu trong gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp những tình cảm biết ơn sâu sắc, đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi
về mọi mặt.
GDTH Giáo dục tiểu học
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
GDTX Giáo dục thường xuyên
GDNN Giáo dục nghề nghiệp
GD ĐH Giáo dục đại học
TNTP Thiếu niên tiền phong
TNCS Thanh niên cộng sản
XHCN Xã hội chủ nghĩa
GP Giải pháp
UBND Ủy ban nhân dân
TP Thành phố
MỤC LỤC
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới bước vào thế kỷ XXI đang đứng trước xu thế của thời đại: Hội
nhập, hợp tác, toàn cầu hóa trên tất cả các lĩnh vực để cùng phát triển. Tri thức,
tài năng và nguồn lực con người là con đường để đổi mới và phát triển. Vấn đề
đặt ra cho tất cả các quốc gia trên thế giới những thời cơ và thách thức lớn đối
với bản lĩnh và trình độ của mỗi dân tộc. Cả thế giới đang chuyển từ nền kinh tế
công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, đó là quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế
chủ yếu dựa vào vốn và tài nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế chủ yếu dựa
vào tri thức con người.
Việt Nam đang đứng trước một xã hội tương lai: xã hội thông tin, xã hội
học tập, ở đó mỗi người phải nỗ lực học tập, học tập suốt đời trong một nền giáo
dục tốt nhất để có được những phẩm chất, năng lực mới xứng đáng ở vị trí trung
tâm của sự phát triển.
5
Giáo dục và đào tạo là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp cách mạng
Giáo viên Tổng phụ trách Đội trong nhà trường là người có vị trí, vai trò,
nhiệm vụ vô cùng quan trọng, quyết định đến chất lượng và hiệu quả của hoạt
động Đội trong nhà trường. Giáo viên Tổng phụ trách Đội là một mắt xích quan
trọng kết nối ngành giáo dục với hoạt động Đội. Do đó hoạt động Đội trong nhà
trường có sôi nổi hay không, có hiệu quả và thiết thực hay không còn phụ thuộc
vào năng lực và phẩm chất của người giáo viên làm Tổng phụ trách Đội. Vì thế,
để có được những hoạt động Đội thu hút, hiệu quả và hấp dẫn các em học sinh,
đòi hỏi người giáo viên Tổng phụ trách Đội phải có năng lực, và quan trọng
nhất đó là năng lực tổ chức các hoạt động thực tiễn cho các em và phải biết thiết
kế và thực thi các hoạt động đó. Thực tiễn trong những năm gần đây, nhiều giáo
viên TPT Đội được đề cử thường là những giáo viên còn rất trẻ cả tuổi đời và
tuổi nghề, chưa có những kinh nghiệm về công tác Đội, còn phải làm kiêm
nhiệm, không được đào tạo một cách chính quy. Do đó khả năng thiết kế và chỉ
đạo thực hiện các hoạt động của Đội trong nhà trường còn nhiều hạn chế.
Chính điều này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của tổ chức
Đội và chất lượng đội viên. Để có thể tự mình thiết kế được một hoạt động nhân
các ngày lễ lớn hay theo các chương trình hoạt động hoặc những hoạt động
thường ngày của Đội đòi hỏi người giáo viên TPT Đội phải luôn luôn học hỏi,
tích lũy kinh nghiệm, cần cù, chịu khó và tiếp cận thực tế. Để công tác Đội ngày
càng có hiệu quả và có chiều sâu, đáp ứng được những nhu cầu của sự phát triển
đa dạng, phong phú của thiếu nhi. Qua hơn 06 năm làm việc trong lĩnh vực công
tác Đội và phong trào thiếu nhi; bằng những kinh nghiệm được rút ra trong quá
trình hoạt động thực tiễn thông qua các đợt tập huấn, tiếp thu ý kiến và học hỏi
kinh nghiệm từ các giáo viên Tổng phụ trách Đội, và được các đồng nghiệp
đóng góp, tôi đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý báu. Và với mong muốn
góp phần cùng các giáo viên Tổng phụ trách Đội thực hiện tốt hơn công tác bảo
vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu niên nhi đồng của thành phố Hải Phòng nói chung
và của quận Ngô Quyền nói riêng, tôi chọn đề tài: “ Quản lý phát triển đội ngũ giáo
viên tổng phụ trách Đội trong trường THCS trên địa bàn Quận Ngô Quyền,
Thành phố Hải Phòng ” làm đề tài nghiên cứu của mình.
8
Phân tích, tổng hợp và khái quát hóa những vấn đề lý luận liên quan đến
nội dung nghiên cứu của đề tài dựa trên các tài liệu lý luận khoa học, tạp chí,
sách báo, các báo cáo của Hội đồng Đội các cấp, hoạt động Đội của các trường
THCS trên địa bàn triển khai…
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp tọa đàm.
6.3. Nhóm phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng tình hình
giáo viên tổng phụ trách Đội từ năm 2010 đến 2014, từ đó đưa ra các biện pháp
nhằm nhằm góp phần trong công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên làm
tổng phụ trách Đội các trường THCS trên địa bàn quận Ngô Quyền, Thành phố
Hải Phòng.
8. Cấu trúc luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý phát triển đội ngũ giáo viên làm
Tổng phụ trách Đội trong trường THCS.
Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên làm Tổng phụ
trách Đội trong trường THCS trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải
Phòng.
Chương 3: Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên làm Tổng phụ
trách Đội trong trường THCS trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải
Phòng.
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TỔNG PHỤ TRÁCH ĐỘI TRONG TRƯỜNG THCS
Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và c)
Nghiên cứu đề xuất hệ thống các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ giáo
viên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên các công
trình kể trên hầu hết vẫn còn để lại khoảng trống nghiên cứu về quản lý đội ngũ
giáo viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về chính
sách tuyển dụng, sử dụng và về vai trò, vị trí mới của đội ngũ giáo viên trong
tiến trình phát triển nhà trường Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế và xu
thế toàn cầu hóa.
Đối với lĩnh vực nghiên cứu quản lý phát triển giáo viên Tổng phụ trách
Đội, đây là nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản của Hội đồng Đội và ngành Giáo dục
11
các cấp. Từ lâu, đã có rất nhiều các tổ chức, các cá nhân quan tâm tới các đề tài
nghiên cứu về đội ngũ này. Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu sau đây:
- Sổ tay Người phụ trách Đội - Ban Thiếu niên nhi đồng Trung ương, Nhà
xuất bản Thanh niên 1960.
- Giáo trình công tác Đội TNTP Hồ Chí Minh - Trường Đoàn Trung ương
và Trung tâm Khăn quàng đỏ, xuất bản năm 1985.
- Sổ tay người phụ trách chi đội - Hoàng Giai, Nhà xuất bản Thanh niên
1988.
- Lao động của người phụ trách Đội TNTP Hồ Chí Minh - Nguyễn Hữu
Thiện. Nhà xuất bản Trẻ 1987.
Những công trình nói trên có đặc điểm đều là tài liệu có tính giáo trình,
giới thiệu về hệ thống nguyên lý giáo dục, trình bày những yêu cầu về vai trò,
về phương pháp và nội dung công tác của đội ngũ phụ trách Đội.
Trong những giai đoạn trước, công tác nghiên cứu khoa học về Đội
TNTP Hồ Chí Minh chưa hình thành, chưa xác định rõ tính chất hệ thống của
lực lượng GV TPT Đội, nhưng trong thực tiễn công tác Đội và ngành Giáo dục
vẫn xây dựng đội ngũ GV TPT Đội mang tính hệ thống và đã nhiều lần thay đổi
cấu trúc đội ngũ này.
Những nghiên cứu cơ bản, nghiêm túc về thực trạng đội ngũ GV TPT
nhận thấy cần phải tiếp tục đi tìm những luận điểm, luận cứ để khẳng định quan
điểm cần quản lý phát triển đội ngũ GV TPT Đội trong nhà trường, đặc biệt đối
với luận văn này, tác giả đi sâu tìm hiểu và đề xuất các biện pháp quản lý phát
triển đội ngũ GV TPT Đội trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
1.2 Một số khái niệm.
1.2.1. Quản lý
Quản lý: Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Con người
trong hoạt động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch,
sắp xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả
năng của mình. Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế
hoạch, sự phân công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động… Như
vậy quản lý tất yếu nảy sinh và nó chính là một phạm trù tồn tại khách quan
13
được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi
thời đại. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý.
Theo các tác giả nước ngoài
Ở góc độ quản lý với tư cách là một chức năng xã hội dưới dạng chung
nhất thì quản lý được xác định là cơ chế để thực hiện sự tác động có mục đích
nhằm đạt được những kết quả nhất định. Đề cập đến hoạt động quản lý, người ta
thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K.Marx: “Một nghệ sĩ vỹ cầm thì tự điều
khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”.
K.Marx coi việc xuất hiện của quản lý như một dạng hoạt động đặc thù của
con người được gắn liền với sự phân công và hợp tác lao động; quản lý là kết quả
tất yếu của sự chuyển những quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau
thành một quá trình lao động xã hội được tổ chức lại: “Trong tất cả những công
việc mà có nhiều người hợp tác với nhau thì mối liên hệ chung và sự thống nhất
của quá trình tất phải biểu hiện ra ở trong một ý chí điều khiển và trong những
chức năng không có quan hệ với những công việc bộ phận, mà quan hệ với toàn
bộ hoạt động của công xưởng, cũng giống như trường hợp nhạc trưởng của một
dàn nhạc vậy. Đó là một thứ lao động sản xuất cần phải được tiến hành trong một
hợp và kiểm tra” [18].
Theo các tác giả trong nước
Theo Từ điển Tiếng Việt do nhà xuất bản Đà Nẵng. Trung tâm từ điển
học Hà Nội - Đà Nẵng xuất bản 1995, Quản lý có nghĩa là:
“Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định,
Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.
Theo tác giả Trần Kiểm thì: “Quản lý là những tác động của chủ thể
quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối
các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối
ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [16, tr.6 ].
Trong giáo trình Khoa học tổ chức và quản lý - một số vấn đề lí luận và
thực tiễn, các tác giả cho rằng: Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức
hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử
dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể.
15
Đề cập đến vấn đề quản lý, tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế Ngữ
cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý
một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [17, tr.29].
Những quan niệm về quản lý trên đây tuy có cách tiếp cận khác nhau,
nhưng có thể nhận thấy chúng đều bao hàm một nghĩa chung, đó là:
Quản lý là các hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá
nhân, đảm bảo hoàn thành các công việc và là phương thức tốt nhất để đạt được
mục tiêu chung của tập thể.
Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu
quả cao nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống
ổn định phát triển, đạt được những mục tiêu đã định.
Tóm lại: Quản lý là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫn
các quá trình xã hội, những hành vi hoạt động của con người, huy động tối đa
các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích theo ý chí của nhà quản lý và phù
biến trong mọi lĩnh vực đời sống, từ nhận thức, từ cơ cấu tổ chức vi mô đến vĩ
mô, đến chuẩn mực hành vi cá nhân… theo chiều hướng tích cực, tốt hơn, hoàn
thiện hơn.
Ổn định không mâu thuẫn với phát triển, mà là tiền đề của sự phát triển.
Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi
lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Nhưng nếu hiểu sự
vận động phát triển một cách biện chứng toàn diện, sâu sắc thì trong tự bản thân
sự vận động phát triển đã bao hàm sự vận động thụt lùi, đi xuống với nghĩa là
tiền đề, điều kiện cho sự vận động đi lên, hoàn thiện.Ý nghĩa của nguyên lí này
đòi hỏi: trong khi xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng phải tôn trọng nguyên
tắc phát triển của chúng, không được thành kiến định kiến Luôn lạc quan tin
tưởng vào khuynh hướng vận động của sự vật, tạo mọi điều kiện để sự vật phát
triển ( 19. Tr 11. Báo cáo khoa học, nghiên cứu gpháp ổn định và phát triển
đội ngũ cán bộ phụ trách đội TNTP Hồ Chí Minh- Hà nội 1999).
1.2.4. Phát triển đội ngũ giáo viên
17
Phát triển đội ngũ GV là phát triển con người. Theo Edouard Awattez:
phát triển con người là mở rộng cơ hội lựa chọn để con người có thể nâng cao
chất lượng cuộc sống toàn diện của chính mình một cách bền vững. Theo nghĩa
hẹp, phát triển đội ngũ GV là phát triển nguồn lực con người trong ngành
GD. Đào tạo đội ngũ GV có năng lực lao động, làm cho mỗi GV tự tạo và phát
triển bản thân. Phát triển đội ngũ GV là làm cho đội ngũ GV biến đổi theo chiều
hướng đi lên. Phát triển đội ngũ GV đủ về số lượng, từng bước nâng cao chất
lượng, đồng bộ về cơ cấu. Đó là quá trình phát triển đội ngũ GV có trình độ
chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cao và có phẩm chất đạo đức tốt. Phát triển
đội ngũ GV phải được bắt đầu từ việc tuyển lựa những GV có năng lực, đào
tạo bồi dưỡng các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc của họ, kích
thích sự sáng tạo, đổi mới, định hướng, tạo cơ hội để họ phát triển chuyên môn.
1.2.5. Đội TNTP Hồ Chí Minh.
Đội TNTP Hồ Chí Minh là tổ chức của thiếu nhi Việt Nam do Đảng
Đối với ngành Giáo dục, mà cụ thể là đối với các trường Tiểu học và
Trung học cơ sở ở nước ta hiện nay, tổ chức Đội đóng vai trò rất quan trọng
trong việc phối hợp với nhà trường giáo dục đạo đức, nhân cách cho các em. Để
tổ chức và quản lý hoạt động Đội trong trường học, lực lượng GV TPT Đội xuất
hiện, vừa thay mặt cho tổ chức Đội, tổ chức Đoàn, vừa thay mặt cho nhà trường
đứng ra quản lý, tổ chức hoạt động cho các em. Và cho đến hiện nay, vai trò của
người GV TPT Đội đã trở nên rất quan trọng, là một thành viên không thể thiếu
trong bộ tứ quản lý ở trường học.
1.3. Lý luận về công tác Đội TNTP Hồ Chí Minh.
1.3.1. Vị trí, vai trò của công tác Đội.
Thiếu nhi là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Khi các em được tổ chức thành đội ngũ,
trong tổ chức Đội của mình, thì Đội trở thành một lực lượng cách mạng theo
tình thần “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, đồng thời Đội là một lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường. Thực tiễn đã cho thấy dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự
phụ trách của Đoàn, trong Cách mạng Dân tộc, dân chủ nhân dân, Đội là một
thành viên trong Mặt trận Việt Minh. Đội TNTP Hồ Chí Minh và các đội viên
19
cùng cha anh tham gia các phong trào cách mạng, như làm giao liên, vào các
đội du kích, tiếp tế lương thực thực phẩm, bảo vệ cán bộ và trực tiếp giết giặc
lập công. Sự đóng góp của các tập thể Đội và đội viên đã góp phần làm nên
thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến oanh liệt của
dân tộc, bảo vệ toàn vẹn Tổ quốc.
Trong cách mạng XHCN, Đội thực sự là lực lượng giáo dục thiếu nhi, vừa là
lực lượng cách mạng quan trọng, đã có những đóng góp không nhỏ của mình vào sự
ổn định chính trị xã hội, phát triển kinh tế nâng cao đời sống nhân dân.
Đặc biệt vai trò của Đội tiếp tục được khẳng định trong quá trình đổi mới
của đất nước, bằng những hoạt động thiết thực của mình trong các trường phổ
thông, trên địa bàn dân cư như: Phong trào “Áo lụa tặng bà”, phong trào “Đền
ơn đáp nghĩa”, phong trào “Thiếu nhi nghèo vượt khó”, “Tấm áo tặng bạn”,
lượng cho Đoàn thanh niên. Về thực chất, công tác Đội giúp các em rèn luyện,
phấn đấu để khi đủ điều kiện thì gia nhập Đoàn. Đó cũng là nhiệm vụ xây dựng
Đoàn bằng con đường ngắn nhất và tốt nhất. Xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh bắt đầu từ xây dựng Đội TNTP Hồ Chí Minh.
Để thực hiện vai trò này, phải tăng cường trách nhiệm của các cán bộ
Đoàn làm công trác phụ trách Đội, đặc biệt là đội ngũ Giáo viên Tổng phụ trách
trong trường học, làm tốt công tác giáo dục đội viên lớn lên Đoàn. Phải tạo môi
trường cho các em đội viên lớn được rèn luyện, thử thách, phấn đấu, phân công
đoàn viên trực tiếp giúp đỡ các em. Xây dựng các tổ tu dưỡng cho đội viên lớn
với các kế hoạch hoạt động cụ thể, thiết thực, phù hợp với điều kiện, khả năng
của các em. Bồi dưỡng đội viên lớn vào Đoàn là nhiệm vụ, trách nhiệm, là niềm
tự hào của mỗi đoàn viên, cán bộ Đoàn, phụ trách Đội.
1.3.1.5. Đối với Đảng cộng sản Việt Nam
Đội là lực lượng dự trữ chiến lược cho Đảng, là một trong những lực
lượng tạo nên những mắt xích quan trọng trong hệ thống chính trị: Đội, Đoàn,
Đảng. Đội cùng nhà trường thực hiện mục tiêu và nguyên lý giáo dục của Đảng.
Để thực hiện tốt vai trò này, trong công tác xây dựng Đội và giáo dục thiếu nhi
phải đảm bảo sự lãnh đạo của cấp Ủy Đảng.
21
1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của công tác Đội.
Điều lệ Đội TNTP Hồ Chí Minh được Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hành
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa VIII, thông qua ngày 25/7/2003, đã
xác định mục tiêu như sau: “Đội TNTP Hồ Chí Minh lấy 5 điều Bác Hồ dạy
thiếu niên, nhi đồng làm mục tiêu phấn đấu rèn luyện cho Đội TNTP Hồ Chí
Minh, giúp đỡ thiếu nhi trong học tập, hoạt động, vui chơi, thực hiện quyền và
bổn phận theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em.
Mục tiêu hoạt động của Đội luôn bám sát mục tiêu giáo dục và đào tạo
con người mới XHCN của Đảng ta. Mục tiêu hoạt động của Đội thống nhất với
mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông. Điều 27, khoản 1, Luật Giáo dục
năm 2005 nêu rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển
giáo dục trẻ em có nghĩa là các em đã từng bước trưởng thành trong quá trình
phấn đấu và rèn luyện của mình.
- Nhiệm vụ thứ tư: Các tập thể Đội và đội viên phải thực hiện nhiệm vụ
giúp đỡ nhi đồng thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy, xứng đáng là con ngoan, trò
giỏi, bạn tốt và trở thành đội viên Đội TNTP Hồ Chí Minh. Đây chính là trách
nhiệm của Đội và đội viên với tổ chức của mình trong việc tạo điều kiện để Đội
phát triển về số lượng, chất lượng đồng thời cũng thể hiện tình cảm và trách
nhiệm trong quá trình chăm lo xây dựng lực lượng hậu bị của Đội TNTP Hồ
Chí Minh.
- Nhiệm vụ thứ năm: Các tập thể Đội TNTP Hồ Chí Minh và đội viên
phải thực hiện nhiệm vụ đoan kết, hợp tác với các tổ chức, phong trào thiếu nhi
khu vực và thế giới vì quyền lợi của trẻ em, vì hòa bình hạnh phúc của các dân
tộc. Thực hiện nhiệm vụ này chính là góp phần thực hiện đường lối đối ngoại
của Đảng và Nhà nước ta trong quan hệ quốc tế hiện nay: “Việt Nam sẵn sàng
là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa
bình, độc lập và phát triển”.
Năm nhiệm vụ trên của các tập thể Đội và đội viên có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau trong việc thực hiện mục tiêu của Đội.
1.4. Quản lý phát triển đội ngũ Giáo viên Tổng phụ trách Đội
23
Theo Thông tư số 23/TTLN ngày 15 tháng 01 năm 1996 của Liên ngành
Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Tài chính -
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về việc hướng dẫn chế độ công tác phụ
cấp trách nhiệm đối với giáo viên làm Tổng phụ trách Đội TNTP Hồ Chí Minh
trong trường phổ thông thì: Giáo viên các trường có độ tuổi từ 18 đến 35, có đủ
các tiêu chuẩn sau đây thì được tuyển chọn đề cử làm Tổng phụ trách Đội trong
các trường phổ thông:
- Có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu (nếu còn trong độ tuổi phát triển
đoàn viên thì phải là đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh).
- Có nhiệt tình và năng khiếu về tổ chức hoạt động xã hội, hiểu biết Đoàn,
quyện với nhau trở thành bản lĩnh chính trị và được thể hiện thành lập trường
chính trị vững vàng. Và lập trường đó thể hiện thực tế, trong hành động, chứ
không phải chỉ trên lời nói. Với GV TPT Đội, văn hóa chính trị đã ngấm sâu trở
thành máu thịt để có thể gắn kết ba khâu nghĩ - nói - làm, đó chính là nghĩ đúng,
nói trúng và tổ chức các hoạt động giáo dục của Đội có hiệu quả. Nếu đạt được
những yêu cầu nói trên thì vị trí của GV TPT Đội càng được khẳng định như
người đứng đầu của tổ chức Đoàn - Đội - tổ chức của những người cộng sản trẻ
tuổi trong nhà trường phổ thông.
- Bốn là: GV TPT Đội đóng vai trò của một nhà tổ chức. Nếu như kỹ
năng là tổng hợp của các thao tác đã được quy trình hóa, thì GV TPT Đội đương
nhiên phải là một người đạt đến trình độ thông thạo về kỹ năng. Khái quát lại có
thể kể đến kỹ năng nói trước công chúng, kỹ năng soạn thảo các văn bản và kỹ
năng tổ chức các hoạt động thiếu nhi.
Hoạt động thiếu nhi, hoạt động Đội rất phong phú, đa dạng như: cắm trại,
du khảo dã ngoại, tham quan, hội thi, hội thảo, hội diễn, diễn truyện, trò chơi,
văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, cũng như các hình thức vui chơi giải trí, học
mà chơi chơi mà học khác. Với vai trò của một nhà tổ chức, đội ngũ GV TPT
Đội được Nhà nước sắp xếp vào bộ máy quản lý của các trường phổ thông theo
quyết định 305/QĐ - BGD&ĐT ngày 26 tháng 3 năm 1986 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo.
25